Tuesday, February 25, 2014

Hiểm Họa Cạn Kiệt Tài Nguyên và Ô Nhiễm Môi Trường Của Đất Nước

Phạm Phan Long

Dẫn Nhập

Lãnh thổ Việt Nam trải dài lên nhiều cao độ và vĩ tuyến, tạo hóa đã ban cho dân tộc một hệ sinh thái đa dạng và nhiều kho tàng tích sinh học hiếm quý. Chiến tranh đã hủy hoại đất nươc và đày đọa nhiều thế hệ. Ngày nay, để phát triển kinh tế trong hòa bình, lâm sản, khoáng sản và thủy sản đang bị khai thác cạn kiệt nhanh chóng và nạn ô nhiễm đã lan tràn ra rừng núi sông hồ đất đai dươi các áp lực nặng nề: Một là do dân số tăng lên, hai là chính sách triệt để khai thác tài nguyên để xuất cảng [hầu cân bằng chi thu để thỏa mãn điều kiện ngoại viện và tài trợ], ba là thiếu kỹ thuật, bốn là thiếu cơ sở pháp lý và quản lý đủ khả năng và thẩm quyền. Trong khi đó, không phải chỉ có nền kinh tế là lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên này thôi, mà 80% dân số trong nước là sống ở thôn quê, họ cũng phải dựa vào cùng kho tài nguyên thiên nhiên đó làm chốn sinh tồn.

Khai thác đã lấn lên rừng già làm than lấy gỗ, phá xuống rừng tràm lấy chỗ nuôi tôm, lên cao xẻ núi lấy đá, đào sâu tìm giếng, khai mỏ, hút dầu, và hàng ngày hàng triệu mét khối nước thải và chất thải đang chảy thẳng vào sông hồ kinh rạch không hề xử lý. Thậm chí còn thấy rác rưởi để ứ đọng ngay trong các thành phố chật chội đông đúc, và những trận lụt lội theo sau mang các nguồn bệnh tật trải rộng khắp nơi.

Lê Huy Bá, Nguyễn Đức An, Lâm Minh Triết đã tường trình về các tình trạng báo động gần như toàn diện: Đất đai đang bị đá ong hóa tại nhiều nơi, 15% diện tích đất miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã thành "vùng đất chết". Rừng che phủ vốn có trên 45%, nay đã sa sút xuống chỉ còn có 23% diện tích. Rừng ngập mặn nay chỉ còn 70% diện tích. Trong thành phố ô nhiễm không khí SO2 lên 2 tới 10 lần, bụi bặm lên 20 tới 60 lần mức độ cho phép. Giếng UNICEF phải đào sâu đến 70 mét cũng chỉ có 15% là nước dùng được. Rồi có khi chỉ 6 tháng sau cũng bị phèn hóa. Hàm lượng ô nhiễm trong nước ở miền Nam (vựa lúa) gấp 2-10 lần, có khi 50 lần chỉ tiêu của World Health Organization. Việc đào giếng cẩu thả còn gây ô nhiễm những nguồn nước ngầm còn tốt khác. Thành phố HCM có 550.000 m3/ngày nước thải từ gia cư và 650.000 đến 1.000.000 m3/ngày nước thải từ công nghệ.[1,2,3] Mai Thanh Truyết cũng đã nhận định: Ô nhiễm nước rất nguy hiểm, ở miền Nam nước ngầm nằm không sâu, ô nhiễm rất dễ xâm nhập và gây ra bệnh tật; đặc biệt ô nhiễm nitrate trong nước gây ra bởi con người lẫn thiên nhiên có hiểm họa tử vong cho thai nhi và sơ sinh cần phải đối phó cấp bách vì đã lên đến 80 mg/L, gần gấp hai mực độ an toàn (45 mg/L).[4]

Bối cảnh xã hội hiện nay thể hiện ra tính cách khinh rẻ tài nguyên, hủy hoại môi sinh và phó mặc cho các mầm bệnh tật gieo rắc trên toàn bộ hệ sinh thái.Thế hệ này đang ăn cạn đi kho thóc giống, đi vệ sinh cả vào miệng giếng, bỏ lại cho các thế hệ sau một lãnh thổ mang các vấn nạn môi sinh trầm kha đầy tắc trách. Sự tồn tại của toàn bộ tài nguyên đất nươc, và sự lành mạnh của cả dân tộc trước thềm Thế Kỷ 21 phải là điều thao thức trong tâm tư của mọi ngườị

