Dư âm của buổi hội ngộ của những cựu học sinh trường trung học Chu Văn An (CVA) được tổ chức ở "Thủ Đô Người Việt Hải Ngoại", miền nam California, Hoa Kỳ mấy ngày hè, như vẫn còn vang vọng đâu đây:
Dạ tiệc ở Tiểu Sài Gòn - California, Hoa Kỳ * 2 July 2000
"Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau
Bên tiếng ca, tiếng đàn vượt trời cao
Lời vui thắm thiết đưa trao, như khi mới gặp nhau"
(Lam Phương)
Nhìn những chiếc lá đang từ mầu xanh đổi thành vàng rồi đỏ, bị gió cuốn đi báo hiệu trời đã sang thu, những hình ảnh của quá khứ, tưởng đã nằm yên trong quên lãng, nay lại lần lượt trở lại.
Đã học ở trường CVA vào những năm 1959 – 1965, ít có ai mà lại không biết hay nghe đến "Chuồng Ngựa" hoặc "Quân Lao". Riêng đối với tôi, rất nhiều những kỷ niệm của thời mới lớn đã có liên hệ đến hai địa danh có một không hai này.
Chuồng Ngựa
Chuồng Ngựa là một khu đất hình chữ nhật, nằm phía sau những cao ốc của trường Petrus-Ký ở gần công trường Cộng Hòa, gồm đâu khoảng mười mấy, hai chục những căn phòng trệt hơi hoang tàn, nằm giữa một bên là một sân vận động khá lớn, bên kia là một khu đất hoang có những bụi cây xanh, trông ra đường Trần Bình Trọng, khúc giữa hai đường Nguyễn Hoàng và Thành Thái. Khu Chuồng Ngựa thuộc sở hữu của trường Pétrus-Ký, theo chỉ thị của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho Ban Giám Đốc CVA mượn tạm khi trường mới được di cư từ Hà Nội vào Nam theo Hiệp Định Genève năm 1954.
Khác với những trường học tiêu biểu ở Việt Nam, các căn buồng của Chuồng Ngựa có rất nhiều cửa sổ, với kích thước và bài trí không có phòng nào giống phòng nào, đã được chúng tôi truyền miệng với nhau, là nơi lính Nhật dùng làm trại nuôi ngựa trong thời Thế Chiến Thứ II, khi quân đội Nhật Hoàng có lúc đã chiếm đóng Việt Nam. Cho đến giờ này tôi vẫn còn thắc mắc không biết những giấy tờ quan trọng của trường như sổ điểm, hồ sơ, học bạ, đã được cất giữ ở đâu, vì suốt những năm lê la ở Chuồng Ngựa, tôi chưa thấy một cửa sổ hay cửa ra vào nào có cánh cửa đóng được đàng hoàng, chứ chưa nói tới khóa cửa.
Trong một khung cảnh … thiên nhiên (!) như thế, suốt những năm 1959 – 1962, khoảng 400 đứa học trò chúng tôi, ở lứa tuổi 12-15, đã "mài đũng quần" theo học các lớp trung học đệ nhất cấp của trường trung học CVA.
Khí hậu nóng bức của miền Nam đã rất công bình với những tên học trò ham vui chơi như tụi tôi, nhất là cả khu Chuồng Ngựa thời đó được che bằng mái tôn, và không hề biết mặt mũi cái máy lạnh như thế nào. Đã thế, môn thể thao thịnh hành - nhờ tiện và không tốn kém - là những trận bóng đá, đã diễn ra hầu như hàng ngày, trước, sau, và có khi kể cả … trong giờ học! Tôi còn nhớ học trò chúng tôi cả người lúc nào cũng mướt mồ hôi, bết bát với bụi và cát, và ít có đứa nào để ý đến những cánh hoa đỏ rực rỡ trên hai cây phượng vĩ cao lớn khi học ở khu Chuồng Ngựa.
Một trong những căn phòng tôi học rộng mênh mông, các bàn ghế dài chỉ chiếm một nửa trên, chừa lại cả nửa phòng sau đủ rộng để chúng tôi có thể tập dợt … đá bóng (!) trong lúc đợi giáo sư giờ sau. Phòng học này có đến hơn 20 khung cửa sổ, trông ra khu đất hoang, và căn nhà dành cho gia đình ông Tổng (giám thị) Lãng. Nhìn vào các cửa sổ, có lúc tôi tưởng tượng ngày xưa, qua mỗi khung cửa đã thò ra một cái đầu con ngựa của lính Nhật! Tôi còn nhớ có một giờ học nào đó, có lẽ vì đề tài giảng dạy qúa khô khan, nên cứ mỗi khi ông giáo sư quay lên bảng viết thì lại có một tên học trò chúng tôi - đã chuẩn bị sẵn cặp sách gọn gàng, thật nhanh và cố gắng không gây ra một tiếng động nào - phóng mình qua một trong những khung sổ này, trốn ra khỏi lớp! Vị giáo sư có lẽ cũng hơi thắc mắc sao cứ mỗi lần nhìn xuống lại thấy số học trò trong lớp tự nhiên sút giảm đi trông thấy! Cũng ở phòng học này, có khi trong lúc học trò chúng tôi đang lắng nghe các giáo sư giảng bài, cả một đàn vịt - hoặc gà, hay có khi cả … heo (!) - rủng rỉnh đi … diễn hành đằng sau lớp!
