Monday, March 17, 2014

Đi Tìm Dấu Vết Trí Thức - Khoa Bảng - Kẻ Sĩ

Như Phong

1. Những câu hỏi chưa được trả lời dứt khoát: Dân Việt từ đâu đến? Có chữ viết riêng của mình không? Nếu có, từ bao giờ ? Thời các vua Hùng có chữ viết chưa ? Có phải Tích Quang và Sĩ Nhiếp là những quan cai trị người Hán đầu tiên đã phổ cập Hán học vào xã hội Việt?

2. Từ thế kỷ XI dưới triều đại Lý, nước Đại Việt đã có chính sách giáo dục và đào tạo rất chu đáo. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên, trong đó có Đền Văn học (Văn Miếu). Văn tự chính thức là Hán tự. Ba dòng tư tưởng Nho (Khổng), Thích (Phật) và Đạo (Lão) được hội nhập hài hòa và Việt hóa. Triều đại Trần phát triển chính sách giáo dục đào tạo của đời Lý lên một bước với mẫu người Văn Võ Song Toàn (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) - Triều đại Lê với bộ luật Hồng Đức đưa xã hội Việt tới đỉnh cao "Tam Giáo Đồng Tôn" của sĩ phu Bắc Hà.

3. Cần nghiên cứu hệ thống giáo dục đào tạo ở cả hai khu vực công lập và khu vực tư thục; chính sách của triều đình (nhà nước) về việc tuyển lựa, sử dụng và đãi ngộ nhân tài (thi cử và quan lại); sự tự do lựa chọn chỗ đứng của người trí thức trong xã hội và thái độ đối với triều đình qua các biến chuyển dưới 3 triều đại Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI tới XVI). Việc nghiên cứu này giúp ta có một quan niệm đúng hơn và rộng rãi hơn khi cần phải đặt ra vấn đề phân biệt giới khoa bảng và kẻ sĩ trong những thời kỳ kế tiếp.

4. Từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh (Trịnh/Nguyễn) và cuộc mở mang về phía Nam, giới Sĩ phu bắt đầu phân hóa. Sự xuất hiện lừng lẫy rồi tắt của triều đại Tây Sơn càng làm đảo lộn các giá trị. Triều đại Nguyễn bắt đầu từ Gia Long tới Tự Đức đã "nô dịch hóa trí thức" bằng cách sao chép chính sách giáo dục đào tạo của triều đình Thanh (Ch'ing) của Trung Quốc. Giáo điều của phái Tống Nho được dùng như khuôn vàng thước ngọc để tuyển lựa người có học dùng làm quan lại chỉ biết trung thành với triều đình. Tinh thần "hoài Lê" trong phần còn lại của giới "Sĩ phu Bắc Hà" cho thấy phản ứng của giới trí thức "đường ngoài" đối với Kinh đô mặc dầu cùng chung một gốc là Nho.

5. Nền đô hộ của Đế quốc Pháp được đặt vững ở ba miền Nam, Trung và Bắc từ cuối thế kỷ XIX và đầu XX đã đào tạo hai lớp trí thức mới Lớp Pháp-Hán với trường Thông Ngôn và trường Hậu Bổ (cuối thế kỷ XIX và cuối thập niên 10 của thế kỷ XX). Trường Thông Ngôn đào tạo các viên chức trung cấp giúp việc cho các quan chức người Pháp tại các công sở hành chánh và chuyên nghiệp. Trường Hậu Bổ tuyển lựa những học viên là những người đã thi đậu Cử Nhân Hán học trong các kỳ thi cuối cùng của triều Nguyễn để đào tạo quan lại (mandarin & public servant) cho ngành cai trị ở Trung kỳ và Bắc kỳ.

6. Cuối thập niên 20 của thế kỷ này, nền Hán học ở Việt nam bị đào thải. Nền học chính (instruction) gọi là Pháp-Bản xứ, sau đổi là Pháp Đông Dương gồm bốn cấp: sơ học (3 năm), tiểu học (3 năm), trung học (4 năm), cao đẳng (3-4 năm). Tốt nghiệp trung học được thi tuyển làm thư ký hành chánh (ông phán) hoặc giáo viên. Cao đẳng có sáu trường: Pháp chính (luật và cai trị),Y dược, Công chánh, Thú y, Canh nông, Thủy lâm và Sư phạm. Xã hội thời đó coi các sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng trên đây là giới trí thức mới của Việt nam. Tiêu chuẩn đặt ra cho việc dựng vợ gả chồng trong giới thượng lưu thời thập niên 30: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (không tốt nghiệp cao đẳng không thành vợ chồng).

