Hải Điểu
" Ai có về trên phố Bolsa
Nhắn dùm cô Mít tôi thương
Xin đừng lĩm chĩm đi luôn"
Đó, Bolsa đó, Little Saigon đó! Nó đã vùng lên, vươn vai, thò được bàn chân vào ca dao Việt Nam như thế đó. Nó đã đưa mông ngồi ghé vào được một nửa ghế trong văn học sử, bành trướng sống hùng, sống mạnh kiêm luôn sống dai đến ngày nay để trở thành một nơi phồn hoa đô hội, Trái Tim của người Việt tại hải ngoại.
Nhớ lai những ngày đầu năm 74. Dạ vâng, đúng đấy ạ, 74 chứ không phải 75 đâu ạ, lang thang đặt chân đến vùng Orange County của Cali này thì kiếm không ra một bóng Mít nào ở đây cả, chứ đừng nói chi đến 1 Tiểu Saigon. Số là tôi là kẻ giang hồ, bạ đâu ở đó, bạ gì ăn đó, tang bồng hồ thỉ, lang thang đây đó, lấy nệm làm giường, lấy gối kê đầu, sau khi đã lêu bêu hết Tân Tây Lan và Úc Đai Lợi, rồi Singapore, Việt Nam, lại lò dò qua Mỹ, 1971 đã có mặt ở Mỷ. 1974 lại mò qua Mỹ thêm một quả nữa. Đi đến đâu cũng tìm ngó dáo dác xem có gặp phe ta không, giống như cụ hiền triết nào đó của Hy lạp, giữa ban ngày đốt đuốc đi tìm người quân tử mà chẳng bao giờ gặp. Ăn hamburger, hotdog, gà chiên của Mỹ mãi, có thèm đồ ăn Á châu, cũng chỉ có cách tìm vào tiệm Tàu. Nói chi đến phở, hủ tiếu, chả giò, vv..., chúng mãi mãi vẫn chỉ là món ăn trong tưởng tượng, giống như nhiều anh em trong trại cải tạo ăn hàm thụ vậy. Đời sống hồi đó ở Mỹ cũng buồn buồn là. Buồn gần bằng thời gian đi tu ở Tân Tây Lan đấy các cụ ạ! Không trách các em Mít theo chồng về Mỹ vào các thập niên 60, 70 hồi đó cảm thấy buồn quá. Buồn đến độ thỉnh thoảng các em đi chơi phố, đi chợ, tiệm, gặp được các anh phe ta sang du học, tu nghiệp là các em mừng ghê lắm, mời đến nhà chơi, nấu cơm Việt Nam cho ăn, chở đi chơi vv... làm nhiều anh vừa thích vừa rét, sợ anh chồng Mỹ ghen ục cho vài quả hoặc móc súng ra phơ. Nhiều em còn lãng mạn đến độ yêu luôn các anh , ôm chầm lấy các anh, khóc như cha chết, ướt đẫm áo vét anh, đòi bỏ chồng Mỹ theo luôn các anh về Việt Nam nếu các an h chịu ra tay tế độ, thương cho cảnh thân gái dậm trường, đường xa xứ lạ, đất khách quê người. Nhưng các anh cũng khôn tổ mẹ. Các em thương thì anh xin thương lại chứ nhất định không phụ lòng nhau. Nhưng bảo các anh dẫn luôn em về nước làm vợ thì bố bảo các anh cũng không dám.