Trong một khung cảnh đạm bạc như thế mà chúng tôi đã được học những bài học đa dạng, và có phẩm chất đáng kể. Học trình ban toán (còn gọi là ban B) mà tôi chọn theo học cũng không thiếu những môn như văn chương và nghệ thuật.
Về môn vẽ, lớp tôi học có giáo sư Vũ Đình Ngọc - một họa sĩ có sắc diện già dặn - một lần đặt cái mũ mầu nâu trên một cái ghế đẩu kê cao ngay trước tấm bảng, và chỉ thị cho tụi tôi họa lại cái mũ theo đúng vị trí và hướng nhìn của mình. Khi đi dạo xem lũ học trò múa may ra sao, thầy liếc nhìn thấy "họa phẩm" của tôi, ông đứng lại, chỉ nguệch ngoạc vài nét sửa chữa lên trên cái mũ-trông-như-củ-khoai của tôi, trông đã giống cái mũ hơn là củ khoai!
Thầy dậy môn âm nhạc là nhạc sĩ Chung Quân, tác giả bài hát xưa nổi tiếng, có câu mở đầu "Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh". Tôi còn nhớ rõ những lúc thầy trịnh trọng gõ thanh đũa chuẩn âm, trước khi say sưa đơn ca bài Hòn Vọng Phu:
"Nơi phía nam giữa núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ
Đường chiều mịt mù,
Cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường
Nếp tàn y hùng cường
Vẫn còn bay trong gió
Bóng chàng xa, sắp dần qua"
(Lê Thương)
trước mặt đám học trò ngẩn người, yên lặng lắng nghe - không phải một, mà nguyên cả ba - bài hát đầy những hình ảnh lịch sử này.
Cho đến giờ này tôi vẫn còn có thể lẩm bẩm được những nốt nhạc của một bài dân ca phổ thông của Ý Đại Lợi, cũng do thầy Chung Quân dạy:
"Sòn sòn, đố đố si si
Phà phà, lá lá son son
Mì lá son son, phà phà
Pha mi rề lá son"
Có mấy ai đi học miễn phí mà lại may mắn được đi nghe và được dạy các kỹ thuật của âm nhạc thuộc loại thính phòng quốc tế như tụi tôi?
Những ai đã được học ông thầy dạy môn địa lý ở Chuồng Ngựa chắc chắn sẽ khó có thể quên. Thầy có tên là Đặng Ngọc Thiềm, đã được tụi tôi đặt thêm tên hiệu là Thiềm Thừ. Thầy Thiềm khác hẳn các giáo sư khác ở chỗ giảng bài thì ít, ông luôn luôn bày ra đủ thứ chuyện để chửi bới lũ học trò nhỏ tuổi, ngơ ngác của ông. Người bạn ngồi cùng bàn với tôi một hôm đã bị sỉ vả đến cả nửa tiếng đồng hồ vì "tội" đã viết tên mình trên góc bài làm (để giáo sư biết là của học trò nào lúc trả bài chấm) với tên đệm là X., thay vì nguyên chữ là Xuân: "Cha mẹ anh có đặt tên anh là N. X S. không, mà anh dám tự tiện … đổi tên?!?"
Một anh bạn khác, sửng sốt vì một chuyện gì đó, lỡ buột miệng than "Chết mẹ rồi!" - tương tự như câu "Oh, my God!" của người Mỹ - đã bị thầy Thiềm mạt sát thậm tệ, và được ban cho một thứ đặc ân thật độc đáo: "Tôi cho phép anh được nghỉ học hôm nay, để về nhà xem mẹ anh có chết thật chưa!?!"
Là một trong những giáo sư có vẻ sung túc nhất, chiếc xe hơi hiệu Vauxhall mầu vàng của thầy Thiềm - hay được đậu ở phía sau Chuồng Ngựa, cạnh sân vận động - thường xuyên bị lũ học trò chúng tôi "giận cá chém thớt": hôm thì bánh xe - có khi cả bốn! - bị cho xì hơi, lúc thì cần ăng-ten bị bẻ gẫy, v.v.
Bây giờ nhìn lại, rõ ràng thầy Đặng Ngọc Thiềm tuy có thể thuộc loại người thích toàn hảo (perfectionist), hay muốn uốn nắn lời ăn tiếng nói của lũ học trò nhỏ dại, nhưng đã khủng bố tinh thần bọn học trò chúng tôi suốt mấy năm trời!
Một thái cực với thầy Thiềm là thầy dạy Anh văn của chúng tôi, giáo sư Lê Hữu Phụng.
Trường Chu Văn An ở khu Chuồng Ngựa
Trước Một Lớp Học – Năm 1960
(Ảnh của Hoàng Vĩnh Tiến)
Theo chương trình của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, học sinh trung học chúng tôi được chọn hoặc Anh hay Pháp văn là môn ngoại ngữ chính; sinh ngữ kia sẽ đương nhiên là ngoại ngữ thứ hai. Tôi đã chọn Anh văn chỉ vì đã rất ớn những khúc mắc khi phải chia "véc-bờ" trong tiếng Pháp, dù lúc đó tôi đã được "tuyên truyền" khá kỹ rằng tiếng Pháp mới là ngôn ngữ của tình yêu. Ở Chuồng Ngựa, giáo sư Lê Hữu Phụng là vị thầy đầu tiên đã giảng dậy chúng tôi bập bẹ những ngôn từ căn bản của Anh ngữ.