Việt Nam cần phải thực hiện ngay các biện pháp phòng ngừa và chế giảm các tác hại môi sinh trong mọi chương trình phát triển ngắn lẫn dài hạn. Việc lựa chọn một đường hướng kinh tế chính trị khả dĩ bảo đảm sự bền vững tương lai cho môi sinh đất nước, cũng như nếp sống người dân, phải được cân bằng, và đem lên hàng đầu bàn thảo công khai cả nươc. Đã đến lúc phải huy động một Hội Nghị Diên Hồng về Tài Nguyên và Môi Sinh để cứu lấy đất nước nàỵ

Áp Lực Dân Số và Ngộ Nhận

Dân số Việt Nam tăng 1.71% mỗi năm. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 65.7 tuổi. Tỷ lệ sinh sản là cả nước là 3.21 con/mỗi người mẹ. Đổ đồng, mỗi người có 0,13 ha đất, ở hàng thấp nhất thế giới. Miền Bắc còn tệ hơn, chỉ có 0,06 ha đất cho mỗi đầu người. Theo thống kê Việt Nam, tỉ số dân biết chữ và tuổi thọ trung bình cao hơn trong các nước có ngang Tổng Sản Lượng Quốc Gia (GNP). [5] Tin vui bày thực ra không phải là niềm hãnh diện trọn vẹn: Nếu dân ta sống lâu hơn, khoẻ mạnh hơn, biết nhiều chữ hơn, thử hỏi sao ta lại không nuôi nổi mình mà vẫn phải chịu cảnh nghèo đói ngang hàng với các dân tộc nghèo nhất thế giới như vậy.

Sự Chênh Lệch Giữa Nông Thôn Và Thành Thị

Chặng đường đầu tiên của sự thay đổi kinh tế tại Việt Nam là kế hoạch Đổi Mới. Sự giải thể cơ chế tập thể hóa đã mang lại một số thành công cho nền kinh tế nông nghiệp. Nhưng chênh lệch giữa nông thôn và thành thị đã trở thành một quốc nạn nổi bật. Đại đa số dân còn sống dưới mức nghèo đói, từ khi có Đổi Mới mức chênh lệch về lợi tức tăng lại nhanh. Sự thiếu hụt thực phẩm ở những vùng nông thôn tiêu biểu kéo dài đến sáu tháng trong một năm. Theo nhận định của Japan International Cooperation Agency (JICA), vấn đề to tát nhất trong việc phát triển nông nghiệp Việt Nam là sự thiếu ổn định trong việc cung cấp thực phẩm, và sự nghèo nàn tận tuyệt của nền kinh tế nông thôn, cộng thêm nạn thất nghiệp đang tăng cao.

Từ việc quá khác biệt về lợi tức, Việt Nam phải đối đầu vơi những nguy hiểm sắp tới của việc phát triển đô thị bừa bãi. Nông dân khi hết đường xoay sở phải tìm vào thành phố kiếm sống. Robin Broad đã tóm tắt: "Nếu khoáng sản của bạn đang bị tiêu hao, rừng của bạn đang bị chặt đốn, đất đai của bạn đang bị hao mòn, hải sản của bạn bị người khác đánh bắt, bạn còn con đường nào để đi nữa ?"

Theo tài liệu cuả Ngân Hàng Thế Giới: "Nếu dân số đô thị gia tăng như kế hoạch dự trù 5 đến 7 phần trăm một năm, thì trong năm 2000 dân số ở đô thị từ 21 sẽ lên đến 24 triệụ Trường hợp này sẽ không có cách nào cáng đáng được ... bằng những khu nhà ổ chuột và cư ngụ chật hẹp, và không tránh khỏi những vấn nạn xử lý rác và chất thải không tránh né nổi". Mặc dù có những cảnh cáo thảm khốc này, chính đại diện Ngân Hàng đã công nhận rằng "trên thực tế", những kế hoạch cho mượn tiền và chỉ đạo của cơ quan FDI lại tương đương với một chiến lược đô thị hóa do chính Ngân Hàng Thế Giơi yểm trợ.

