Monday, March 17, 2014

Thẩm Định Giá Trị Tăng Trưởng Kinh Tế của Việt Nam

Trần Thị Tuân Như

Thống kê do Hà Nội đưa ra về những tăng trưởng kinh tế mới đây ở Việt Nam - 8% cho 1992 và 7.5% cho 1993 - đã được truyền thông tây phương tiếp tay quảng cáo như một "Phép Lạ". Người Việt ở hải ngoại nghe qua cũng mừng cho quê hương, hy vọng đang trên đường thoát cảnh lầm than về vật chất. Tuy nhiên thực tế phơi bày trên khắp các vùng đất nước không được sáng lạng như số biểu quảng cáo ở trên. Sự khác biệt này có thể giải thích đơn giản là "Việt Nam quá nghèo đói nên sự phát triển tương đối ở trên không thể một sớm một chiều xoá bỏ được những dấu tích của hai thập niên lụn bại kinh tế ở miền Nam và lâu năm hơn nhiều ở miền Bắc." Nếu nhìn như thế thì con số nêu trên thật ra đáng được ca tụng. Vấn đề là có thật Việt Nam đang trên đường phát triển kinh tế hay không? Và nếu có thì sự phát triển này là bao nhiêu, có bền bỉ không? Và quan trọng hơn nữa, phát triển kinh tế có cùng nghĩa với việc đem lại hạnh phúc cho người dân hay không ?

Người lạc quan nghe qua những thắc mắc này không thể không khó chịu! Tuy Bác và Đảng có bị mang tai tiếng hơi nhiều về tật xịa hoặc phóng đại tô mầu các thành quả (cũng như ỉm đi những cái xấu), chả nhẽ những cơ quan truyền thông quốc tế, những định chế tài chánh quốc tế cũng dễ dàng bị nhà nước Việt Nam qua mặt? hoăc giả họ không ngây thơ d dến thế nhưng vì muốn khai thác thị trường Việt Nam nên sẵn sàng chấp nhận, hay tệ hơn, tiếp tay thổi phồng sự việc ?

Quý vị tin tưởng vào sức mạnh vạn năng của kinh tế thì lại càng khó chịu: Phát triển kinh tế không đồng nghĩa với việc đem lại hạnh phúc cho con người thì còn là gì nữa?

Người viết tuy cũng là một người lạc quan và nhìn thấy vấn nạn kinh tế trầm trọng của Việt Nam, nhưng nêu những thắc mắc này vì quan niệm "hồ hởi sảng hay ưu tư phi lý" đều không đóng góp thực tế gì được, nếu không phải là gây cản trở thêm cho việc giải quyết vấn đề. Phải chăng những khó khăn chất chồng của đất nước ta ngày nay chính là do bởi những người lãnh đạo guồng máy quốc gia không có cam đảm nhìn thẳng vào vấn đề?

Không phải chỉ do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước ta mà ba câu hỏi trên được nêu rạ Tất cả các kinh tế gia và các chính trị gia chân chính trong mọi quốc gia, hoặc bất cứ ai có quan tâm đến vận mệnh của đất nước họ đều không thể không băn khoăn với ba câu hỏi trên. Lý do căn bản là tự trong những đo lường mức tăng trưởng kinh tế của một nước thường đã xảy ra những sai lệch vô tình hay hữu ý, tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn vì thế gần như là một đo lường vô nghĩa, và hạnh phúc của con người, an vui của một xã hội không chỉ có thể đóng khung trong tầm tay của kinh tế.

Trước khi đi vào chi tiết thẩm định giá trị của mức tăng trưởng kinh tế nói chung và con số báo cáo của chính quyền Hà Nội nói riêng, ta cần phải biết tăng trưởng kinh tế được đo lường ra sao?

Mức tăng trưởng kinh tế của các quốc gia hiện nay được đo lường bằng phần trăm tăng trưởng của GDP (tức tổng sản lượng quốc gia) trong năm so với mức GDP của năm trước. Công thức đo lường được tính như sau:

%GDP của năm = 100x(GDP của năm - GDP năm trước)/GDP năm trước.