Lúc học thầy Phụng tôi đã thấy ông chẳng có gì đặc biệt, ngoại trừ điểm mà lúc đó ai cũng thấy: thầy là một giáo sư tận tụy và có vẻ rất yêu nghề "gõ đầu trẻ" – xin các độc giả đừng quên rằng lúc đó học sinh chúng tôi mới chỉ có 13, 14 tuổi. Mãi đến cả 30 năm sau, tôi mới thấy rõ ông lại còn rất giỏi tiếng Việt, đồng thời có thể là một trong những dịch giả hiếm có của Việt Nam, và đã cố gắng - dù chỉ qua những bài học của môn Anh văn - truyền dậy đám học trò "miệng còn hôi mùi sữa" những bài học dạy làm người rất có giá trị.
Chương trình Anh ngữ hồi đó được đặt căn bản trên bộ sách "Practice Your English". Không biết trong trường hợp nào, giáo sư Phụng đã cho chúng tôi học bài thơ có tựa đề "If" của thi sĩ người Anh, Rudyard Kipling. Để giảng dậy ý nghĩa từng chữ của các câu thơ, thầy đã phải chuyển qua Việt ngữ trọn bài thơ gồm 32 câu, với 294 chữ (Nguyên bản bài thơ có thể tìm thấy ở http://rudyardkipling.cjb.net/).
Tưởng cũng nên biết bài thơ mà giáo sư Phụng chọn cho chúng tôi học có xuất xứ rất đáng để ý, mà hồi ở Chuồng Ngựa chúng tôi đã chẳng mất công tìm hiểu. Kipling sinh năm 1865, mất năm 1936, được trao giải Nobel về văn chương năm 1907. "If" là một trong khoảng rất nhiều tác phẩm trong số đó có khoảng 300 bài thơ như các bài Prelude, To The True Romance, và The Stranger.
Tôi chỉ còn nhớ vài câu, như hai câu ở giữa bài thơ,
"Or watch the things you gave your life to, broken,
And stoop and build 'em up with wornout tools;"
đã được giáo sư Phụng dịch thành:
"Nếu chẳng may tan vỡ cả cơ đồ,
Biết cúi xuống vôi hồ xây dựng lại."
Và bốn câu kết,
"If you can fill the unforgiving minute
With sixty seconds' worth of distance run -
Yours is the Earth and everything that's in it,
And - which is more - you'll be a Man, my son!"
được chuyển thành:
"Nếu một phút không buông tha ngừng nghỉ,
Sáu mươi giây, không bỏ phí giây nào
Thì của con là tất cả Địa Cầu,
Và hơn nữa, con thành Người, con ạ!"
Những chữ dịch thật là tài tình đến sửng sốt, nhưng lại tự nhiên như những tiếng Việt vốn có từ nghìn xưa (giống như triết gia - đồng thời cũng là thi sĩ - Bùi Giáng đã dịch "Terre Des Hommes" của Saint Exupéry là "Cõi Người Ta", và một dịch giả nào đó đã gọi AIDS là bệnh "liệt kháng"), nhất là bên trên các chữ, những câu dịch còn bị ràng buộc bởi khuôn khổ và vần điệu của luật thơ. Người đọc - nếu không được dẫn giải - dễ tưởng đây là những câu thơ được sáng tác nguyên bản bằng Việt ngữ.
Mãi đến sau này tôi mới được biết bài thơ "If" đã được phiên dịch ra nhiều chục ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Riêng cho tiếng Việt, đã có hai, ba bản dịch - trong đó có bản của nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc - nhưng chưa thấy bản nào có thể so sánh với tác-phẩm-dịch-thuật của giáo sư Lê Hữu Phụng.
Học ở Chuồng Ngựa cho đến đâu hết lớp Đệ Tứ, cuối mùa xuân năm 1962, chúng tôi được thông báo niên khóa tới sẽ được chuyển qua học ở một ngôi trường mới xây trên một khu đất ở góc đường Minh Mạng - Triệu Đà, thuộc vùng Ngã Sáu trong Chợ Lớn.
Không dằn được sự nôn nao, tôi đã tìm đường đến để xem Trường Mới có mặt mũi như thế nào. Thật là ngoài sự mong ước của tôi, ngôi trường quả thật mới chưa cắt chỉ, được xây trên một khu đất góc hai đường nhựa, đối diện với một công viên thanh lịch, ở giữa có một nhà thờ công giáo có kiến trúc Gothic rất mỹ thuật và trang trọng. Bên trong một hàng rào gạch có hai cổng sắt lớn - mỗi cái ở một phía đường nhựa - Trường Mới gồm ba dẫy cao ốc nối với nhau bằng một hành lang, mỗi dẫy có hai tầng trên gác, tổng cộng trên dưới 45 lớp. Tôi đã mấy lần xé rào, lén vào xem bên trong vài lớp học trước khi niên học mới bắt đầu. Tôi còn nhớ chi tiết mà tôi thích nhất là tấm bảng sơn mầu xanh lá cây kéo dài hết chiều ngang của các phòng học; đồng thời, tất cả lớp đều có kích thước và trang bị giống nhau.
Vị hiệu trưởng có công trong việc sở hữu ngôi trường mới này là thầy Trần Văn Việt, nhiệm kỳ 1957-1963. Cuối hè năm 1962, các lớp đệ nhị cấp đã được di chuyển về trường mới; còn các lớp đệ nhất cấp phải đợi đến qua năm sau.