Cuối thập niên 70, những cơ sở kinh doanh đầu tiên của người Việt trên đường Bolsa đã bắt đầu xuất hiện. Từ một khu ngoại ô hoang vắng của thành phố Westminster, tiểu bang California, Tiểu Saigon bắt đầu thành hình. Sang đến đầu thập niên 80 đã bắt đầu khá đông vui. Từ một tiệm sách báo băng nhạc Tú Quỳnh, một nhà hàng Thiên Cung( sau đổi là Thành Mỹ), một Catinat pharmacy ở khu Bolsa mini mall, phe ta đã như vết dầu loang mở thêm một lô các cơ sở khác. Tiệm sách, nhà hàng, chợ buá, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, tiệm thuốc tây mọc lên như nấm. Càng đông càng vui, càng lắm chuyện. Có một dạo phong trào phở lên cao như núi, cả nước bán phở, gần như vài ngày lại có nột tiệm phở mới. Các nhà hàng đã mở từ trước cũng kẻ thêm bảng phở cho có với người ta. Thành ra nhân loại đâm bỡ ngỡ khi thấy cùng một nơi, một chủ, một tiệm ăn mà lại có hai tên, thí dụ: Nhà Hàng Saigon Deli - Phở Công Lý ( 2 bảng, 1 trên một dưới, bảng dưới hình như lớn hơn bảng trên ), Restaurant Ngân Đình - Phở Hạnh , Nhà Hàng Thanh Vị - Phở Tàu Bay, vv... Anh nào cũng nhận mình là ngon nhất trên cái cõi đời này, chính hiệu phở gia truyền Hàng Than Hà Nội, cháu nội cuả phở 79 Võ Tánh Sài Gòn, con rể hai đời của phở Bằng Đà Lạt, vv.. Có anh chơi trội, mở một nhà hàng to, khoẽ rộng, đẹp và độc đáo nhất quận Cam; nhà hàng có làm thêm những mái tranh ra cái điều đồng quê nước Việt, trên mái tranh lại có lách tách mưa rơi, nhỏ giọt xuống một đường mương ngay trong tiệm, dẫn nước chảy tới một con suối róc rách. Lại có một cái cầu cong cong thơ mộng bắc qua con suối nhỏ này. Giữa nhà hàng là một sân khấu có mái tranh (lại mái tranh !) chơi nhạc sống hàng đêm. Tiệm làm một cuộc cách mạng, không những về cách thiết kế độc đáo mà còn luôn về cái tên tiệm nữa. Thay vì làm như các anh khác (phong trào thời đó) là làm 2 bảng: 1 tên cho nhà hàng, 1 tên cho phở gì đó, tiệm này thu gọn thành 1 bảng lớn : Nhà hàng Phở Ngon. The Đ' là ai nói đến tên tiệm cũng phải khen là Phở Ngon. Về sau không biết ngẫm nghĩ làm sao hay là có đứa nào xúi mà khi quảng cáo trên báo anh chủ tiệm lại thêm chử Nhất vào sau chữ Ngon, thành ra là Nhà Hàng Phở Ngon Nhất. Ấy, tên vậy mà không phải vậy. Đồ ăn của anh, đặc biệt là phở dở vô cùng. Khung cảnh thì rất tuyệt vời, nhạc sống thì chơi cũng xôm lắm, nhưng đồ ăn dở quá nên cũng không kéo lại được. Tiệm ế dần, anh phải tìm cách tiết kiệm để sống còn, thế là dẹp cái dzụ nước mưa lách tách mái tranh. Sau đó ít lâu thì con suối róc rách dưới cầu cũng hết róc rách luôn. Thế nhưng cái quan trọng nhất của nhà hàng là đồ ăn thì anh lại không chiụ cải tổ gì cả. Anh lại giử nguyên dàn đầu bếp dở cũ. Có đứa xấu mồm nói đầu bếp chính là vợ anh lên anh không đuổi được. Có đứa còn nói không chừng đầu bếp chính cũng là anh luôn. Thế cho nên cuối cùng là sập tiệm. Để bây giờ vào những buổi chiều mùa thu , ngoài đường chẳng có chiếc lá vàng nào rụng cả, thực khách đi qua quán ngày xưa, không khỏi ngậm ngùi tiếc cho một nhà hàng lãng mạn, trữ tình, đẹp... nhì Đông Nam Á. Hàng phở lạm phát, số Mít chổng có tiền , có giờ rảnh đi ăn phở cũng có giới hạn nên hậu quả đương nhiên là nhiều tiệm phải ngửa mặt lên trời cười 3 tiếng, khóc 3 tiếng mà than rằng: "Trời sinh ta ra không phải để nấu phở". Thế là các anh cứ việc tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa.
Những tiệm nào còn sót đến ngày nay nói chung là nấu khá, khứa đông nên ăn nên làm ra. Có tiệm thừa thắng xông lên mở thành hệ thống phở, có chi nhánh, franchise trên khắp thế gian. Thí dụ như Phở Hoà, tiệm đầu tiên ở Santa Ana, sau có thêm 1 tiệm ở Bolsa, để rồi bây giờ thì gần như chổ nào có đông người Việt là có phở Hoà. Một lần lêu bêu sang Calgary, Canada, lạc vào phố Tàu, tôi đã ngạc nhiên và thích thú thấy 1 tiệm Phở Hoà len vào được khu này giữa các nhà hàng Tàu chung quanh. Tiệm ở trên lầu nhưng chúng tôi cũng chịu khó leo lên để ủng hộ gà nhà. Ở Canada tương đối ít người Việt nên ông chủ có đến nói chuyện với chúng tôi và xin cho biết ý kiến về phở của tiệm ông. Tôi thành thật cho ông ta biết là theo ý tôi, phở ăn được nhưng không bằng phở Hoà chính gốc ở Santa Ana. Ôn chủ có vẻ hơi buồn nhưng cám ơn tôi đã nói thẳng. Ông cho biết là gia vị nấu phở phải gửi từ phở Hoà bên Mỹ sang nên không ngon được như nấu ngay tại Mỹ.