Gía Trị Của Đầu Tư Trực Tiếp Từ Ngoại Quốc (FDI)

Kể từ khi Đổi Mới, hàng chục tỉ Mỹ kim Foreign Direct Investment (FDI) đã được đầu tư vào Việt Nam. Nhưng số nhân công tìm được việc làm nhờ FDI rất đáng thất vọng. Chỉ dùng có 70,000, hay 0.02% trên tổng số nhân công. Theo IMF, đầu tư vào nông thôn chỉ được 20%, nhưng lại có hơn 80 phần trăm dân số. [5] Luật Đầu Tư Nước Ngoài được Citibank cho là một trong những luật đầu tư rộng rãi nhất ở Đông Nam Á Châu. Nhiều công ty đa quốc (Multinational Corporation MNC) đã bị hấp dẫn đến Việt Nam nhưng không góp phần vào việc phát triển lâu dàị MNC đã vào Việt Nam vì nhân công và chi phí bảo vệ môi sinh còn thấp rẻ. Đổ dồn FDI - ạt vào một nơi nghèo khó đã quá lâu như Việt Nam có khả năng tiêu diệt ý chí tự chế, tự sinh tự tồn, đè bẹp sức đề kháng mong manh của môi sinh, và ! cơ hội để quyền lực và tư bản kết hợp vô kìm hãm. Trong "Blueprint for a Banana Republic", Sixto Roxas phát biểu, "theo chiến thuật dựng lên những khu công nghiệp bất động sản và những khu chế xuất, đất nươc đang gạt nhân dân nông thôn ra ngoài lề tạo nên những lãnh địa dân cư nghèo khổ và bần cùng ..."

Việt Nam phải thay đổi chiến lược đầu tư để thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn và lập ra những tổ hợp trung và tiểu thương để nền kinh tế tốt đẹp thay vì để kinh tế kiệt quệ dần đi kèm theo nạn di dân vào đô thị như hiện naỵ Chiến lược phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam đòi hỏi phải phát triển kinh tế ở những vùng đông dân sinh sống. Phải thật sự cố gắng tập trung phát triển nông thôn và làm họ dễ dàng có sinh kế.

Ảnh Hưởng Những Nguồn Cho Vay

Theo phúc trình chính thức từ World Bank: "Mục tiêu lâu dài của Ngân Hàng ở Việt Nam là thúc đẩy phát huy các phát triển bền vững để nhanh chóng xoá bỏ nghèo nàn." Ngân Hàng hiện có những dự án chấn chỉnh cơ cấu (Structural Adjustment Credits, SAC). Qũy Tiền Tệ Quốc Tế, IMF cũng đã uỷ thác 535 triệu Mỹ kim qua cơ quan Enhanced Structural Adjustment Facility, ESAF vào Việt Nam. Các chương trình này sẽ cấp tài trợ với điều kiện phải có cải tổ chính sách quản lý xã hội và cắt giảm chi phí. Những chính sách cắt giảm phí tổn của chính phủ tuy không được công bố ra, nhưng hiện nay người sử dụng dịch vụ y tế và giáo dục đều đã bị đánh lệ phí. Quan điểm khó hiểu của Ngân Hàng là lệ phí này để "giúp người nghèo", tăng dịch vụ căn bản với ngân quỹ cắt giảm, và hạn chế lại nền giáo dục cao cấp. Nhưng bây giờ, những gia đình nghèo nhất không cho con đi học được nữa. Con gái sẽ phải chịu thiệt thòi vì con trai mới ưu tiên được học lên cao.