Như vậy, kể từ khai giảng niên khóa cho năm 1963, chúng tôi đã chính thức chào giã từ hai cây phượng vĩ ở khu Chuồng Ngựa: Tất cả các lớp của đệ nhất lẫn đệ nhị cấp đã được xum họp ở trường Trung Học Chu Văn An với phòng ốc khang trang riêng của mình, được xác nhận bằng không phải chỉ một mà những hai bảng - trên mỗi cổng sắt - đề tên trường, sau đâu cả 9 năm "ăn nhờ, ở đậu" ở một trường bạn.
Quân Lao
Lần đầu tiên trong đời tôi bị đi tù là ở Quân Lao trong thời gian học ở Trường Mới. Theo vài thân hữu CVA tôi gặp hôm Hội Ngộ đã cùng xác nhận, biến cố này đã xảy ra vào sáng ngày thứ hai, mùng 9 tháng 9 năm 1963, lúc chúng tôi mới bắt đầu học lớp Đệ Tam, tức là năm tôi 16 tuổi. Tôi còn nhớ không khí Sài Gòn lúc đó rất sôi nổi và "ngạt thở" với những tin tức biểu tình, vây chùa (như chùa Xá Lợi, Viện Hóa Đạo), giới nghiêm, bắt học sinh (các trường Trưng Vương, Gia Long) dồn dập xảy ra trong biến cố Phật giáo. Chuẩn bị đi học buổi sáng ngày đầu tuần hôm đó, tôi đã có linh cảm một chuyện gì đó sẽ xảy ra ở trường tôi.
Một thân hữu CVA (N. D. Chinh) đã nhớ lại như sau: "Tôi ngồi trong lớp nhìn ra, thấy mấy nhóm cảnh sát đặc biệt (hay dã chiến - tương đương với cảnh sát chuyên dẹp biểu tình, được trang bị bằng dùi cui, khiên chắn, mũ sắt, và có thể cả lựu đạn cay) từ nhiều hướng khác nhau, bao vây và tiến vào các phòng học, vừa đi vừa vung dùi cui đánh những học sinh còn ở ngoài sân chưa chạy kịp. Các lớp bị bắt gồm 2 lớp Đệ Tứ, khoảng 8 lớp Đệ Tam, 8 lớp Đệ Nhị; Đệ Nhất học buổi chiều nên thoát nạn. Những lớp bị đánh đau nhất là những lớp Đệ Tứ và Đệ Tam ở từng trệt. Anh em chúng ta đã bị bao vây, tống lên xe cây có bạt che bít bùng, đưa thẳng về một nơi mới được cất lên để giam giữ những quân nhân phạm kỷ luật, gọi là Quân Lao ở Gò Vấp. Phần lớn các anh em chúng ta đã bị giam ở Quân Lao qua một đêm, sáng hôm sau các lớp Đệ Tứ và Đệ Tam bị chuyển về trụ sở Cảnh Sát Quốc Gia trên đường Trần Hưng Đạo, bị giữ thêm một, hay hai tối nữa để được lăn tay, chụp hình, và gia đình bảo lãnh về trong ngày thứ ba, hay thứ tư. Khi bị giam trong Quân Lao, các "tù nhân" được phát mỗi hai đứa một hộp cá mòi để ăn với bánh mì. Khi trở lại học, anh em chúng ta phải có giấy bảo đảm của gia đình - đích thân cha mẹ hay người giám hộ đến ký giấy tại trường CVA - mới được vào học."
Theo P. N. Tiêm, "Đồ ăn trong Quân Lao gồm có bánh mì, cá mòi hộp, chuối, và nước uống, đã được chính phủ cung cấp sau khi một số ‘tù nhân’ kêu thét ‘đói!’ trong phòng giam. Riêng cá mòi, vì các hộp cá có vỏ bằng thiếc, mà lại không được cho đồ mở, trong lúc quá đói bụng, chúng tôi đã không ngần ngại, lui cui mài cạnh hộp cá mòi trên sàn xi măng dơ bẩn, đầy bụi bặm, cho đến khi thấy và moi được cá ra ăn! Có một lớp trên lầu hai, trông qua Nhà Thờ, nhờ sự giám sát chặt chẽ của giáo sư Phong (Lửa), đã không thành hỗn loạn, nên cảnh sát dã chiến đã để yên, tha không áp tải một học sinh nào trong lớp này lên xe cây đi Quân Lao."
Riêng tôi còn nhớ thêm vài chi tiết bổ túc: Sáng sớm lúc bước lên cầu thang để vào lớp, tôi đã thấy một hai thanh niên lạ mặt tuyên truyền xách động. Ở một lớp bên cạnh, khung ảnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm treo trên tường, đã bị ai giật xuống, đập vỡ. Có nhiều anh em ta bị cảnh sát đánh khá đau, như bạn Minh (Râu) của tôi khi gặp trong Quân Lao, tôi đã không nhận ra vì cả cái đầu cũng như bộ mặt của Minh đã bị xưng to gấp cả ba lần lúc thường! Một trong những lý do cảnh sát đặc biệt tấn công phe ta khá nặng tay cũng vì phe ta cũng chẳng hiền lành gì: Tôi có nhìn thấy một số anh em trang bị gậy và đá, nghinh chiến cảnh sát; một nhóm khác khệ nệ kéo luôn cả cái bàn dài và nặng cả trăm kí-lô, ném qua lan can tầng hai hay tầng ba, cho rơi lên đầu các ông "bạn dân" ở dưới sân. Có lẽ chúng tôi đã là những người đầu tiên "khai trương" khu Quân Lao, vì tôi còn nhớ những giá gỗ ba, bốn tầng cho các tù nhân nằm trông mới tinh, và còn thoảng mùi gỗ tươi. Cho đến giờ này, tôi vẫn thắc mắc không biết có anh em CVA nào bị chết, hay thương tật vì cuộc tấn công và giam giữ này không? Và chính phủ có thông báo gì về việc bắt giam này hay không?