Các quán phở còn lại tại Little Saigon khá nhiều. Nào Phở Hoà, Phở 79,Phở 54,Phở 86, Phở Tàu Bay, Phở Nguyễn Huệ ,vv...Du khách Việt Nam nào ghé lại Little Saigon hầu hết đêù ăn thử phở ở đây. Phở ở đâu ngon nhất chắc còn tùy khẩu vị mỗi người. Một anh bạn tôi, chính hiệu Bắc Kỳ di cư, cho rằng chỉ có Phở Hoà ở Santa Ana mới đáng gọi là phở Bắc. Anh cho rằng phở ở các tiệm khác hơi lai Nam. Tôi thì lại chịu hương vị của phở Nguyễn Huệ ở Bolsa, một tiệm phở nghe nói là chủ tiệm gốc người Hà Nội, Hải Phòng gu. Tôi không muốn viết nhiều về phở vì biết không qua nổi tùy bút "Phở" của Nguyễn Tuân. "Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường" của Thạch Lam hay "Miếng Ngon Hà Nội" của Vũ Bằng. Tôi chỉ biết rằng khi buồn chuyện gì, thí dụ buồn đời di tản chẳng hạn, thì ghé lại phở Nguyễn Huệ ăn một tô tái nạm vè dòn thật nóng, nhiều bánh, cộng thêm hành trần nước béo nữa, thì nỗi buồn có thể vơi được đến hai phần ba. Lại uống thêm một ly cà phê đen đá nữa thì có lẽ phần buồn còn lại cũng tan theo ngày tháng vội.
Có một dạo Cali lên cơn sốt về động đất. Mặt đất thỉnh thoảng lại nhúc nhích chút đỉnh hù nhau chơi. Các tờ báo Việt ngữ đăng tít lớn các tin tức về dộng đất, rằng thì là động đất thế này mà ăn nhằm gì, sẽ có một trận động đất khủng khiếp, tám chấm mấy, san Cali thành bình địa, chết không biết bao nhiêu ngươì, lại vẽ cả bản đồ với chú thích các đường nứt dưới đất nữa. Đồng bào Việt hải ngoại xôn xao giao động, rủ nhau bỏ Cali tìm về các tiểu bang khác để tránh động đất. Bà con ta lại di tản chiến thuật đi Tennessee, đi Minisota, đi Texas,...vv. Little Saigon vắng vẻ hẳn Bolsa mất hẳn cảnh ong bướm xôn xao, ta đi "không thấy phố, không thấy nhà".
Mít đi rồi tiệm mít bán cho ai ?
Tiệm Mít sập thì các báo Việt ngữ sống nhờ quảng cáo cũng sập theo. Không xong! Thế là chỉ ít lâu sau lại xuất hiện trên báo Mít những bài như: "Động đất Cali có thiệt nhưng tránh xa các vùng phe ta ở." Hay thiệt, động đất mà cũng biết chạm mặt phải nể mũi, động ở đâu thì động nhưng đừng động tới Mít ta là được rồi. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, Mít lại ùn ùn kéo về Cali. Của đáng tội, mùa đông ở các tiểu bang kia lạnh lắm đấy. Đồng bào lại nhớ Little Saigon, nhớ phở, nhớ hủ tiếu, nhớ bánh cuốn, nhớ các khuôn mặt Mít khác. Ấy đấy, khổ thế đấy các cụ ạ. Mít ở gần nhau là nhiều chuyện, là cãi nhau, là giận nhau; ấy thế mà xa nhau lại nhớ nhau không thể tưởng được, lại phải tìm về với nhau, để rồi lại cãi nhau, lại nói xấu nhau, lại muốn xa nhau.
Không những mít ở Cali mà mít ở đâu cũng vậy. Đi đâu cũng tìm nhau. Dù là tôi đi với bạn bè hay đi với bà xã ở Boston, ở New York, ở Washington D.C. hay xa hơn nữa ở Vancouver , ở Calgary, Canada, bạn bè, bà xã, và cả chính tôi nữa đều mong muốn đi tìm thăm khu phố Việt Nam, ghé ăn nhà hàng Việt Nam, ghé uống cà phê Việt Nam. Mặt chợt sáng lên, lòng như ấm lại khi thoáng thấy những dòng chữ quen thuộc nơi bảng hiệu một tiệm ăn, một ngôi chợ, một quán cà phê, dù chỉ là lèo tèo dăm ba quán nhỏ túm tụm vơi' nhau ở mợt khu ngoại ô xa thành phố hay bon chen chui ké vào một phố tàu nào đó ở Mỹ hay Canada.