7. Thập niên 30, các trường cao đẳng được nâng lên cấp đại học: khoa Y (Bác sĩ), Dược ( Dược sĩ), Luật (Cử nhân), Nông Lâm (Kỹ sư). Gián đoạn từ 1945 đến 1950, tiếp tục tới 1954 là chấm dứt thời kỳ do Pháp đào tạo.

8. Việt Nam chia hai. Miền Bắc: hệ thống giáo dục đào tạo kiểu Đại học Nhân dân, tiêu chuẫn Hồng và Chuyên, theo kiểu mẩu Trung Quốc, chuyển dần theo Liên Xô từ năm 1965. Miền Nam: Việt Tính ngày càng nổi trong giáo dục đào tạo các khoa xã hội nhân văn; ảnh hưởng Pháp và Mỹ trong khoa học và kỹ thuật. Đặc điểm mới: Tôn giáo (Phật và Thiên Chúa giáo) tham gia giáo dục đào tạo. Trí thức miền Nam nhất là giới trẻ nhiều phen can đảm tỏ thái độ đối với nhà cầm quyền, điều mà trí thức miền Bắc không dám nghĩ tới.

9. 1975-1994: Giao lưu trí thức Bắc (cộng sản) và Nam (không cộng sản) đã làm nổi bật tính ưu việt của trí thức miền Nam. Sau "đổi mới tư duy", nhất là sau sự tan rã của Liên Xô, chính sách giáo dục đào tạo của Hà Nội chuyển hướng mong bắt kịp tiêu chuẩn của trí thức Sài Gòn của thời 1965: Từ năm học 95-95, học trình trở lại là Tiểu học, Trung học 1, Trung học 2; bằng cấp gọi là Tốt nghiệp Tiểu học, Trung học 1, Tú tài; Đại học là Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ, Thạc sĩ. Phó Tiến sĩ, bỏ. Trường Đại học Luật Khoa mở lại, Công chức trung cấp trở lên bắt buộc phải đi học luật và học thêm ít nhất một sinh ngữ.

10. Hai triệu người Việt di tản đi khắp thế giới. Tính đa dạng của trí thức hải ngoại: thế hệ 70, 50, 30 tuổi, nơi định cư và các trường phái; trí tuệ không biên giới; Việt Tính và nhu cầu hội nhập xã hội mới; tình hoài hương với ước mong đóng góp tái thiết và phát triển..

** Chú thích của Toà Soạn: Nếu muốn tìm hiểu thêm về quan điểm của chữ Đạo ở bài này, các bạn hãy tìm đọc thêm các tài liệu sau đây : 1. The Wisdom of Laotse by Lin Yutang. 2. The Tao of Physics by Fritjof Kaparạ 3. Lão Tử của Thu Giang Nguyễn Huy Cần

Vài Ghi Nhận Thay Vì Kết Luận

Giới trí thức ngày hôm nay là hậu duệ của giới trí thức và không trí thức của nhiều thời đại trước. Trí thức của một thời đại là sản phẩm của chính sách giáo dục đào tạo thời đại đó. Địa vị của trí thức trong xã hội được đánh giá theo tiêu chuẩn mà xã hội đó đòi hỏi. Người khoa bảng không tất nhiên là Kẻ Sĩ và ngược lại. Giới trí thức không đồng nghĩa với Sĩ Phu. Kẻ Sĩ tự đặt ra cho mình một kỷ luật nội tâm để tùy việc tùy thời, tùy đối tượng mà ứng xử với ý hướng vì người hơn vì mình, và sẵn sàng vì Nghĩa Lớn mà coi nhẹ mạng sống của chính mình. Kỷ luật nội tâm này, Kẻ Sĩ coi là Đạo (path). Đạo khả Đạo phi thường Đạo.** Qua thời gian và không gian Đạo của Kẻ Sĩ dường như không thay đổi bao nhiêu theo hướng Chân, Thiện, Mỹ.

No comments:

Post a Comment