Tuesday, February 25, 2014

Bụi Phấn Giảng Đường

Tùy Bút

Hôm nay tôi đến trường sớm, phải nói là quá sớm so với thường lệ. Giảng đường đông đúc chật chội những ngày tôi đi trễ, giờ vắng lặng không người. Ngồi trước những dãy bàn trống trải tưởng tư(r)ng cảnh sinh viên tràn vào các cửa phòng khi giảng sư đến lớp, tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của ai đó, mà ngày xưa khi làm báo bọn con gái lớp tôi đã ngâm nga lấy làm bài tựa:

"Tôi khoanh tay trước dãy bàn ghế quen
Sáng ngày mai ngày hiến chương nhà giáo
Một thưở học trò, một thời tôi ngỗ ngáo
Năm tháng qua đi, tôi còn lại những gì ..."

Và bây giờ, những gì tôi còn lại sau mười mấy năm mài ghế nhà trường, là một khối kiến thức nho nhỏ nhưng vững chắc để tôi ra tiếp xúc với đời.

Ngày xưa, mỗi năm ở quê nhà đều có ngày thầy cô giáo, chứ còn ở bên cái xứ Tây phương này, chẳng những không có ngày nhà giáo, mà hình như cũng chả có ai nghĩ đến chuyện bày tỏ lòng biết ơn thầy cô đã dạy dỗ mình. Nhà giáo xứ này cũng chỉ là một cái nghề, như cô bán hàng ngoài phố, hay anh thợ máy, một cái nghề mà có trách nhiệm là phải lên lớp mỗi ngày, thế thôi!

Trong mấy năm cắp sách đến trường, tôi không hề thấy một cô cậu học trò nào tặng một món quà gì cho thầy cô giáo. Mấy đứa em tôi đi học từ lớp một cho đến khi vào đại học, tôi cũng không tìm thấy bài giảng nào trong sách vở của chúng dạy học trò biết tỏ lòng kính trọng và biết ơn thầy cô cả.

Lúc còn ở Việt Nam, năm tôi học lớp 11, để định nghĩa về cái nghề nhà giáo, thầy dạy Anh Văn tôi có từng ví dụ thầy cô như những người chèo thuyền đưa khách qua sông, còn học sinh như những người khách đi đò, cần phải lên thuyền mới qua sông được, nhưng khi tới bờ rồi, lại lạnh lùng bỏ đi không bao giờ trở lại, có khi quên luôn cả một lời cám ơn, chỉ còn lại người chèo thuyền, vẫn mỗi ngày đưa khách qua sông.

Ngày xưa khi còn bé, tôi sợ thầy cô lắm, sợ bị mắng, bị phạt, bị đòn, sợ đủ thứ. Những ngày học tiểu học, thấy thầy cô xa xa là tôi đã vội lánh qua đường khác mất. Dù vậy, các thầy cô ai cũng thương tôi lắm!

Lên lớp năm, năm cuối cùng của tiểu học, lần đầu tiên trong đời tôi có một thầy chủ nhiệm. Thầy là người đầu tiên đã giới thiệu với tôi cái thế giới muôn màu của văn học. Lũ trẻ chúng tôi đã tròn xoe mắt nghe thầy đọc những mẩu văn hay, những câu thơ tuyệt tác mà thầy sưu tầm được. Cùng với giọng đọc trầm ấm của thầy, tôi đã vẽ ra được hình ảnh cô công chúa xinh đẹp nằm nghỉ trưa trên chiếc gác son, tưởng tượng đến những cô thôn nữ gặt lúa với tiếng hò giữa trưa thật dòn, và những chú ve kêu ỉ ôi trên cây phượng vĩ mỗi mùa hè đến... Từ đó, một tên vốn dốt văn chương nhất nhì trong lớp như tôi cũng mò lên được vào mười hạng đầu trong lớp.

Thầy dạy chúng tôi với một lối học cởi mở, sinh động, không như những cách bảo thủ mà chúng tôi đã từng học trước kia. Những cuộc thi toán đố vui giữa các nhóm trong giờ học đã làm chúng tôi siêng năng học hành hơn, những cuộc thi thử đã nâng trình độ của chúng tôi lên rõ rệt. Lần đầu tiên tôi mang phiếu điểm về nhà với cái hạng nhất, tôi đã mừng tới rơi nước mắt.