Thí dụ:

% tăng trưởng kinh tế của 1993= 100x[GDP(1993)-GDP(1992)]/GDP(1992)

1) Độ Chính Xác của GDP và mức tăng trưởng kinh tế:

Theo tiến sĩ chính trị kinh doanh Oskar Morgenstern của đại học Princeton trong bài viết "Qui Numerare Incipit Errare Incipit" (1963) thì "không thể nào đo lường chính xác độ tăng trưởng kinh tế, nhất là trong thời hạn một năm khi mà độ tăng trưởng này không thể nhận thức được giống như độ tăng trưởng của một chiếc răng trong một tháng".

Theo ông, không những vì độ tăng trưởng này khó cảm nhận được trong một thời gian ngắn, mà thống kê kinh tế còn đầy rẫy những sai lệch. Sai lệch bẩm sinh trong hệ th ống kinh tế đã đành, cái kẹt nhất là đa số những người làm thống kê kinh tế lại hay có khuynh hướng dấu nhẹm môt số những tin tức, thổi phồng dữ kiện hoặc cố tình nói dối. Nói dối vì muốn trốn thuế, vì không thích những can dự của chính quyền, hoặc vì nhu cầu cạnh tranh trong nghề nghiệp. Riêng tại các nước chuyên chính vô sản - Nga Sô đã được tiến sĩ Morgenstern đưa ra như là một điển hình - các thống kê trong toàn bộ mọi lãnh vực, mọi tầng lớp đều được cố tình sửa đổi, xào nấu cho thích hợp với khẩu vị tuyên truyền của chế độ. (Điều này thì dân ta không lạ gì đối với chính quyền hiện tại).

Ngoài nhu cầu "thổi phồng" các dữ kiện, một trong những lỗi lầm lớn trong hệ thống thống kê kinh tế của Nga Sô, mà Việt Nam bao nhiêu thập niên nay vẫn rập khuôn, là "kế toán lầm" bằng cách tính hai lần một dữ kiện (double accounting hoặc multiple accounting). Từ đó, tổng sản lượng quốc gia Nga Sô đã được thổi phồng một cách kinh khủng va ý càng ngày sự thổi phồng càng tệ. Một kinh tế gia nổi tiếng của Nga Sô, ông S.G. Strumilin, đã phải chỉ trích là sản lượng công nghiệp (industrial output) năm 1945 thật sự thấp hơn năm 1940 ba mươi lần chứ không phải tám lần như báo cáo. Sản lượng công nghiệp là một thành phần quan trọng của tổng sản lượng quốc gia thì thử hỏi mức tăng trưởng kinh tế dựa trên những dữ kiện thổi phồng này làm sao có thể chính xác được?

Tại Việt Nam, nói dối và thổi phồng dữ kiện đã trở thành một nếp sống đối với các cơ quan nhà nước. Chứng bệnh hay lây này cũng đã thâm nhập vào mọi tầng lớp nhân d ân và tổ chức tư nhân khi mà nói dối đã trở thành một nhu cầu cần thiết cho việc sống còn. Thí dụ điển hình hiện nay là một cơ quan quốc doanh nếu khai thật là làm ăn lỗ lã thì làm sao tránh khỏi bị đóng cửa trong giai đoạn nhà nước muốn cắt giảm chi tiêu vì tình trạng thiếu hụt ngân sách. Cho dù chính quyền Hà Nội ở trung ương có t hực lòng muốn biết tình trạng kinh tế thực của toàn quốc thì cũng vô phương vì từ căn bản mỗi một cá nhân trong guồng máy đã quen thói báo cáo "xạo" thì làm sao toàn bộ có thể đạt đến một con số nghiêm chỉnh. Không kể đến những thiếu sót về kỹ thuật kế toán, sổ sách, thống kê, lề lối bảo mật và lòng nghi ngờ nhau của mọi ngành, sở.