Tôi còn nhớ khi tôi và bà xã lang thang ngoạn cảnh tại một khu phố biển ở Vancouver, Canada, khi đói bụng tính tìm một nhà hàng Việt Nam mà đi hoài không gặp. Sau cùng phải ghé đại một tiệm ăn tàu. Chủ liú lo tiếng tàu, cô hầu bàn Canada liú lo tiếng Anh. Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện bỗng từ trong bếp một có người Á đông (mà tôi đinh ninh là người tàu), đi ra và tiến lại bàn chúng tôi và hỏi nhẹ nhàng vơi' giọng Bắc ngọt lịm: " Chào anh chị. Anh chị ăn ớt không, em lấy cho? " Tôi ngạc nhiên hỏi: "Sao cô biết tụi tôi người Việt? " Cô trả lời: "Em ở trong bếp nghe thoáng anh chị nói tiếng Việt nên mừng quá chạy ra."
Chúng tôi hàn huyên chuyện vãn một hồi. Cô than buồn, cả năm không thấy một người Việt vào quán, thực khách toàn là người Canada (mà cô gọi là Tây), người tàu và các người ngoại quốc khác. Gặp chúng tôi cô mừng lắm, nói chuyện không muốn dứt.
Lại một lần khác, chúng tôi ghé Banff, cũng ở Canada. Banff là một thành phố nghỉ mát thật tuyệt vời, bốn bề núi bao bọc, đẹp còn hơn Đà Lạt của mình. Khí hậu giữa tháng 6, mùa hè mà vẫn còn lạnh, cái lạnh của cao nguyên, của Đà Lạt. Nghĩ mình chắc chắn không thể tìm thấy một tiệm ăn Việt Nam nào ở đây, chúng tôi ghé vào một tiệm Tàu. Cô xếp chỗ mà chúng tôi đinh ninh cũng là người Tàu, khi nghe chúng tôi nói tiếng Việt, mừng rỡ chạy lại nói chuyện vói chúng tôi bằng tiếng Việt. Cô hỏi chúng tôi đã đi chơi nhiều nơi chưa và nói hôm sau là ngày nghỉ của cô, nếu tụi tôi muốn, cô sẽ tình nguyện đóng vai một hướng dẫn viên du lịch cho chúng tôi. Ôi, tình dân tộc, nghĩa đồng bào! Bao nhiêu năm xa xứ tưởng là quên mà hoá ra cũng chẳng thế nào quên được.
Tôi là người ghiền cà phê, sáng nào cũng phải có 1 tách cà phê thì mới cảm thấy là cõi đời này cũng không đến nỗi khó sống cho lắm. Ấy vậy mà ly cà phê đen đá ngon nhất trong đời tôi lại không phải là ở một quán cà phê quen thuộc nào đó ở đây mà lại là ở 1 quán cà phê cách xa nơi tôi ở hàng ngàn dặm. Đó là vì qua nhiều ngày rong rũi, du mục, lang thang với đủ mọi phương tiện chuyên chở: phi cơ, taxi, xe lửa, xe bus, xe hơi, đi bộ, tôi cứ phải uống cà phê Mỹ và Canada liên tiếp. Mà loại cà phê này thì các bạn biết rồi. Uống chỉ là để cơ thể có chất cafféine đại bổ mà thôi, chứ mùi vị của cái cà phê này nó chẳng ra làm sao cả. Thèm cà phê Việt Nam quá, lang thang tới thành phố Calgary của Canada, tôi tìm được quán cà phê Lệ Đá trong một khu Việt Nam ở ngoại ô. Chà, cái tên nghe lãng mạng quá. Bạn nào yêu nhạc chắc biết Lệ Đá là tên của 1 bài thơ của Ha ý Huyền Chi đã được nhạc sĩ Trần Trịnh phổ nhạc thật tuyệt vời. Hồi ở Việt Nam xa xưa cũng có quán Lệ Đá ở Bà Riạ, gần Vũng Tàu, mà những buổi chiều, những buổi tối, tôi hay ngồi uống cà phê nghe nhạc và ngắm cô chủ quán đẹp não nùng.
Ly cà phê đen đá ở quán Lệ Đá ở Calgary Canada, ly cà phê Việt Nam sau 2 tuần lễ, uống toàn cà phê dỏm, thú thiệt là tôi cảm thấy ngon quá, đã quá, đã đến độ trên đời này không còn cái gì có thể là hơn được nưã. Tôi uống nhâm nhi từng giọt nho nhỏ, để thắm từ từ hương vị quê hương, để niềm hạnh phúc con con, niềm hạnh phúc chợt thấy không tan theo ngày nắng vội.
