Saturday, March 15, 2014

Liên hệ giữa Kẻ Sĩ - Khoa Bảng - Trí Thức

Nguyên Giao

"Kẻ sĩ, Khoa bảng, và Trí thức" là một đề tài khúc mắc, mỗi người một định kiến. Nguyễn Gia Kiểng có bài "Nói chuyện với trí thức: Mặt thật của ai?" (Ngày Nay, May 15, 1994 - Houston), Phạm Nam Sách với "Nghề quỳ, Góp ý với Ô. Nguyễn Gia Kiểng" (Thời Luận, May 29, 1994 - Los Angeles), Công Tôn Hoàng đăng bài "Nghề quỳ?" (Người Dân, July 1994 - Costa Mesa), và gần đây nhất, Như Phong viết "Đi tìm dấu vết Trí thức, Khoa bảng, Kẻ sĩ" (7 Ngàn Dặm, Sept. 1994 - Carlsbad). Phân tích thật tường tận đề tài này quả là một thử thách. Tuy nhiên, trước hiện tình quê hương Việt Nam, những định nghĩa, đặc tính và vai trò của Kẻ sĩ, Khoa bảng, và Trí thức Việt Nam cần phải được soi sáng, hầu có thể nhận định xác đáng những yếu tố cần thiết giúp phát triển đất nước. Trong ý hướng đó, bài viết này chỉ là một cố gắng của một cá nhân, để góp ý với những tác giả khác.

ĐịNH NGHĨA

1. Khoa bảng: Là những người có văn bằng cao, do những định chế giáo dục cấp, sau khi đã hội đủ những đòi hỏi của những trường học này.

2. Kẻ sĩ/Sĩ phu: Có xuất xứ từ thời Việt Nam dưới chế độ quân chủ (chấm dứt năm 1945 với vua Bảo Đại) nhất là lúc được đúc khuôn theo mẫu mực Khổng Mạnh. Được phản ảnh trong những câu như "Sĩ, nông, công, thương" (xếp hạng các giai cấp trong xã hội một nước). "Sĩ" là người có học, giỏi chữ nghĩa. "Phu" là người đàn ông. Kẻ sĩ và sĩ phu là hai danh từ có ý nghĩa tương đương với nhau, để chỉ thành phần tinh hoa của đất nước. Kẻ sĩ/Sĩ phu là một danh hiệu, không nhất thiết đòi hỏi phải có bằng cấp. Dữ kiện lịch sử còn cho biết sĩ có thể chọn một trong hai vai trò: hoặc đi làm quan (tức là "xuất": có nghĩa là động, và ở bên ngoài) hay còn được gọi là người xuất chính; hoặc không làm quan (tức là "xử") ở nhà (còn gọi là ở ẩn), có khi thu nhận một số học trò. Chu Văn An và Nguyễn Công Trứ là hai kẻ sĩ đã từng đóng đủ hai vai trò người xuất chính, và xử sĩ. Nguyễn Thiếp (La Sơn Phu Tử) là một xử sĩ nổi tiếng thời Tây Sơn. Dù xử hay xuất, vai trò của kẻ sĩ là giữ cho một vùng được yên, hay bao hàm lãnh đạo theo nghĩa:

a. Ảnh hưởng, hay/và
b. Tạo ra các cơ chế, hay/và
c. Đề ra những đường hướng để giúp Thiết lập trật tự xã hội đặt ra Lối sống của dân tộc Việt Nam

3. Trí thức: Trí thức là một trong ba đặc điểm của con người: trí thức, tình cảm, và ý chí. Trí có nghĩa là biết, và mưu lược. Thức ám chỉ thức thời, có nghĩa là hiểu thời thế. Người trí thức là người hội đủ những đặc tính sau đây:

ạ Có kiến thức sâu và rộng. Kiến thức bao gồm năng khiếu bẩm sinh, hay/và thâu nhận (acquire) được từ trường học, hoặc từ kinh nghiệm sống từ trường đời.
b. Biết chỗ đứng của mình (tức là "biết mình, biết người").
c. Có nhân cách (thể hiện bằng nhân, nghĩa, lễ, tín và lòng dũng cảm).
d. Suy tư và hành động có ảnh hưởng rộng lớn, mang lại lợi ích cho số đông dân chúng nhiều hơn cho mình hoặc người thân quanh mình.