Bạn đường ngắn ngủi
Trong những năm học ở Trường Mới, tôi đã quen biết và hay giao du với Đặng Tuấn Long.
Tấm hình độc nhất về CVA hiện tôi còn giữ được (do các em tôi mang tay qua trao lại cho tôi ở San Diego, khi các em tôi được di dân qua Mỹ theo chương trình ODP năm 1987) chụp trong một lớp học trên lầu của Trường Mới trông ra công viên nhà thờ, cũng có Long cùng với một số thân hữu khác.
Trường (Mới) Chu Văn An
Trong Lớp Đệ Nhị B1 - Năm 1964
Mặt sau tấm ảnh có ghi: "Giữa trưa, bụng đói, mà vẫn cười nhe răng!"
Trước ngày bỏ nước ra đi, tôi đã có nhiều kỷ niệm với Long. Lúc còn học ở CVA, Long đã có lần cắm cúi chùi bu-gi, sửa chiếc xe Solex - cứ ‘xô’ cái máy phía trước xuống, xe sẽ tự động … ‘lết’ đi! - của tôi để tôi có thể kịp về nhà trước giờ giới nghiêm. Lớn lên, Long và tôi cũng đã nhiều lần bù khú ở mấy quán nhậu ở Sài Gòn những năm 1970 - khi Long đang theo học y khoa ở Sài Gòn, và tôi được về nước nghỉ hè lúc còn du học - và 1973, khi cả hai đứa chúng tôi đều đã tốt nghiệp và đang bắt đầu làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.
Khác với như hồi còn ở CVA, về sau này Long và tôi đã trao đổi với nhau những nhận xét và thái độ về cuộc chiến, đất nước, cũng như những mong ước về tương lai. Tôi vẫn nhớ rõ là tôi thích nhất lập trường rất rõ ràng, và không nhân nhượng của Long, theo kiểu:
"Xin đừng thứ tha tôi, nếu một ngày thơ tôi đầy tiểu xảo,
Một ngày nào, máu chẩy ngược đường tim"
(Nguyễn Nam Trân)
Từ Ngày Đổi Đời, qua Mỹ, tôi có dịp đi hầu hết những thành phố lớn, nơi có đông dân Việt định cư. Ở đâu tôi cũng đã để ý tìm kiếm, hy vọng một ngày nào đó sẽ bất ngờ trông thấy quảng cáo của "Phòng Mạch Bác Sĩ Đặng Tuấn Long"!
Thế rồi thay vì thấy phòng mạch, đầu năm 1999 tôi đã tình cờ gặp lại H. - trước kia cũng đã học ở CVA với Long và tôi - ởThủ Đô Người Việt Hải Ngoại, đột ngột cho biết đã cùng bị giam với Long ở Trại Tù "cải tạo" ở Kà Tum thuộc tỉnh Tây Ninh, và Long coi như đã chết trên đường vượt trại giam! Cái chết của Long được ghi lại trong chuyện "Tuôn Trào Ra, Hỡi Nước Mắt!" đăng trên Đặc San "Vàng, Máu, và Nước Mắt" do Hội Y Sỹ Việt Nam Tự Do phổ biến trong Đại Hội cuối tháng 7, năm 2000 ở thủ đô Paris bên Pháp, được mô tả như sau:
"Một xác người nằm chơ vơ một mình bên rặng tre già. Tôi không thể nhận ra là ai được: Xác đã phình to, cả khuôn mặt thì đã biến dạng vì thời gian, vì lũ kiến rừng, và có thể là các loài dã thú khác.
Người đầu tiên cất tiếng khóc lớn là cô Gái:
"- Đúng là anh ấy rồi!"
"- Sao cô biết?"
"- Đôi giầy này là của em cho anh ấy! Bộ quần áo này là của em cho anh ấy. Cái ba-lô này là của em cho anh ấy, và cả cái khăn mùi xoa có thêu tên này cũng là của em!"
Tôi vẫn còn bán tín bán nghi, thì cô Gái bỗng rú to:
"- Anh ơi! Anh thấy cái gì đây không?"
Và cô cúi xuống, cố tháo chiếc nhẫn vàng có mặt đá mầu xanh mà tôi đã cố ý đập vỡ. Chiếc nhẫn ‘University of Wisconsin’ mà tôi đã nhờ cô đưa lại cho Long mới hôm nào. Người tôi như bị đông cứng lại! Trong tiếng gió rừng lao xao, chỉ nghe rõ tiếng khóc nức nở ‘Anh ơi!’ của cô Gái vang trong rừng chiều. Hôm đó là một ngày hạ tuần tháng 5, năm 1978."