Ly cà phê đen đá ở Lệ Đá làm tôi nhớ đến độ hôm sau, trước khi rời Calgary đi Jasper, tôi phải thuyết phục bà xã trở lại Cà phê Lệ Đá để uống thêm một ly nữa, bà xã nhìn tôi dò xét:
"Anh mê cà phê hay mê con nhỏ bán cà phể "
Đàn bà kinh thật! Nói cho ngay, cô bé pha cà phê ở Lệ Đá Calgary cũng xinh như cô chủ cà phê Lệ Đá ở Bà Riạ năm nào. A, nói về phở và cà phê nhưng không được quên các món Mít khác đấy nhé! Dạ, không đâu ạ! Nhà cháu không quên đâu ạ, nhà cháu sắp nói tới đấy ạ! Trước hết phải nói tới nhà hàng Viễn Đông của ông nghị Tony Lâm, chuyên trị các món ăn thuần tuý miền Bắc, với khẩu hiệu "ăn chay ngon hơn ăn mặn ".. ấy chết, quên,"ăn chơi ngon hơn ăn thiệt". Ông này tài thật, từ một quán nhỏ 1 căn trên đường Westminster, ông đã như vết dầu loang, sang thêm căng thứ 2 kế bên. Vẫn không đủ chổ cho khứa ngồi, ông bắt nốt căn thứ 3, đục tường, biến 3 căn thành 1 nhà hàng rộng rãi thoãi mái. Vậy mà sáng, trưa, chiều thứ bảy, chủ nhật, khứa vẫn phải đứng chờ lũ lượt trước cửa. Muốn ăn phải "đăng ký", ghi tên vào Waiting List dán trước cửa. Gớm, khó quá. Nhưng mà thực phẩm của ông thì tuyệt. Bố khỉ, món gì cũng ngon hết là làm sao!
Tiệm ông bán món ăn Bắc, nhưng lại không bán phở, món độc đáo của miền Bắc. Hỏi thì ông cười cười: "Cả nước bán phở rồi, mình bán làm chi nữa". Lúc đầu thực đơn của quán ông rất khiêm nhượng, chia làm 2 nhóm thôi: Bún và Bánh. Dưới chủ đề Bún ông có: Bún riêu, Bún ốc, riêu ốc phối hợp, Bún vịt sáo măng, bún chả, bún mộc, bún bung. Về họ Bánh thì có bánh cuốn thanh trì, bánh cuốn nhân thịt, bánh tôm cổ ngư, bánh đúc đậu rán, bánh giò ruốc. Dạ, với các cụ người Nam, nhà cháu xin phụ đề Việt ngữ là ruốc đây là thịt chà bông đấy ạ, không phải là mắm ruốc đâu ạ.
Chỉ có bún và bánh thôi mà thiên hạ ăn đông quá. Nhưng Tony Lâm là con người không ngủ ngáy pho pho trên thành quả. Ngài thừa thắng xông lên, phát triễn thực đơn bún và bánh thêm Chả Cá Thăng Long, ốc Nhồi Hấp Lá Gừng, Phở gà tươi, chơi luôn món Trung và món Nam: Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng. Ô hay! thế là thế nào? sao trước nói không bán phở mà bây giờ lại bán? sao bảng hiệu vẫn là "Thuần Túy Các Món Ăn Miền Bắc" mà bây giờ lại có Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng là nghĩa làm sao? Hỏi, người lại cười cười: "À, thiên hạ đòi ăn phở ghê quá, cuối cùng moa phải nhượng bộ, ra lệnh nấu thêm phở gà, phở bò thì tính sau. Còn Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng? " Các đứa khác có thì moa phải có chứ. " Chịu ông ấy thật. Phở gà chỉ là món tay trái của ông mà cũng ngon không thua các tiệm chỉ chuyên trị có một món Phở duy nhất. Bún bò huế, Chạo tôm, Nem nướng không phải món Bắc, nghĩa là không phải món tủ của ông mà cũng ngon không chê vào đâu được.