NHẬN ĐỊNH

- Cả kẻ sĩ lẫn trí thức đều không nhất thiết phải là khoa bảng. Nguyễn Tri Phương là một người xuất chính không hề có một văn bằng nào, đã nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới thời Hiến tổ. Lý Đông A, tác giả chủ thuyết Duy Dân được coi là một trí thức thông thái, dù đã chưa hề tốt nghiệp ở một định chế giáo dục nào.

- Khoa bảng Việt Nam ngày xưa đã được đào tạo để giữ vai trò lãnh đạo. Học trò đã được học và hành không những về chữ nghĩa, mà còn cả về nghệ thuật lãnh đạo (trí dục), kể cả những phép tắc như "công dân giáo dục", phương cách cư xử cho xứng đáng là "con nhà", theo thứ tự "tiên học lễ, hậu học văn" (đức dục). Khoa bảng Việt Nam ngày xưa, khi được ban cấp văn bằng cao đã được dạy "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", hướng về "chân, thiện, mỹ" trước khi giữ những chức vụ chỉ huy, quan trọng trong xã hội. Ngày xưa, văn bằng "cử nhân" không phải là văn bằng đầu tiên của trường đại học (bachelor), mà có nghĩa là "đề cử người (nhân) có bằng này"; Cũng vậy, "tiến sĩ" không phải là bằng cấp cao nhất của một trường đại học (Ph. D.), mà là "đủ tiêu chuẩn để được tiến cử ra làm kẻ sĩ": Cử nhân và tiến sĩ là những khoa bảng được tiến cử để nhà vua sử dụng trong việc trị nước.

- Trước năm 1945, kẻ sĩ Việt Nam đóng vai trí thức, nên là trí thức. Vì vậy Việt Nam ngày xưa đã không có danh từ trí thức. Chỉ sau khi chế độ quân chủ chấm dứt, khiến danh hiệu sĩ phu bị mất hết ý nghĩa đầy đủ ngày xưa, danh từ trí thức mới được sử dụng để thay thế giới sĩ phu Việt Nam.

- Giá trị bằng cấp ngày nay càng ngày càng bị giới hạn vì kiến thức - nhất là kỹ thuật - phát triển rất rộng ("biển học mênh mông"), và nhanh, trong khi diễn biến cuộc sống của nhân loại có vận tốc gia tăng gia tốc. Ngày nay, một người đỗ được một văn bằng Ph. D. hay bác sĩ về một ngành học nào đó, chỉ có nghĩa là người đó đã được định chế giáo dục mà người ấy theo học, chứng nhận có khả năng có thể làm việc độc lập về môn học đã tốt nghiệp, mà không cần phải có thày dạy hướng dẫn, hay giám thị. Vì các ngành học trở nên quá chuyên biệt, nên số lượng môn học gia tăng, Ph. D. hay bác sĩ một ngành chuyên môn khó có thể đồng thời thông thái về một lãnh vực chuyên môn khác, khoan nói tới cách xử thế, hay kiến thức về đời sống, và thái độ đối với nhân loại. Ngay như trong cùng một lãnh vực chuyên môn, thí dụ như quản trị và kinh tế, bằng cấp hay trường học chỉ có giá trị tương đối so với kết quả của chính sách và cách điều hành, hay giải quyết những vấn đề kinh tế và xã hội của người có bằng cấp đó. Khi áp dụng vào thực tế, "hành" thường không giống và đơn giản như "học". Khoa bảng ngày nay chỉ có giá trị của một kỹ thuật gia cao cấp. Trừ khi cố tâm tự học hỏi và huấn luyện thêm, khoa bảng ngày nay không nhất thiết được coi là trí thức theo định nghĩa ở trên. Ngoài ra, văn bằng có giá trị tĩnh (static), trong khi trí thức có giá trị động (dynamic). Một tấm hình (photograph) đẹp của một tài tử được chụp ở một thời điểm nào đó, không bảo đảm được khả năng diễn xuất hay của người đó.