Long chết như vậy tính ra, lúc mới có 31 tuổi. Thật là quá trẻ, và đáng tiếc nhất là chết thật bất ngờ và qúa đỗi thương tâm, lúc mới tốt nghiệp bác sĩ, tràn đầy nhựa sống, đang hăng say thi thố tay nghề chuyên môn, trong khi tuyệt đối tin tưởng vào chính nghĩa quốc gia.
Hết còn hy vọng gặp lại Long, thôi phải mất công tìm kiếm, trong khi trong lòng cảm thấy dâng lên một sự trống vắng, tôi lang thang về vùng núi non cổ của Hy Lạp, và đọc thấy trong "Ethique à Nicomaque", Aristote viết về tình bạn như sau:
"Tình bạn là điều cần yếu trong cuộc đời. Không bạn bè, chẳng ai thiết sống, mặc dù có tất cả những phúc lộc khác (…). Lúc nghèo túng hay khi bất hạnh, người ta vẫn nghĩ bạn bè là nơi nương tựa duy nhất. Tình bạn giúp cho kẻ thanh niên tránh khỏi những sai lầm, mang lại cho sự chăm sóc và khả năng hành động khi sức lực đã suy giảm; tình bạn còn thúc đẩy tuổi trung niên vào những hành động cao đẹp (…).
Tình bạn là giềng mối của xã hội. Kẻ phải đặt nền móng, kỷ cương cho các thành quốc đánh giá tình bạn hơn cả công lý. Bởi vì sự hòa hợp – cái phảng phất như tình bạn – là điều mà họ tìm kiếm trước tiên, trong khi điều mà họ muốn trục xuất ra khỏi thành quốc hơn hết chính là sự phân hóa chính trị, kẻ thù của tình bạn. Khi làm bạn với nhau, người ta không cần đến công lý; ngược lại, ngay cả khi là kẻ công minh, người ta vẫn cần đến tình bạn. Công lý, ở điểm hoàn thiện nhất, có cái gì giống như tình bạn từ bản chất".
"Truyền thống Chu Văn An"
Học trò của trường nào thì cũng nên tìm hiểu để biết về quá khứ của tên người đã được đặt cho trường mình. Một thi sĩ nổi tiếng có viết:
"Tuổi thơ thơm đất Việt,
Hồn chữ nhớ ông Chu"
(Vũ Hoàng Chương)
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do sử gia Ngô Sĩ Liên biên soạn, ông Chu Văn An tên thật là Chu An, tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, sinh năm 1292 và mất năm 1370 vào đời Trần. Ông người thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Uyên bác và nổi danh tài cao đức rộng, ông đã được vua Trần Minh Tông (1314-1340) bổ làm Quốc Tử Tư Nghiệp để dậy cho thái tử học. Đến đời Trần Dụ Tông (1341-1368), vua không chăm lo việc nước, trong triều quan quân cấu kết lộng hành, ông khuyên ngăn không được, với tính cương trực ông đã dâng cho vua "Thất Trảm Sớ" xin vua chém bẩy tên nịnh thần có thế lực trong triều để chấn chỉnh kỷ cương phép nước. Sớ không được vua trả lời, ông liền trả áo mũ từ quan, về núi Phượng Hoàng ở ẩn và dậy học, cùng làm lương y giúp dân làng. Học trò xa gần đến học rất đông; trong số có những người như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát làm đến Hành Khiển. Tài đức của ông được người người ngợi khen, vua lại vời vào trao việc triều chính, nhưng ông từ chối. Ông là một trong những nhà Nho đầu tiên có tác phẩm bằng tiếng Nôm. Tác phẩm của ông gồm có "Quốc Văn Thi Tập", "Tử Thư Thuyết Ước" (Soạn để dạy Thái Tử học), "Tiều Ẩn Thi Tập". Khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông truy tặng ông tên thụy là Văn Trinh Công (hay Chu Văn Trinh, hoặc Chu Văn An), hiệu là Khang Tiết và thờ phụ ở Văn Miếu. Dân chúng đã lập đền thờ cho ông tại núi Phượng Hoàng (còn gọi là núi Kiệt Đặc thuộc xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương). Núi này có hình dáng chim phượng hoàng đang tung cánh trên vùng núi non, phong cảnh rất hữu tình, đã thu hút rất nhiều các bậc danh sĩ các thời về thưởng ngoạn và trí sĩ.
Sau 90 năm trường trung học phổ thông mang tên Bưởi - Chu Văn An đã đào tạo được rất nhiều nhân tài hay chức sắc như giáo sư triết - đồng thời là thi sĩ - Nguyên Sa, khoa học gia Nguyễn Xuân Vinh, Phó Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Cao Kỳ, người tù lương tâm giáo sư Đoàn Viết Hoạt, v.v. Những đặc tính có kiến thức sâu rộng, thanh liêm, cương trực, coi nhẹ lợi danh, và yêu quê hương của ông Chu Văn An vô hình chung đã trở thành phương châm hay truyền thống, như một học sinh lúc đang học lớp Đệ Nhị ở CVA có bày tỏ cảm tưởng:
"Nuôi máu nóng trong ngôi trường nhỏ hẹp
Để ngày mai tung cánh khắp ngàn phương
Ta đạp núi, xô sông, vượt sóng trùng dương
(…)
Viết ngang trời ba chữ CHU VĂN AN"
(Đặng Đức Kiệm)
Một cách khách quan, có một vài điểm liên hệ đến "truyền thống CVA" tôi thấy cần phải được làm sáng tỏ vì thường dễ bị ngộ nhận.