Ngoài tài mở hàng ăn, ông còn hoạt động cộng đồng mạnh mẽ. Ông có chân trong Phòng Thương Mãi Việt Nam ở quận Cam, và có công lớn trong việc để thành phố Westminster và bộ Giao Thông Cali công nhận, chính thức hóa và dựng bảng tên "Little Saigon". Ông còn hoạt động chính trị, đắc cử vẻ vang vào Hội Đồng Thành phố Westmister, trở thành người Việt Nam đầu tiên trong một chức vụ dân cử. Khẩu hiệu tranh cử của ông là: "Tony Lâm, Tax Fighter, Crime Fighter " Ông đã serious về cái dzụ chống tội ác đến độ một lần bắt gặp một tên giật bóp một người đi đường, ông đã chạy bộ đuỗi bắt được tên cướp giật rồi gọi cảnh sát đến tóm cổ y về bót. Báo Mỹ đã chạy tít lớn tin này và ca ngợi ông hết mình. Uy tín ông lên như diều. Chẳng bao lâu ông trở thành Phó Thị Trưởng Hội Đồng Thành Phố Westminster. Oai chưa?
Làm lớn rồi nhưng Tony Lâm vẫn dể thương như thuở còn "hàn vi ". Khách đến ăn vẫn được người cúi rạp đầu chào vói nụ cười thật tươi, đến tận bàn chào hỏi thân mật, tự rót trà mời. Cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây là trà nóng ở Viễn Đông là số một. Không biết là trà cúc hay trà sen mà sao thơm thế. Hương vị tuyệt vời. Uống thử sẽ biết. Ăn xong, uống trà xong, và quan trọng là trả tiền xong, khách sẽ được phó thị trưởng Westminster cảm ơn và đưa ra đến tận cửa.
Trở lại Little Saigon, không ai tới đây mà không ghé Phước Lộc Thọ, một thương xá hai tầng thật đẹp thật dễ thương, thật đông phương, và cùng với Little Saigon Supermarket, đã trở thành một "landmark" của tiểu Saigon. Nơi đây từ sáng sớm đến tối mịt, ngày cuối tuần cũng như ngày thường, lúc nào cũng ong bướm xôn xao, vui như Tết. Nơi đây bạn sẽ tìm thấy các món hàng đặc biệt Việt Nam, sơn mài, tranh lụa, video, băng nhạc, quần áo hợp với các kích thước mít ta, các quán cà phê, quán ăn, bàn ghế bày dọc theo lối đi rất tây, rất Saigon. Bạn bè cũ lâu không gặp lại, không muốn gặp lại, tưởng không bao giờ gặp lại, đến Phước Lộc Thọ bảo đảm có 72% hy vọng sẽ gặp. Bạn bè tôi nhiều người không gặp từ 75 thế mà lêu bêu lại gặp ở đây. Có đứa về từ San Jose, từ Texas, từ New York, từ Washinton D.C., có đứa từ Úc sang, dân cựu Tân Tây Lan cũng thỉnh thoảng mò đến đây.
Mít local ở đây nhiều tên làm như ghiền không khí ở Phước Lộc Thọ (PLT), đến đây gần như hàng tuần, nếu klhông nói là hàng ngày. Có vị ngồi cà phê từ sáng sớm tới khuya tiệm đóng cửa mới chịu về. Có lần một tên bạn cũ, hoa tiêu trực thăng ngày xưa, một hôm nổi hứng gọi điện thoai. cho tôi lúc 5 giờ sáng ngày thứ Bảy. Tưởng có chuyện gì quan trọng lắm. Nào ngờ Ex-Pilot rủ đi uống cà phê Rendezvous ở PLT. Nể bạn, tôi cũng mắt nhắm mắt mở, mặc quần áo đi uống nhưng sau đó phải long trọng yêu cầu ông bạn vàng đừng có đánh thức tôi sớm như vậy nữa. Những ngày cuối tuần không phải đi làm được ngủ nướng là một chút gì hạnh phúc còn sót lại trên cõi đời này, đừng nên lấy mất của nhau. Tuy nhiên, mỗi người quan niệm hạnh phúc một khác, vị nào lấy chuyện uống cà phê dòm cuộc đời đi diễn hành qua mắt mình làm vui thì phải dậy sớm thôi, ra chậm sẽ hết ghế, hay hết chỗ tốt, phải ngồi xa, khuất trong kẹt, ngắm các em đi ngang không thoải mái vì vướng đầu các đứa khác.
Cùng với phong trào phở thời thập niên 80, phong trào mở chợ cũng lên như diều, thời 80, 90. Khởi đầu chỉ là những ngôi chợ bé tí nghèo nàn, Mé Kông ở Santa Ana, Dân Tiếp Vụ ở Bolsa.., phe ta nhích lên những ngôi chợ hạng trung như Hoà Bình, Liên Hưng, Mai Công, Hoà Phát... Cuối cùng là những ngôi chợ lớn, khang trang, đúng tiêu chuẩn Mỹ như Man Wah, Little Saigon, và Bolsa Supermarket. Càng đông càng vui, càng cạnh tranh càng bán rẻ, càng tặng quà nhiều. Chủ chợ tặng gạo, tặng mì, tặng nước mắm để câu khách. Có chợ nêu khẩu hiệu: "Đại Sale, Sale Bạo". Có chợ trương biểu ngữ: "10000 Bao gạo thơm đang chờ đón quý khách". (Phải hiểu đây là gạo để tặng cho ai mua nhiều, thường là từ 90 đô la trở lên. ) Có chợ không tặng quà thì lại nói như thế này: "Chúng tôi chủ trương bán rẻ hơn tặng quà", ra điều bắn tin cho khách biết là chợ nào tặng quà nhiều thì nó bán mắc đấy.