Một viên chức đại diện World Bank nói "Tôi là một nhà kinh tế vĩ mô, tôi thật sự không biết về những vấn đề ngoài lãnh vực kinh tế nàỵ" Dựa theo mô hình mà những kinh tế gia của World Bank tại Vietnam Country Desk sử dụng, môi sinh đã không có giá trị kinh tế. Mặc dù World Bank đã có rất nhiều pho tài liệu phân tích về môi trường và những khuyến cáo phát triển bền vững, sự thiếu sót nói trên trong cấp điều hành của World Bank có thể coi là điều cần báo động vì họ đã không chú ý đến tệ nạn cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi sinh. World Bank đã nhấn mạnh rằng Việt nam phải tiếp tục đầu tư có hiệu quả và phát triển tối đa. Do đó, tài trợ của Ngân Hàng tùy thuộc vào việc Việt Nam tiếp tục theo đuổi tiến trình tăng trưởng dựa vào xuất cảng mà World Bank nhiệt liệt
tán thành.[5]

Những Vấn Đề Môi Sinh và Nền Kinh Tế Xuất Cảng Dựa Vào Tài Nguyên Thiên Nhiên

Phá rừng có thể là đe dọa lơn nhất về môi trường và sự phát triển của Việt Nam. Rừng vùng Tây Bắc đã có thời Tố Hữu coi là "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù" nay chỉ còn có 13.3% mà thôi. [1] Hiện tại, 9.3 triệu hecta được phân loại như rừng (kể luôn những đồn điền), chỉ 1.4 triệu hecta được xem như rừng che kín. Diện tích rừng bị mất đi ước tính là khoảng 200,000 hecta, 50 phần trăm bị khai thác làm gỗ đốt, 25 phần trăm bị khai phá dùng làm đất nông nghiệp, và 25 phần trăm bị cháỵ[5]

Phá rừng làm mất đi khả năng hút và giữ nước của Cao nguyên, thất thoát một trữ lượng nước lớn, và để lũ cuốn gây lụt lội. Hiện tượng xoáy lở và lụt lội đã tàn phá những vùng đất nông nghiệp thấp của Việt Nam, kể cả giảm sút tổng sản lượng gạọ Những đồng lúa, rừng đước, và công nghiệp cá ven biển bị hủy hoại. Có khoảng 365 loài thú có cơ nguy diệt chủng đang sống trong rừng bao gồm rùa Javan Rhinoceros, voi Á Châu và cọp. Theo thống kê của Government's Biodiversity Action Plan, " Việt Nam, 28 phần trăm là động vật có vú, 10 phần trăm là chim, và 21 phần trăm là loài bò sát và lưỡng cư phải đối đầu với nạn diệt chủng." Từ năm 1970 đến 1994, số lượng cọp từ 3000 xuống khoảng 200 con, và tê giác từ 300 xuống còn 25 con. Viên chức của United Nations Development Program, Rob Morey phát biểu rằng, "Nếu như đà phá rừng này cứ tiếp tục nữa, trong tương lai sẽ hoàn toàn không còn rừng để che phủ môi sinh trong năm 2020." [5]

Vài công ty nước ngoài đã đầu tư những qui trình sản xuất bột giấy và ván ép vào Việt Nam. Nước ngoài làm chủ 100% từ việc độc canh cây khuynh diệp (bạch đàn) đến việc thu hoạch cho sản phẩm giấy. Nông nghiệp đặc trưng được gieo trở lại với những giống ngoại lai như khuynh diệp và cây keo. Những giống cây này hút rất nhiều nước làm mực nước ngầm phải rút xuống sâu, mặt đất hóa cằn cỗi và không tạo được môi trường sống cho chủng loại động vật đa dạng. Rừng công nghiệp cho kết quả nhanh, ba năm đã có gỗ, nhưng không có khả năng che phủ tốt, tiêu thụ đi quá nhiều nươc, diệt hại các thảo mộc và làm giảm thu hoạch nông phẩm sinh sống của địa phương.

Quyền Sở Hữu Đất Đai

Nạn phá rừng ở Việt Nam là một trường hợp cổ điển: Nhà nước làm chủ tất cả đất đai nên không có động lực thúc đẩy cá nhân giữ gìn tài sản công cộng. Quyền sở hữu là điều kiện cần thiết để nền kinh tế lâm nghiệp trở nên bền vững. Luật lệ về đất đai thừa nhận quyền sở hữu, những giới chức cấp tỉnh lại có quyền phân phối, sử dụng và tịch thu đất đai. Điều này có lợi thế cho các kế hoạch nông nghiệp thương mại và hại cho sinh kế của người thiểu số. Sắc lệnh về rừng chỉ định vùng được bảo vệ hay được quản lý với quyền khai thác. Tại các vùng "đất trơ cằn", chính phủ trợ cấp để gây rừng, nhưng phần lớn dân cư không tham gia.