- Dù được sinh ra trong một thời gian, và sống trong một không gian, trí thức có tính cách vượt thời gian, và không do môi trường (thí dụ như chủng tộc, tôn giáo, chế độ chính trị, hay xã hội) tạo thành. Không có một vùng, hay một tôn giáo nào tạo ra nhiều trí thức hơn các vùng hay các tôn giáo khác. Trí thức là tinh hoa (theo nghĩa "cream of the crop") của nhân bản, một đặc tính của con người, được thể hiện ra bên ngoài người đó. Tư tưởng dân chủ đề xướng bởi ba nhà trí thức Montesquieu, Voltaire và Jean Jacques Rousseau được coi là động lực đưa đến cuộc Cách mạng ở Pháp vào năm 1789. Cả ba ông đều đã qua đời nhiều chục năm trước khi cuộc cách mạng xẩy ra (Montesquieu chết năm 1755, Voltaire và Rousseau cùng mất năm 1778). Hơn 200 năm sau, chế độ dân chủ hiện vẫn đang là mẫu mực thịnh hành khắp nơi trên thế giới.

- Nguyễn Ngọc Huy, cố chủ tịch Liên Minh Dân Chủ là một biểu tượng trí thức hiếm có, từ trong nước cũng như khi ra hải ngoại, hội đủ những tiêu chuẩn về tu thân, kiến thức, xử thế, lãnh đạo, đóng góp cho dân tộc Việt, và đồng thời cũng là một khoa bảng xuất sắc. Ngoài ra, lịch sử Việt Nam đã ghi nhiều gương trí thức trong các lãnh vực khác, cũng phản ảnh đúng tinh thần của Văn Thiên Tường, một trí thức Trung Hoa đã đưa ra từ trên 700 năm trước:

"Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh"
(Xưa nay ai thoát vòng sinh tử,
Để tấm lòng son chiếu sử xanh).

- Làm trí thức Việt Nam ngày nay xét ra khó khăn hơn kẻ sĩ/sĩ phu ngày xưa. Ngày xưa, khi gặp nghịch cảnh, kẻ sĩ có thể bầy tỏ thái độ bất hợp tác bằng cách từ quan, về ở ẩn: Người xuất chính trở thành xử sĩ là chuyện không ai chê trách. Trí thức ngày nay không được có thái độ/chọn lựa ẩn dật đó nữa. Trước những nghịch cảnh - mà nghịch cảnh ngày nay có tầm vóc và ảnh hưởng tàn bạo hơn ngày xưa - và trước thời thế luôn đổi thay (động), trí thức ngày nay lúc nào cũng phải thích ứng với tình thế mới, trong k hi vẫn phải duy trì sự như nhất (consistency) của mình.

- Khoa bảng ngày nay thường bị/được vô tình hay cố ý suy diễn sai lệch thành trí thức. Nguyên do chính vì những bằng cấp của thời nay thường bị/được trộn lẫn với những da nh hiệu trong xã hội Việt Nam ngày xưa, bắc cầu bởi sự dịch thuật danh từ trùng hợp, không hoàn toàn tương xứng. Ngày nay, một thanh niên/nữ mới đỗ được một mảnh bằng th ấp nhất của một trường đại học tức là Bachelor (một tiêu chuẩn của ngày nay), theo phiên dịch Anh-Việt thông thường, trở thành một "cử nhân" (một danh hiệu ngày xưa); Rồi vì là cử nhân (theo định nghĩa cho trước năm 1945), Bachelor này dễ dàng và tiện lợi trở thành là kẻ sĩ (thời xưa - mà không ai thắc mắc kẻ sĩ này là để cho vua nào sử dụng đây ?), tức là tương đương với trí thức (ngày xưa - vì trước năm 1945, kẻ sĩ là trí thức)! Bachelor đã thế, Ph. D. ("tiến sĩ") cũng vậy, nhất là khi so sánh giá trị bằng cấp, Ph. D. có giá hơn bachelor.