Vô chợ Mỹ mua cá là chắc chắn chỉ có cá đông lạnh. Chợ VN tung ra chưởng: "Cá tươi còn sống lội tung tăng trong hồ." Một chợ làm, cả nước làm, chợ nào không có hồ cá tươi là đi ô tô bương ngay. Phe ta bèn tung thêm độc chưởng: "Đặc biệt có quày chiên cá miễn phí." Phe địch bèn cấp tốc lập lò mua chảo, tuyển kỹ sư chiên cá về ngay. Khách mua cá thấy dzui dzui trong lòng, bây giờ mua cá khỏi sợ mất công làm tanh tưởi, chiên dầu nóng bắn vào mắt, có thợ làm sẵn, chiên vàng dòn, gói giấy nhôm nóng hổi, về chỉ việc mở ra ăn, khoẻ quá. Chắc có đứa nào chỉ nên khứa ngoại quốc cũng đã vào chợ VN mua sắm. Khách Mỹ trắng,. Mỹ đen, Mễ Tây Cơ, Ấn Độ đủ cả. Các vị này cũng tinh lắm, để ý xem các cậu mợ mít làm gì thì người cũng làm y như vậy. Cũng nhón lấy bao nylon bọc cá, cũng biết vạch mang cá ra dòm xem còn đỏ không, cũng biết mang ra quày chỉ vô chảo chiên gật gẫt cái đầu. Ngôn ngữ bất đồng nhưng các Kỹ Sư chiên cá cũng hiểu ngay.
Chợ Little Saigon đã nổi tiếng về đến VN rồi đấy. Bà con ODP, HO, qua đến đây là đòi đi tiểu Saigon, rồi Little Saigon supermarket. Đi chợ khác không chịu, phải đến chợ này mua sắm, ngắm tận mắt dung nhan người Trần Dũ, Giám Đốc chợ mới toại nguyện. Người cũng không làm quý vị thất vọng. Người có mặt ở chợ từ sáng tới tối, bảy ngày một tuần, trông thấy người lăng xăng điều động nhân viên từ Việt tới Mễ, niềm ở chào hỏi khách hàng là nhận ra ngay.
Nhiều bà nội trợ mít lại khoái đi nhiều chợ, vì nghe nói chợ này rau rẻ nhưng thịt lại đắt, chợ khác trái cây vừa ngon vừa sale tùm lum, chợ kia nổi tiếng chiên cá dòn, ngon, chợ nọ vô địch tặng quà vv. Báo hại các ông chồng phải lái xe chở các bà đi hết chợ này đến chợ khác. Có bà mỗi lần đi tới năm chợ, ông chồng theo không nổi đành chờ ngoài xe đọc báo tiêu sầu. Các bà này chắc chắn là chưa học qua Economics. Các bà tiết kiệm được một ít tiền vì đi nhiều chợ nhưng lại không chịu tính đến vấn đề xăng nhớt hư hao xa vì phải lái đi nhiều và nhất là thì giờ, nếu không phải là của các bà thì là của các ông chồng. Thới gian chở các bà đi từ chợ này qua chợ kia để đợi các bà dọ gía, so gía, đắn đo, mua sắm, mà để đi làm overtime thì lợi tức có lẽ sẽ gấp nhiều lần số tiền các bà hí hởn nghĩ là đã save được.
Viết về Little Saigon, nói về phở, về bún, về cà phê, về chợ mà không nói đến hoạt động văn nghệ văn gừng ở đây thì e là một điều thiếu sót chăng ?
Nói chung văn nghệ hải ngoại rất là khởi sắc. Video, băng nhạc phòng trà, vũ trường, ban nhạc, ca sĩ tràn lan. Anh nào cũng là "giọng ca nam số một hải ngoại", "giọng ca không đối thủ", chị nào cũng là "tiếng hát vượt thời gian", (và chắc là vượt không gian luôn), "giọng ca nữ hàng đầu". Mẹ kiếp ! Bộ không có đứa nào hạng nhì sao ?