Thầy dạy chúng tôi từng li từng tý, từ bài học giảng văn, khoa học cho tới cách làm người. Thầy không những dạy chúng tôi hiếu thảo vớ cha mẹ, kính trọng thầy cô, mà còn phải biết yêu thương bạn bè. Tình thầy trò của chúng tôi sâu đậm hơn, và đám học trò lớp tôi cũng thân nhau hơn rất nhiều. Thầy còn theo sát hoàn cảnh của mỗi đứa tôi, nào là nhỏ Nguyên học giỏi nhưng mê học quá quên đi những sinh hoạt khác, hay là anh chàng Trí lúc nào cũng láu táu và lười học nhưng thật ra lại rất thông minh, Phúc với cá tính lầm lì, ít nói nhưng rất siêng năng. Và cả tôi, con bé duy nhất lúc nào cũng mặc váy đi học rất ư là con gái nhưng thuộc vào loại ngổ nghịch nhất lớp, và nhất là không bao giờ đi học thèm chải đầu (Phải nhắc tới tôi lúc đó để tóc ngắn như con trai vậy, nên chẳng bao giờ thèm mua kẹp nơ chi phiền phức...)

Buổi liên hoan nào, thầy trò tôi cũng xúm tụm lại cười lăn cười bò với những màn kịch ngắn tự biên tự diễn trong khi các lớp khác đã về hết từ lâu. Có hôm, thầy còn dẫn cả đám bọn tôi đến núi Bửu Long đi cắm trại với các trò chơi hướng đạo la hét đến khản cổ... Những ngày chúng tôi phải ở lại hì hục lau cái sàn lớp sau những trận bão tố thức ăn linh đình, thầy vẫn nhớ đi mua cho mỗi đứa chúng tôi một cái bánh bao ăn cho đỡ mệt. Chúng tôi ngạc nhiên và vui lắm, vì chưa bao giờ chúng tôi được nhận một cái bánh bao từ thầy cô của mình cả.

Năm đó đối với mỗi đứa chúng tôi đều có không biết bao nhiêu là kỷ niệm, bao nhiêu thay đổi. Cuối năm, ngày chúng tôi đi lãnh thưởng, thầy dẫn hết cả bọn đi xem phim. Thật ra là đi chơi cho vui thôi chứ đứa cứ bi bô chuyện này, kẻ lại bi ba chuyện kia thì chuyện phim có ai hiểu cho được. Thế mà thầy tôi mệt đến nỗi ngủ gật ngay cả giữa một rừng loa như thế đó! Đứa nào trong đám chúng tôi cũng thấy thương thầy vô hạn, cũng như thầy thương mỗi đứa chúng tôi vậy. Năm sau, tôi chuyển trường lên lớp mới, thầy đi vượt biên, cả lớp tôi mất liên lạc với thầy từ đó. Và cũng từ đó, cuộc đời học sinh của tôi chuyển qua một bước ngoặt mới, tuy không hoàn toàn chín chắn hơn nhưng trưởng thành hơn trong những nhận xét về xã hội chung quanh mình.

Những năm cấp hai giới thiệu vào cuộc đời tôi cái mâu thuẫn của nghề nhà giáo. Ngay từ những ngày đầu vào trường, chúng tôi đã bị 'thuyết giáó về những kỳ thi cuối cấp. Dùng động từ 'thuyết giáó thật ra cũng chỉ là một cách diễn tả cho sự hăm dọa về sự khó nhọc của những kỳ thi cuối năm cấp hai; đúng hơn là sự 'giáo dục' về hậu quả của những kẻ thất bại, và dĩ nhiên thất bại trong thi cử sẽ ảnh hưởng đến nghề nghiệp trong tương lai. Và nói đến chuyện nghề nghiệp thì không thể nào không ai đề cập đến cái khó khăn của nghề nhà giáo. Ngay cả trong những cuộc thi vào đại học sau này, người ta cũng vẫn thì thào vào tai nhau 'Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, sự phạm bỏ qua...' Và vì bậc phụ huynh nào cũng muốn con mình thành đạt, thầy cô nào cũng muốn học trò mình học giỏi dang, nên phương pháp 'chuẩn bị tâm lý' trước đó cũng không phải không có nguyên nhân của nó. Cuộc thi nào cũng mang đến nhiều áp lực cho học trò, mà đôi khi tăng thêm một tí áp lực cũng là một cách thúc đẩy thêm một tý động lực và vận tốc của những cô cậu học trò, thuộc loại như tôi, 'dài lưng tốn vải, ăn no, lại nằm'.