Oâng CVA đã là một gương mẫu làm người (role model) của kẻ sĩ hiếm có, thích hợp, và cần thiết trong xã hội Việt nam thời ông sống. Tuy nhiên vì môi trường xã hội trong đó con người sinh sống luôn luôn thay đổi, một gương mẫu làm người muốn thích hợp, cần phải được cập nhật. Như trong hiện trạng Việt Nam, lối sống ở ẩn, cũng như có nhiều học trò độc lập với giới cầm quyền độc tài là chuyện khó có thể xẩy ra.
Học sinh trường CVA khác với việc được là học trò của ông CVA. Không thể so sánh Nguyễn Cao Kỳ với Phạm Sư Mạnh hay Lê Bá Quát. Mặt khác, học sinh tốt nghiệp trường CVA không phải ai cũng đều phản ảnh những đặc tính của ông CVA.
Ngược lại, và như một hệ luận, kẻ sĩ tân thời - rất cần cho hiện trạng nhiễu nhương và suy đồi ở Việt Nam - không bắt buộc phải là cựu học sinh trường CVA. Thí dụ như tác giả của những câu như: "Là một người Việt Nam có giáo dục, có văn hóa, không ai có thể cho phép mình tảng lờ, dấm dúi trong xó, kiếm ăn một mình, mà phải đứng ra nơi sáng sủa, nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình với sự huy động cao nhất của ý thức trách nhiệm và trí tuệ." là Hà Sĩ Phu - bút hiệu của ông Nguyễn Xuân Tụ, một khoa học gia được đào tạo ở Đông Aâu, đang bị cô lập và khủng bố ở Đà Lạt vì những nhận xét trung thực về đất nước - cũng phản ảnh vài đặc tính hiếm có của kẻ sĩ.
Trường CVA đã có thể mang bất cứ một tên XYZ gì đó, nhưng vẫn đã có thể nổi tiếng, thật ra vì đã có ít nhất ba yếu tố ít có trường nào khác hội đủ: Trước hết, trường CVA có quá trình lâu dài, bắt đầu từ năm 1907, khi còn là Trường Bưởi. Thứ hai, tiêu chuẩn để được tuyển chọn vào học trường CVA rất cao và khó: Nếu CVA là một đại học, nó phải được xếp hạng ngang với các trường thuộc Ivy League của Mỹ, hay Grandes Écoles của Pháp. Do đó, tốt nghiệp trường CVA có thể được coi như thuộc loại tinh hoa ("cream of the crop") của giới thanh niên Việt Nam. Thứ ba, học trình ở trường CVA - ngoài các môn khoa học - còn có dạy về lòng yêu nước (như của giáo sư Nguyễn Can Mộng ở Trường Bưởi), cũng như công dân giáo dục, nghệ thuật và văn chương. Những bài học đa diện và chuyên biệt này đã uốn nắn, tạo căn bản cho học trò từ lúc còn non dại, nên khi lớn lên ra đời, học sinh dễ phát triển tối đa được những năng khiếu, đồng thời có thể giữ vững được niềm tin, khí tiết, khó bị trao đảo trong cuộc sống, nhất là khi phải sống ở nơi xứ người.
Với một bối cảnh như thế, có lúc tôi băn khoăn tự hỏi "Mình ra trường cũng đã cả ba, bốn thập niên rồi, không biết trong số hàng ngàn các cựu học sinh trường Bưởi – Chu Văn An, một thứ ‘ông không ra ông, thằng chẳng ra thằng’ có xứng đáng với truyền thống Chu Văn An không?" Không trả lời nổi câu hỏi này, nên tôi đành lẩn quẩn với những chuyện khác.
Thay lời kết
Giáo sư họa sĩ Vũ Đình Ngọc: Xin tạ lỗi đã phụ công lao dậy vẽ của thầy: Cả ba, bốn chục năm sau, tên học trò ngu tối của thầy - có lẽ vì không có khiếu trời cho - vẫn chưa vẽ được cho ra hồn, dù chỉ là vẽ … củ khoai!
Một điều đáng tiếc là giáo dục sinh lý đã không được dạy trong học trình của các trường trung học hồi đó, trong khi giáo sư môn vạn vật của chúng tôi (thầy Nguyễn Ngọc Quỳnh) dạy rất giỏi, nhất là với tài vẽ các bộ phận của thân thể người ta bằng phấn mầu rất công phu trên bảng. Hậu quả là đa số học sinh chúng tôi lúc đã 17-18 tuổi, mà vẫn rất mù mờ về sinh lý học thực nghiệm, cứ bị những hình ảnh như "Nam nữ thọ thọ" … có thai (!) ám ảnh, chẳng biết hư thực ra sao!
Giáo sư nhạc sĩ Chung Quân đã được học bổng du học ở Texas - từ trước năm 1975 - về ngành địa chất học. Theo giáo sư Lưu Trung Khảo - dạy các lớp đàn anh ở CVA - thầy Đặng Ngọc Thiềm đã qua đời.