Tóm lại, không một nước nào có thể có được một con số chính xác về tổng sản lượng quốc giạ Và cái giá trị tương đối của mức tăng trưởng kinh tế này còn bị bóp m éo trầm trọng hơn trong những xã hội chủ nghiã. Tiến sĩ Morgenstern nhấn mạnh, chỉ có mức độ tăng trưởng kinh tế trong một thời gian dài mới có ý nghĩa và cũng chỉ có thể mang tính chất định tính chứ không định lượng được (qualitatively chứ không quantitatively) với điều kiện là những hiện tượng cố tình "xào nấu" dữ kiện phải được ng ăn chận triệt để. Nếu không, một nền kinh tế lụn bại như của các nước cộng sản Đông Âu cũ vẫn hàng năm được báo cáo với một mức tăng trưởng khả quan.

Ngay cả trong một xã hội tư bản như Hoa Kỳ mà tiến sĩ Morgenstern còn nghi ngờ là độ sai lệch 5% dự đoán cho GDP "không thổi phồng (nonđeflated)" có thể vẫn chưa đủ. Tuy vậy với con số gỉa định khiêm tốn này (+-5% GDP), tiến sĩ Morgenstern cho thấy mức độ tăng trưởng có thể sai biệt từ -7.9% đến 12.5% (một khoảng cách gần 20%). Với một sự chênh lệch như vậy ta thấy con số 7.5% tăng trưởng qủa thật vô nghiã.

Bên cạnh những yếu tố quan trọng nêu trên, giá trị của mức tăng trưởng càng vô nghĩa khi được dùng để so sánh nền kinh tế của hai hay nhiều quốc gia với nhau. Lý do đơn gi ản là trong quan niệm căn bản hai nền kinh tế có thể khác nhau hoàn toàn. Thí dụ nông phẩm tiêu thụ là một thành phần lớn trong các quốc gia nông nghiệp chậm tiến thì lại ho àn toàn không có ý nghĩa gì đối với Hoa-Kỳ. Thế mà thống kê nông nghiệp của Hoa-Kỳ còn kém xa mức độ chính xác cần thiết, huống hồ gì là thống kê của các quốc gia nông nghiệp chậm tiến như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Ceylon, Congọ..

Tuy với những phân tích chính xác, tiến sĩ Morgenstern không hoàn toàn phủ nhận giá trị cuả mức độ tăng trưởng kinh tế. Ông muốn mọi người nhìn ra sự giới hạn của thống kê kinh tế và không xem những con số báo cáo như là một dữ kiện tuyệt đối. Ông nhấn mạnh giá trị định hướng của mức tăng trưởng qua một tiến trình dài chứ không thể là một giá trị định lượng trong thời hạn ngắn. Và sau cùng ông nhắn gởi những kinh tế gia của thế hệ mới và những người có trách nhiệm v ề thống kê kinh tế khi báo cáo các con số phải cố gắng thêm vào những dự đoán về độ sai lệch, tức là phải trung thực với các dữ kiện như một nhà khoa học.

Điều mà bản phân tích của tiến sĩ Morgenstern không thấy đề cập đến nhiều ngoài một hàng phê bình tổng quát đó là điều bất lực của thế giới về việc kiểm soát n hững báo cáo kinh tế - phần lớn là không trung thực của các quốc gia trên thị trường thế giới. Theo ông: "Trong lãnh vực này, mục tiêu chính là chính trị chứ không phải kinh tế. Và đặc biệt tệ hại là ở các quốc gia không có sự thẩm định gắt gao về kinh tế".

Như vậy ngoài nhu cầu muốn biết các dữ kiện kinh tế chính xác (dù tương đối) của các thành viên trong một quốc gia hoặc của chính quyền, không một định chế quốc tế n ào có thể chất vấn, kiểm soát các báo cáo kinh tế của một quốc giạ Vì việc kiểm soát không có, bắt buộc các định chế quốc tế, các quốc gia khác phải sử dụng con số do chính quốc gia đó đưa ra mà thôi.