Sự thiếu minh bạch trong việc phân định quyền sở hữu đất đai dẫn đến một trường hợp không gìn giữ đất và vấn nạn khai thác ngắn hạn "ăn xổi ở thì". Việc kiểm tra tài nguyên và đất đai phải được giao cho cộng đồng địa phương quản lý và giao cho người dân và gia đình họ chăm sóc lâu dà i. Chính phủ nên cho phép chính dân địa phương không phải chính quyền địa phương mà thôi] có tiếng nói và quyền quyết định phát triển và sử dụng đất đai của họ. Khi nào người dân hành động do thôi thúc của quyền lợi chính họ, chính quyền sẽ bớt hẳn đi mối quan tâm kiểm soát, phát triển mới tự nhiên, bền vững và đối tác giữa thiên nhiên và loài người mới lên tơi mức tối ưu.

Chính Sách Di Dân Định Cư Du Mục

Sau năm 1975, Chính Quyền Việt Nam bắt đầu kế hoạch di dân cấp lớn lên những vùng cao nguyên để giảm mật độ dân số ở miền Bắc, ổn định địa hình chính trị và an ninh. Chính quyền Việt Nam đã huy động 4.8 triệu người Kinh đồng bằng di dân lên những "vùng kinh tế mới", tại trung nguyên và cao nguyên. Theo Rainforest Action Network, kế hoạch di dân vào tỉnh Đắc Lắc đã ảnh hưởng đến môi trường đặc biệt nghiêm trọng. Chính quyền dự định di chuyển trên 1 triệu người đến lập nghiệp ở khu biên giới Cambodia, khai phá rừng sâu, trồng trọt nông sản như tiêu, cà phê, và cao su. Những kế hoạch này đã làm tăng áp lực khai khẩn trên những khu vùng cao và đẩy những dân tộc thiểu số ra ngoài lề. Ba phần tư rừng bị phá hủy có thể qui trách vào chính sách di dân ở những khu vực nàỵ [5] !
Chính sách này không những gay gắt trên những vùng môi sinh vốn mong manh nhất của đất nươc và còn gây ra các vấn đề xã hội chính trị phức tạp.

Nông Nghiệp Du Canh

Nông nghiệp du canh của dân tộc thiểu số là phương pháp làm ăn nhỏ, đốn và đốt để dọn dẹp những miếng đất nhỏ trong rừng để canh tác. Trước khi bỏ đi nơi khác du canh họ dọn dẹp lại rồi để nguyên cho đất phục hồi. Theo truyền thống, những miếng đất này rất nhỏ so với diện tích mênh mông của rừng, do đó nông nghiệp cổ truyền không phá hoại rừng mà lại vững chắc nhờ cho đất được để cho phục hồi trở lại. Edward Goldsmith ghi chú, "Quả thật, rừng còn tồn tại cho đến ngày hôm nay là một sự thành công kỳ diệu của hệ thống du canh cổ truyền trên vài thế kỷ". Người Cao nguyên trồng trọt theo cách này bây giờ là việc khó khăn vì họ không còn chỗ du canh khi rừng bị người di dân định cư lên chiếm đóng."