Trở lại câu chuyện nhà giáo, ngay từ khi chập chững vào đời, chúng tôi đã được làm quen với những cái khổ cực của nhà giáo. Dĩ nhiên bên cái xứ này, không ai có thể hình dung được cái nghèo của nhà giáo Việt Nam, và cũng dĩ nhiên không phải nhà giáo nào ở Việt Nam cũng nghèo. Nghề giáo bên đây tuy có thể lương bổng không được cao như một số nghề khác trong xã hội, và cho dù người ta cứ thấy thầy cô giáo đình công ầm ầm mỗi năm, đồng lương nhà giáo bên xứ này cũng không có thể gọi là thấp được. Nhất là khi ngày xưa tôi đã từng chứng kiến thầy cô tôi phải tranh đấu chật vật với những khó khăn của cuộc sống vật chất với đồng lương nhà giáo. Làm sao có thể phủ nhận được điều này khi chung quanh tôi thực tế đã chứng minh một cách phũ phàng?

Mẹ một cô bạn học chung với tôi năm lớp tám, đã phải từ bỏ nhà trường, từ bỏ bảng đen phấn trắng, những câu ca dao lục bác trong những bài giảng văn, để ra bán bún riêu ở một khu chợ trong vùng Chợ Lớn. Và ba bạn ấy, cũng là một nhà giáo rời bục giảng để vào buôn bán trong một chợ trời xe đạp. Bà đã than thở với tôi 'Đã làm cô giáo bao nhiêu năm, bỏ nghề rồi thì nhớ trường, nhớ lớp vô cùng. Nhưng biết làm sao được! Cô chú còn năm đứa tụi nó phải lo, tiền ăn, tiền học, đủ thứ tiền! Cứ bám vào nghề giáo thì tụi nó biết đi về đâu\?'

Mẹ một cô bạn thân khác, cũng như nhiều thầy cô của tôi đã phải bôn ba vất vả đi dạy thêm sau những giờ ở trường để kiếm thêm tiền chi tiêu cho cuộc sống. Ba bạn tôi mất sớm vì bệnh lao, kết quả của những cơn bụi phấn giảng đường, để lại cho mẹ bạn ấy gồng gánh cả một gia đình, mà nếu chỉ với đồng lương của một cô giáo tiểu học thì một ngày không đủ cho hai bữa ăn no.

Ngay cả một cô giáo dạy toán của tôi trong những năm cấp hai cũng đã phải bày bán hủ tiếu trong căn tin trường để sinh sống. Tôi còn nhớ những năm ấy, mỗi lần có giờ nghỉ, chúng tôi ùa vào ăn uống trong căn tin, tất cả các món đều do các thầy cô trong trường bày bán. Hủ tiếu của cô tôi không đầy đủ chất liệu như những quán bên ngoài trường, nhưng giờ nghỉ nào cũng đông nghẹt học trò, không còn một chỗ trống. Thầy cô loay hoay với những tô hủ tiếu, lũ chúng tôi thân ái với những câu chuyện học trò rôm rả. Chuông reo, chúng tôi trở vào lớp với tập, với bút, thầy cô lại lên lớp giảng bài. Thầy cô tôi có em bé nhỏ, ngay cả với số tiền ít ỏi kiếm thêm từ những tô hủ tiếu, cũng không đủ để thầy cô dọn ra một chỗ ở thoải mái, mà vẫn đành phải ở trong một căn nhà nhỏ cuối sân trường.