Riêng trong trường hợp Việt Nam, con số do chính quyền Hà Nội đưa ra - không biết đã có được điều chỉnh cho mức độ lạm phát (17.5% năm 1992 và 5.2% năm 1993 theo báo cáo của Hà Nội) - đã được báo chí Tây Phương tiếp tay quảng cáo một cách vô tình như tiến sĩ Morgenstern đã cảnh cáo: "đã bị điều kiện hoá và coi các dữ kiện kinh tế như có tầm chính xác cao". Sự vô tình này kèm thêm những hồ hởi cố ý về một thị trường mới mà doanh nhân thế giới đang mong mỏi khai thác và không ngại bỏ tiền ra quảng cáo.

Ngoài những phân tích của tiến sĩ Morgenstern về độ chính xác của mức tăng trưởng, việc tìm hiểu các thành phần của tổng sản lượng quốc gia cũng soi rõ hơn thực chất của việc tăng trưởng, nếu có, ra sao?

Theo định nghĩa của các nước tư bản:

GDP = C+I+G+X

Nói một cách nôm na, tổng sản lượng quốc gia là tổng số chi của giới tiêu thụ (C), cộng với tổng số đầu tư (I), cộng với tổng số chi của chính phủ (G) (không kể những chi phí cho an sinh xã hội và tiền lời chính phủ phải trả cho các khoản vay), cộng với xuất cảng và trừ đi nhập cảng (X). Với 80% dân số Việt Nam vẫn thiếu ăn, GDP tăng gia không thể đến nhiều từ C, mà phần lớn đến từ I và G. Trong các năm vừa qua, với số lượng ngoại quốc đầu tư gia tăng, với số lượng vay và viện trợ từ nước ngoài qua bàn tay chi tiêu của chính quyền, rõ ràng I & G đã nâng cao mức tổng sản lượng của Việt Nam. Vì số lượng nhập cảng cao hơn số lượng xuất cảng (theo báo cáo của Hà Nội cho năm 1993), X là con số âm và làm giảm GDP thay vì tăng. Tuy mức tăng của các khoản C,I,G không được biết, nhưng căn cứ vào những khoản vay và đầu tư từ ngoại quốc gia tăng, cũng như số tiền của người Việt hải ngoại gởi về, ta có thể kết luận là tổng sản lượng quốc gia của Việt Nam trong vài năm qua có gia tăng, dù không rõ mức gia tăng là bao nhiêu.

2) Sau khi đã phân tích về độ chính xác của mức tăng trưởng kinh tế nói chung và Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể không băn khoăn là với một nền kinh tế tăng trưởng nhờ vào đầu tư ngoại quốc và do chính quyền vay mượn chi tiêu, mức tăng này liệu có bền bỉ và có là một điều đáng mừng hay không? Và với lợi tức gia tăng cho cả nước, mức sống của đại đa số dân chúng có đang trên đà cải tiến tương tự hay không?

Việc đầu tư, dù vay mượn hay do ngoại quốc bỏ vào cũng đều giúp cho nền kinh tế phát triển. Và trong quan niệm kinh tế, đây là một điều đáng khuyến khích chứ không phải là một điều tiêu cực như quan niệm cổ của xã hội ta là sợ vay, sợ trả tiền lời. Tuy nhiên đi vay để đầu tư và đi vay để chi tiêu, để hưởng thụ là hai việc có khác. Nếu chính quyền có chi vào việc giáo dục tức là đầu tư vào tương lai của dân tộc; chi vào hệ thống y tế để bảo vệ sức khoẻ cho người dân tức là bảo vệ và phá t triển nguồn nhân lực quan trong cho việc phát triển kinh tế; chi vào việc xây dựng đê điều, cầu cống, đường xá là tạo công ăn việc làm cho người dân và phát tri ển hệ thống hạ tầng (infrastructure) để lót đường cho việc phát triển kinh tế.