Khi di dân lên thăm dò để lùng tìm các vùng đất canh tác mới thường lầm lẫn cho những mảnh đất tạm nằm hoang đó là không có chủ hay không ai canh tác. Có khi biết đất đang tạm bỏ hoang nhưng quyền sử dụng cố hữu của người du canh không được nhìn nhận.[5]

Thủy Điện

Để đáp ứng nhu cầu điện năng của công nghiệp, năm 2020 sẽ là 100 tỉ kwh. Hiện tại khả năng sản suất điện năng cuả Việt Nam là khoảng 14.5 tỉ kwh mỗi năm. Hiện công suất điện năng đang đã có là 5,000 MW, sẽ cần tăng lên 14,000 MW trong năm 2010. [6] Do đó, việc gia tăng điện năng đang được theo đuổi bằng các đập thủy điện, lò than đốt, khí đốt và ngay cả những lò hạt nhân. Những đập thủy điện đã có các tác hại nặng nề trên các cánh rừng tại Việt Nam. Thủy điện là nguồn năng lượng chính yếu mà Việt Nam muốn khai thác thêm nhiều.

Thủy điện tuy không nhả khói tỏa nhiệt ra trời và không có các ống khói cao vút như nhiệt điện nhưng không nhất thiết là nguồn điện năng có hiệu suất cao, giá thành rẻ và trong lành cho loài người; và kỷ nguyên xây đập đã cáo chung tại các quốc gia tân tiến. [7] Dù thế, hơn một tá dự án thủy điện đã được đề bạt ra tại Việt Nam. Dự án mới và gây nhiều tranh luận nhất là Sơn La, còn gọi là đập Ta Bu, ươc tính sẽ phí tổn tơi 3,5 tỉ USD, với công suất 3.600 Megawatts và 17 tỉ kwh năng lượng. Đập Sơn La lớn gấp đôi đập Hoà Bình, Hoà Bình vốn đã là con đập lớn nhất Đông Nam Á. Bể chứa nước cho đập Sơn La sẽ làm ngập hầu hết các cánh đồng lúa trên Lai châu và Sơn La, phải tản cư ít nhất 70.000 người sắc tộc, và gây tác động đến sinh kế của 110.000 người trên t!
hượng nguồn. [8] Rút kinh nghiệm từ Hoà Bình, đa số người phải di tản không phải là người Kinh mà là sắc tộc thiểu số. Kế hoạch tản cư của Hoà Bình đã đền bù trung bình chỉ có 500 mét vuông cho mỗi gia đình. Ngay trong cuộc chiến chống Pháp, tuyên truyền chống chế độ thuộc địa đã nhấn mạnh là gia đình nông dân nghèo cũng cần đến 1000 mét vuông mơi tạm sống nổi. Vốn vẫn canh tác trên đất ẩm màu mỡ, người bị tản cư nay phải gỡ đất trồng cấy bên sườn núi khô cằn và độ dốc cao quanh bể chứa, nạn lở xoáy đất lan rộng và họ không thể nào tái lập kế sinh tồn.

Philip Hirsch ghi nhận "Phần lớn số người phải tản cư vì bể chứa phải chịu điều bất công là họ cũng chẳng được hưởng ánh đèn thắp sáng hay phúc lợi gì khác từ con đập". Công trình Hoà Bình đã giúp phần nào việc chống lũ lụt, nhưng chính nó lại cản phù sa cần thiết trong việc canh tác hạ lưu, làm nhu cầu dẫn thủy và phân bón hóa học tăng lên, thu hoạch ngư dân giảm xuống. Sự soi mòn thượng nguồn và ven bể chứa đã tăng số lượng trầm tích khiến thời gian hữu dụng của Hoà Bình phải giảm từ 300 năm xuống dưới 100 năm [9]. Dự án Hoà Bình sử dụng mất 70% tổng số lượng gỗ sản suất lón lao ngay ở vùng đã mất đi quá nhiều rừng.

Ồn Định Môi Sinh và Tăng Trưởng Kinh Tế Tại Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia vừa hết chiến tranh, đã bị phơi mình dươi hàng ngàn tấn hóa chất độc hại, nay lại phải đối phó trươc mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế, và cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi sinh, và tranh chấp quyền lợi và quyền lực gay gắt trong nội bộ. Bài học nhà máy than đá Quảng Ninh bị đóng cửa khi vừa xây xong là một điển hình.[10] Người Việt nói chung hiện không bận tâm nhiều đến số lượng tài nguyên cần phải dự trữ hay việc bảo vệ môi trường chung. Vơi dân số tăng nhanh, tài nguyên cạn hiếm dần, và sự khai thác sẽ càng thêm khốc liệt trên nguồn tài nguyên còn sót lạị