Nhưng những khó khăn trắc trở ấy vẫn không ngăn nổi lòng hăng say của cô thầy trên bục giảng, không làm giảm đi những thú vị của các bài giảng trên trường, và cho cùng, cũng không làm chùn bước những cô cậu sinh viên trẻ tuổi bước vào nghề nhà giáo. Tôi ngỡ ngàng trước sự hăng hái của những giảng sinh đến thực tập tại trường. Những thầy cô giáo trẻ này chỉ mới chập chững bước vào nghề cầm phấn, đã đặt hết tâm huyết, nhiệt tình vào từng bài giảng, từng sự tập trung chú ý của chúng tôi. Thầy cô trẻ, trò cũng trẻ nên quen nhau rất nhanh, và cũng dễ dàng gắn bó hơn. Chúng tôi năng động trong những giờ thầy cô lên lớp, mong giúp các thầy cô đạt được điểm thực tập cao, bù lại, các thầy cô dẫn chúng tôi đi cắm trại, đi chơi, dạy chúng tôi hát những bài hát tiếng Anh mà chúng tôi yêu thích. Những lúc ấy, chúng tôi khâm phục và yêu mến thầy cô chúng tôi vô cùng. Riêng tôi, nhà giáo trở thành nghề nghiệp cao quý và có ý nghĩa nhất trong dân gian.

'Lý tưởng nào rồi cũng phải đương đầu với thực tế. Người ta không thể chỉ sống bằng lý tưởng mà còn phải ăn, phải mặc hàng ngày.' Một cô bạn của tôi, về sau này theo bước chân mẹ làm cô giáo tiểu học, đã có lần viết thư tâm sự với tôi như vậy. Những cặp mắt tròn xoe tin tưởng của các cô bé, cậu bé học sinh là động cơ thúc đẩy của cô bạn tôi trên nghiệp 'gõ đầu trẻ', nhưng mỗi khi vừa ra khỏi cổng trường là thực tế chờ đón với những chuyến đi giao nước ngọt giữa nắng trưa Sài Gòn gay gắt. Đã bao năm trôi qua, cô bạn tôi vẫn hăng say với bục giảng, vẫn cặm cụi với từng chai nước ngọt, và vẫn vui vẻ với cuộc sống. Sau bốn năm trời ở cấp hai, tôi từ giã mái trường thân thương, từ giã thầy cô, bạn bè cũ để đến với một mái trường cấp ba xa lạ... Nhờ cái quan niệm cổ hủ hóa của cô hiệu trưởng, vốn có cái nhìn gay gắt về chuyện nam nữ học chung trong một lớp, mà tôi may mắn được nếm cái không khí của một lớp toàn phe kẹp tóc, cái không khí tưởng đã bị 'diệt vong' từ những ngày tôi lớn lên.

Lớp tôi có những bốn mươi tám nàng thiếu nữ, cô nào cũng nghịch ngợm đúng cái nghĩa "Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò". Mà ma quỷ dù có trong trường đi nữa, thì có lẽ cũng phải 'kiêng nể' đám học trò chúng tôi trong những năm đó. Chỉ mất có mấy ngày đầu vào lớp, chúng tôi đã từ xa hóa lại gần. Thầy cô thương lớp tôi lắm, không chỉ vì lớp tôi là lớp quy tụ toàn những học sinh giỏi, mà lớp tôi tuy có phá nhưng lại tập trung toàn những tay học siêng nhất trường. Mỗi năm, các lớp khác chỉ có một, hai học sinh được lãnh thưởng, còn lớp tôi thì có đến cả hơn nửa lớp lên 'bản vàng'. Từ hoá học đến toán học, môn nào chúng tôi cũng phải đi học thêm để bắt kịp với bài vở của trường, để chuẩn bị thi vào đại học. Chúng tôi có được một cô giáo dạy sinh vật thật sinh động, một ông thầy vật lý thật vui tính, và một cô chủ nhiệm thật là hiền.

Người mà tôi nhớ nhất trong những năm đó là thầy giáo sinh ngữ của chúng tôi. Lúc ấy, phong trào đi học Anh Văn được hưởng ứng nồng nhiệt ở Sài Gòn, mọi người dường như ai cũng chuẩn bị cho một cuộc sống mới ở một nước khác, và môn Anh Văn trong lớp cũng được các học sinh đặc biệt chú ý một cách rõ rệt. Các khóa học Anh Ngữ ở các trung tâm tháng nào cũng đầy ắp, sách dạy Anh Văn thì ra cuốn nào thì cứ như là sẽ bán hết ngay cuốn đó, vì thế người ta đua nhau mà ra sách. Những kẻ làm ăn mánh mun muốn trà trộn vào để kiếm lời dù không biết viết chữ nào cho sách thì tìm cách đi ăn cắp của những người khác, đi in ra bán lấy lời. Mà nhà nước Việt Nam chẳng bao giờ có luật lệ gì để cho tác giả giữ bản quyền của mình đâu mà phải sợ, và thầy tôi là một trong những người tác giả bất hạnh đó.