- Kỳ vọng ở những vị khoa bảng những việc làm của trí thức thường đưa đến thất vọng. Chỉ là khoa bảng mà cứ tưởng, hay mong muốn người khác phải trọng vọng mình như một trí thức là một thái độ thiếu tự trọng.

- Tuy nhiên, Việt Nam ngày nay được ước lượng có hàng trăm ngàn người tốt nghiệp các văn bằng do các trường đại học ở khắp mọi nơi trên thế giới cấp về đủ mọi ngành n ghề, đa số là khoa học/kỹ thuật. Khoa bảng/chuyên gia vì là những người đã vượt qua những đòi hỏi của các định chế giáo dục, có khả năng và triển vọng, nên dễ trở thành trí thức hơn người dân thường. Ngoài ra, khoa bảng/chuyên gia còn có trách nhiệm hơn người dân thường như trong câu "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" (bao hàm ý nghĩa "Một nu +ớc được mạnh, hay bị mất, người dân thường cũng có trách nhiệm, huống hồ là những người khác"). Do đó, mong muốn khoa bảng/chuyên gia trở thành trí thức là ước vọng hợp tình và hợp lý trước những khủng hoảng và bế tắc của đất nước Việt Nam.

ĐỀ NGHỊ

Người viết xin đưa ra những đề nghị dưới đây nhằm giúp thực hiện chuyển biến những khoa bảng/chuyên gia ngày nay thành trí thức Việt Nam:

1. Tìm hiểu, học hỏi, hay ít ra để ý thêm đến những kiến thức về các môn học khác, kể cả, và nhất là các môn học nhân văn như kinh tế, xã hội, văn hóa, lịch sử, quản trị, chính trị, tâm lý, triết lý, giáo dục, bang giao quốc tế. Việc đa hoá (diversify) kiến thức có thể được thực hiện bằng cách đọc thêm, nghiên cứu sách báo, tài liệu, tạp chí , v.v. về những tinh tuý (essence) của những môn học này.

2. Qui chiếu (refer) những hiểu biết của mình cho những đặc thù của Việt Nam. Thí dụ: Nếu là kỹ sư kiến trúc (structural engineer), hãy thử nghiên cứu mô hình nhà bình dân cho đại chúng Việt Nam sao cho thích hợp với phong thổ, vật liệu, và nhu cầu ở Việt Nam; Nếu là khoa học gia điện toán (computer scientist) có làm việc về Natural Language Processing, hãy thử điện toán hoá ngôn ngữ Việt Nam. Theo đúng những tiêu chuẩn của người trí thức, những dự án như thế nên được thực hiện không phải cho chế độ, hay vì tư lợi, mà là để nâng cao mức sống của đám đông dân chúng Việt Nam.

3. Tự rèn luyện để phát huy nhân cách, lòng dũng cảm, và tinh thần phục vụ.

KẾT LUẬN

Kẻ sĩ đồng nghĩa với sĩ phu, thường là giới khoa bảng. Danh hiệu sĩ phu/kẻ sĩ có xuất xứ từ xã hội Việt Nam ngày xưa. Ngày nay, danh từ đó xét ra không còn thích hợp, chỉ nên sử dụng cho ý nghĩa và giá trị lịch sử.

Trong xã hội Việt Nam ngày nay, thành phần tương đương với sĩ phu ngày xưa chính là trí thức. Không giống ngày xưa, khoa bảng ngày nay chưa đủ để là trí thức.

Khoa bảng - kể cả các chuyên gia - được mọi người mong đợi, và dễ có thể trở thành trí thức. 75 Triệu dân Việt Nam sẽ sớm vượt qua cơn bĩ cực khi có nhiều trí thức, trí thức không có bằng cấp lẫn trí thức khoa bảng.

Nguyên Giao

No comments:

Post a Comment