Nếu chính quyền Việt Nam hiện tại vay tiền mà hệ thống đường đất, giao thông, cống rãnh, giáo dục, y tế không thấy cải tiến, thử hỏi số tiền vay đã được chi tiêu như thế nào? bị phung phí trong các cuộc chè chén, chui vào túi cán bộ đảng và nhà nước? câu trả lời không thể tìm thấy trong con số tăng trưởng kinh tế. Chính quyền có xử dụng tiền vay hay tiền cứu trợ vào những mục đích mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hay phung phí vào những mục tiêu bành trướng thế lực, xây dựng nhà tù thay vì nhà thương hay trường học, con số tăng trưởng kinh tế cũng không phản ảnh được điều này. Tuy nhiên căn cứ vào dữ kiện thực ta có thể có được câu trả lời khá chi 'nh xác. Theo những tiết lộ ngân khoản đầu tiên của chính quyền Hà Nội vào đầu năm nay thì ngân khoản nhà nước dành cho quốc phòng đã được gia tăng 49% so với 33% cho giáo dục và 19% trợ giúp xã hội. Đất nước không chiến tranh, tại sao lại cần phải gia tăng lực lượng võ trang quân bị ngần ấy trong khi đó nền giáo dục và y tế công cộng èo uột, nghèo nàn, lỗi thời của Việt Nam lại chỉ nhận được một ngân khoản khiêm nhường: $3 và 80 cents mỗi đầu người tính luôn cả phần trăm gia tăng? Chính quyền Hà nội đã đặt ưu tiên như thế nào trong việc phân chia ngân sách như vậy?

Mức tăng trưởng kinh tế có được chia đều cho mọi người hay chỉ vào tay một thiểu số thế lực hoặc khéo chạy chọt lo toan, GDP không nói rõ được điều này. Nhưng theo nhận xét của chính bộ y tế Việt Nam, 42% trẻ con Việt Nam hiện đang sống trong tình trạng thiếu dinh dưỡng, 80% người dân Việt Nam vẫn không đủ ăn. Trong khi đó, một thiểu số giầu có ở Việt Nam lại đang sống rất đế vương. Nếu GDP tăng nhưng không được đầu tư vào những dự án lâu dài, mà chỉ là những chộp giựt nhất thời, những phung phí hưởng thụ, nền kinh tế Việt Nam sẽ đi về đâu? Một nền kinh tế chắp vá, èo uột không có cơ sở phát triển vững chắc khởi đi bằng một hạ tầng cơ sở thích hợp, mộ t hệ thống quản trị hợp lý và hữu hiệu liệu có thể tăng trưởng mãi với các nguồn đầu tư ngoại quốc (chắc chắn không phải là bất tận)? liệu tài nguyên đất nước kể cả nhân lực và chủ quyền quốc gia tương lai có bị bán rẻ? Đây là quan tâm mà không một người Việt Nam yêu nước nào không cảm thấy lo âu, suy nghĩ.

Và với nền tăng trưởng kinh tế tuyệt hảo như chính quyền Hà Nội đã quảng cáo, tại sao những tệ đoan và tội ác xã hội lại gia tăng, nghèo đói vẫn nhan nhản. Vậy thì chính quyền đã xử dụng việc gia tăng kinh tế như thế nào trong việc đem lại hạnh phúc cho người dân. Hay ngược lại, nền kinh tế thị trường đã giúp thêm phương tiện cho chính quyền kiểm soát người dân gắt gao hơn? viện trợ và vay mượn của thế giới đã giúp chính quyền thêm tiền tổ chức công an phường xóm, mua thêm "tai", "mắt" để bảo vệ chế độ?

Vậy việc tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam có cần phải được xét lại, tiêu chuẩn phải được đặt ra trước khi các nhà đầu tư ngoại quốc, các định chế tài chánh quốc tế và các quốc gia đổ tiền vào Việt Nam? Và người Việt chúng ta ở hải ngoại phải góp phần mình như thế nào để việc tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam không phải chỉ là một công cụ tuyên truyền xuông cuả đảng, mà phải là một thực tế hữu hiệu và thiết thực trong việc tạo dựng tương lai và hạnh phúc cho dân tộc.

No comments:

Post a Comment