Thầy tôi viết một cuốn sách dạy văn phạm để cho chúng tôi dùng làm tài liệu tham khảo những giờ lên lớp. Nhưng chẳng hiểu vì sao, một ngày kia, những cuốn sách của thầy lại được bày bán nhan nhản trong các tiệm sách ngoài đường với cái tên nhà xuất bản của một tỉnh gì đó. Thầy tôi vào lớp buồn vô hạn, cái buồn không phải chỉ vì người ta đã đánh cắp nguyên bản của mình mà không trả đồng nào cho kẻ làm tác giả, mà trong đó còn có nỗi buồn nhìn thấy tác phẩm mình nâng niu bao tâm huyết bị người ta lấy đi một cách vô tình như vậy. Thầy tôi như bỗng già đi mất mấy tuổi, lúc đó đứa nào trong đám chúng tôi cũng thương thầy lắm. Chúng tôi biết thầy rất nghèo, nhưng với sức những đứa còn ăn bám gia đình như tôi thì cũng chẳng làm được điều gì.

Ngày trước khi tôi đi, tôi ghé về thăm trường cũ hồi cấp hai. Ngôi trường nhìn bề ngoài có vẻ khang trang hơn, tuy các dãy lớp học vẫn thế, thầy cô mới vào trường cũng khá đông, nhưng các thầy cô cũ của tôi vẫn còn đó. Dãy căn tin là thay đổi lớn nhất của ngôi trường, bởi sự tu bổ khá công phu, trông lớn hẳn lên. Nhưng những người bán hàng trong đó bây giờ là những kẻ đã từng bị nhà trường chê bai là bán hàng rong trước cổng trường, là những kẻ ngày xưa đã bị đuổi lên đuổi xuống, và thức ăn được bày bán là những thứ xưa kia nếu chúng tôi mua phải là sẽ bị phạt, bị phê ngay hạnh kiểm xấu.

Tôi gặp lại thầy cô tôi giờ ngồi bán trước cổng trường. Vừa múc tô bún, thầy tôi vừa kể những biến đổi của trường từ ngày chúng tôi đi. Nhà trường cần tiền chi phí nên bắt đầu cho đấu thầu việc bán căn tin, thầy cô tôi nghèo nên ít vốn, không đóng được cho trường nhiều như những tư nhân bên ngoài, nên đành phải dọn ra trước cổng trường ngồi bán. Và thầy cô tôi bây giờ lại bị đuổi như những ngày xưa những kẻ bán hàng rong bị đuổi. Không biết thức ăn thầy cô tôi bán đã bị mất vệ sinh hơn ở điểm nào, và tôi cũng không hiểu đồ ăn được bày bán trong căn tin kia bây giờ đạt được tiêu chuẩn vệ sinh ở chỗ nào... Chỉ biết rằng, những người đang ngồi dầm mưa dãi nắng ngoài kia là thầy cô tôi đó. Đồng lương chết đói của người giáo viên không đủ cho cô tôi gởi đứa con đến trường, không đủ cho thầy tôi đi tìm bác sĩ để chữa bệnh lao phổi...

Thế mà ai về Sài Gòn cũng bảo thành phố mình bây giờ đẹp lắm, thay đổi nhiều lắm... Nhưng bên trong cái thay đổi bên ngoài ấy, có ai ghé vào thăm cảnh sinh hoạt của những nhà giáo như thầy cô tôi không?!!! Hay người giàu thì càng giàu hơn, và còn thầy cô tôi đã nghèo, không theo kịp nhịp sống của những người khác lại còn nghèo hơn...?!!!

Hơn mười năm sau ngày rời trường tiểu học, tôi tình cờ tìm được địa chỉ thầy chủ nhiệm lớp năm của tôi đang sống bên Nhật. Thầy may mắn hơn những thầy cô khác, với một cuộc sống êm đềm và hạnh phúc trong cả vật chất lẫn tinh thần. Còn tôi, cô học trò ngổ ngáo ngày xưa của thầy, giờ đây sắp tốt nghiệp đại học, và lại đang bâng khuâng bước vào một bước ngoặt mới trong cuộc đời.

Auckland tháng 08/95,
Hồng Tâm (T.Đ)

No comments:

Post a Comment