Làm sao để bảo toàn kho tài nguyên đất nươc và môi sinh lành mạnh mãi cho các đời sau vơi khả năng kỹ thuật hạn hẹp của mình? Chi phí bảo vệ tài nguyên môi trường lấy ở đâu rả Không phải tìm ở đâu xa, mà ở những nguồn đang thụ hưởng mà người dân nào trong nươc cũng thấy ngay trươc mắt, ở ngay các xí nghiệp đang ngang nhiên thải độc hàng giờ thẳng ra môi trường, ở những khoản phung phí nhập cảng hàng xa xỉ tiêu dùng [gánh nặng cho cán cân mậu dịch mà chỉ giúp tăng trưởng kinh tế các nươc ngoài].

Lấy đâu ra điện năng đáp ứng cho kịp mức tiêu thụ nếu không tiếp tục trực tiếp khai thác môi trường xây thêm nhà máỷ Bằng tận lực bảo toàn, tránh lãng phí, bằng thiết bị hiệu quả cao, và quản lý nhu cầu tiêu thụ lẫn thất thoát. Nươc Mỹ nhờ đó đã giảm tiêu thụ năng lượng quân bình đi 25-50% trong khi nền kinh tế vẫn phát triển. Tại Việt Nam tiềm năng này còn cao hơn thế nữạ

Tìm đâu ra chuyên viên kinh nghiệm để giao phó trọng trách này? Hiện đã có nhiều, đang ở trong nước, và ngay trong các viện khoa học và cơ quan môi trường. Chuyên viên ở đâu cũng cần được huấn luyện, học kinh nghiệm và dụng cụ để thi hành trọng trách họ. Nhưng gánh nặng trên vai họ sẽ thành nhẹ đi rất nhiều nếu họ được sự hậu thuẫn triệt để nhiệt thành và quyết liệt của pháp luật ngay từ thượng đỉnh. Khi đó, giới đầu tư không còn lý do để nghi ngờ lòng cương quyết bảo vệ tài nguyên và môi sinh của đất nước. Khi đó, mánh mung và lèo lách không còn là con đường pháp lý hiệu quả nhất và ít tốn kém nhất. Khi đó, các chuyên viên vốn có lòng sẽ xả thân đem hết chân tài của mình ra phục vụ. Những nguồn đầu tư đứng đắn lâu dài sẽ tìm đến thay thế những đối tác ngắn hạn thu mau. Khi đó, cả tình trạng môi trường lẫn công lý xã hội sẽ lành mạnh vươn lên trở lại.
Dân tộc Việt đã giữ cõi bờ bằng lòng hy sinh suốt cả lịch sử, ngày nay vẫn không thiếu những người dân đang hy sinh như thế, nhưng sự hy sinh lịch sử cần thiết lần này không phải là của người dân, không phải của trí thức chuyên viên, mà là của những người cầm quyền có lương tâm và ý thức.

Tài Liệu Tham Khảo:

[1] Lê Huy Bá & Nguyễn Đức An, Quản Trị
Môi Trường Nông Ngư Nghiệp, 1996
[2] Lê Huy Bá, Môi Trường, 1997.
[3] Lâm Minh Triết, Khảo Sát Ô Nhiễm Công Nghiệp TPHCM, 1994.
[4] Mai Thanh Truyết, Ô Nhiễm Nước & Vấn Đề Môi Sinh ở Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đại Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam, Analheim, CA 1997.
[5] Sandy Buffettd Viet Nam's Development Path & Implications for Natural Resource Degradation, American University 1996.
[6] Reuters, Hanoi, October 17.
[7] Phạm Phan Long, Kế Hoạch Khai Thác Sông Mekong
Đại Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam, Anaheim, CA 1997.
[8] Patrick McCully, Silenced Rivers, The Ecology and Politics
of Large Dams, 1966
[9] Phillip Hirsch et. al., Politics of Environment in South East Asia, 1998
[10] Bach Tan Sinh, Environmental Policy and Conflicting Interests
at Quảng Ninh, The Politics of Environment in Southeast Asia, 1998

No comments:

Post a Comment