Giáo sư Lê Hữu Phụng: Đầu năm 1999, với hy vọng giúp vui, và liên lạc lại với thầy, tôi có gửi bằng bưu điện đến địa chỉ B. B. Sơn cho, một Đặc San Xuân do Hiệp Hội Người Việt ở San Diego ấn hành: Một tháng sau, báo bị gửi trả lại vì không có người nhận. Trong khi đang sửa chữa bài viết này, qua hai vị giáo sư quen biết với thầy Phụng, tôi đã điện thoại được với thầy. Bằng email, thầy có tâm sự: "Những ngày dạy học ở Chu Văn An là những ngày đẹp nhất trong đời tôi, lúc lý tưởng của tuổi thanh niên còn hừng hực trong lòng và lúc không khí nhà trường còn có những khuyến khích cho nghề thầy giáo, không phải như ở Việt Nam sau này và ở Mỹ bây giờ. Sang Mỹ, đáng lẽ có thể tiếp tục theo đuổi nghề này như một số bạn bè đã làm, tôi đã chọn đổi sang ngành điện toán ngay từ đầu, và làm việc liên tục từ 1980 đến nay là 20 năm. Còn vài tháng nữa tôi sẽ về hưu và sẽ chọn một vùng nắng ấm hơn Boston, Massachusetts." Tôi lại được học lại - lần thứ hai - tất cả 32 câu bài thơ "If" mà thầy đã dịch ra Việt ngữ để dạy chúng tôi hồi ở Chuồng Ngựa, và có đề nghị với thầy nên về hưu ở nam California.
Nghĩ đến Đặng Tuấn Long: Tôi có tưởng tượng ra một đám tang. Thân nhân và bạn bè người mới chết được đưa lên một chiếc thuyền kiểu cổ xưa với những lá buồm cong hình tam giác cao lớn. Không thấy chiếc quan tài như trong các đám táng khác. Chiếc thuyền lướt ra xa giữa biển trong lúc mặt trời vừa xuống. Giữa trời và nước - lúc đó đã không còn nhìn thấy ranh giới - mênh mông, một tiếng hát giọng nữ bỗng cất lên cao vút chập chùng trong tiếng nhạc đệm, theo những cơn gió mát hòa nhập với thiên nhiên:
"Anh nằm xuống
Như một lần vào viễn du
Đứa con xưa đã tìm về nhà
Đất hoang vu khép lại hẹn hò
Người thành phố, trong một ngày đã nhắc tên
Những sớm mai lửa đạn
Những máu xương chập chùng
Xin cho một người vừa nằm xuống
Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang"
(Trịnh Công Sơn)
Rồi một giọng trầm ấm thông báo "Tro hỏa thiêu của nguời quá cố đã được nạp vào các thanh pháo bông, sắp sửa được bắn lên không trung trong vài phút tới!" … Bạn đường ơi! Khi tôi đi, xin hãy tiễn tôi như thế, để tôi thành tro bụi "thăng thiên", cũng xong một kiếp người …
Tôi chưa bao giờ trở lại Chuồng Ngựa, kể từ mùa hè năm 1962, nơi đã từng uốn lưỡi, bập bẹ những tiếng Anh đầu tiên, được dạy những công thức toán học sơ đẳng, thấy những phản ứng hóa học như xem trò ảo thuật, biết những mạch máu nối vào trái tim, cũng như được giới thiệu với Thúy Kiều, và tập giơ tay đánh các nhịp điệu 2/4, 3/4, 4/4, v.v. Đã qua cả bốn thập niên rồi, vốn đã hoang tàn như thế, không biết Chuồng Ngựa bây giờ có còn không?
Tôi cũng chẳng bao giờ trở lại Trường Mới kể từ mùa hè năm 1965, dù đã - sau một chuyến đi xa - về làm việc ở Sài Gòn năm 1972. Theo các tin đồn nghe được, cuối năm 1978 trường Chu Văn An đã bị nhà cầm quyền cộng sản đổi tên thành Trường Huấn Nghệ Phổ Thông Lao Động; các thầy hoặc là về hưu, nghỉ dậy hay qua các trường khác như trường Lê Hồng Phong (Pétrus-Ký cũ), Lê Qúy Đôn, v.v. Đến đâu năm 1996, trường lại được mang tên cũ là Chu Văn An, nhưng không biết các giáo sư ngày trước có được trở lại trường để dậy và trao truyền tinh thần bất khuất, yêu quê hương của Chu Văn An không?
Giờ đây, lưu lạc trên xứ người, cách xa ngôi Trường Mới cả nửa quả địa cầu, hình ảnh như vẫn muốn "trơ gan cùng tuế nguyệt" của ba dẫy phòng học cao hai tầng gác, mà tôi nhìn
Cổng trường Chu Văn An – Năm 2000
(Ảnh của giáo sư Phạm Xuân Lượng)
thấy trên Mạng Lưới Điện Toán Internet, đã khiến tôi liên tưởng đến câu hỏi của thi sĩ Vũ Đình Liên:
"Năm nay, đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu, bây giờ?
Ngoài kia, không có hoa đào, cũng chẳng có hoa phượng vĩ; chỉ thấy những chiếc lá cây phong (maple) vàng, đỏ bị những cơn gió khôn nguôi bứt lìa cành, cuốn rơi lả tả rồi lượn xoay trên mặt đường. Những đám mây thấp, mầu xám đậm vần vũ trên trời, như muốn khởi xướng cho cơn mưa đầu mùa.
Nguyên Giao
San Diego, Hoa Kỳ
Mùa Lá Rụng, năm 2000




No comments:
Post a Comment