Mỗi lần có một ca nhạc sĩ nào tới Mỹ là lại có màn rình rang đón rước, dạ hội, dạ vũ mừng tái ngộ tưng bừng. Bố khỉ! Làm văn nghệ sĩ thế này thì sướng thật ! Biết vậy ngày xưa tôi đã cố luyện giọng ca khàn đục của mình. Cũng xin khoe với quý vị ngoài cái mục viết lách lủng củng tôi cũng đã mê cái vụ văn nghệ văn gừng từ lâu. Từ hồi còn học Trung Học nghe mấy tên nhóc trong xóm đánh Banjo đã thích rồi. Lên Đà Lạt nghe mấy tên nhà kế bên hoà guitars, mandoline và hát bản "Ai lên Xứ Hoa Đào" của Hoàng Nguyên lại ca ýng mê hơn. Ra Vũng Tàu tắm biển lại nghe mấy tên bạn chơi guitar và hát "Nếu vắng anh" của Anh Bằng, "Biệt Kinh Kỳ" của Lê Dinh, vv. thì niềm say âm nhạc tưởng không còn thuốc chữa.
Sang TTL, nghe Hoàng Châu Thịnh từ Palmerston North về Wellington chơi guitar classic, nghe Nguyễn Hữu Bình ở Chrischurch chơi guitar moderne, piano, accordion, trống, sáo, nghe Phạm Quang Tuấn chơi Hạ Uy Cầm với Trương Minh Tuyền đệm Tây Ban Cầm thì chịu không nổi nữa rồi. Bèn mua một cây guitar, bèn tầm sư học đạo. Vị thầy khả kính đầu tiên của tôi là một anh Kiwis ở Christchurch. Anh này không dạy căn bản nốt niếc gì cả. Anh đưa cho tôi một đoạn các bài hát thông dụng ở NZ thời đó như Tom Dooley, Red River Valley, vv. rồi bảo tôi đệm theo anh ta. Ông nội tôi cũng không đệm theo được. Giã từ sư phụ dổm. Tôi mua sách về tập lấy. Cũng chẳng ra làm sao cả.
Phải đợi đến khi về nước, xách đàn đi học Hoàng Bửu, một nhạc sĩ guitar classic và flamenco thì tôi mới thực sự bước chân vào âm nhạc.
Tôi theo lời khuyên của Đàm Xuân Linh, vô địch violin của giải Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá, người mà vĩ cầm thủ Nguyễn Gia Tâm đã phải long trọng tuyên bố là tay vĩ cầm số một VN. Đàm Xuân Linh khuyên tôi là phải tầm sư học đạo. Sư thứ thiệt chứ không phải loại sư Kiwis như tôi đã học ở Chrischurch, có như vậy mới khá được. Do đó phải sau Hoàng Bửu, tôi thọ giáo Lâm Tuyền, tay lead guitar đồng thời là trưởng ban nhạc Johny Lam Band, tác gỉa của những bản nhạc khá nổi tiếng như "Tiếng thời gian", "Hình ảnh môt buổi chiều", "Khúc nhạc ly hương".
Sau Lâm Tuyền là Vĩnh Căn, Anh Hoa, rồi Đỗ Đình Phương. Nếu Hoàng Bửu và Đỗ Đình Phương đã dạy cho tôi căn bản nhạc lý và guitar classic, thì Lâm Tuyền và Vĩnh Căn đã dạy tôi biết đệm đàn. Còn nhạc sĩ Anh Hoa thì dạy tôi sáng tác.
Tôi đã không thành được nghệ sĩ nhà nghề như mong ước thời trẻ thì ít ra cũng thành một nghệ sĩ tài tử để lâu lâu có dịp ngồi chung với các bạn bè có chung dòng máu văn nghệ, nổi hứng đàn và hát cho bạn nghe những sáng tác của chính mình với lời giới thiệu trịnh trọng: "Xin mời các bạn nghe các sáng tác của một nhạc sĩ chưa nổi tiếng".
Tôi còn nhớ Nguễn Lương Bình, một Ex-Kiwis hiện ở Texas, khi gởi tặng tôi tờ Sợi Giây Liên Lạc có viết kèm mấy câu: "Chắc cuộc đời anh vẫn nghệ sĩ như thủa nào ở Chrischurch?". Tôi không có dịp trả lời anh hồi đó thì xin mượn những dòng này để trả lời anh luôn là: Vâng, anh đã đoán đúng, cuộc đời tôi vẫn vậy, vẫn nghệ sĩ tài tử, vẫn lang thang, vẫn "không nghèo mà điều túng thiếu" nhưng cũng chẳng phải vay nợ đứa nào, vẫn có cái xe để đi, cái giường để ngủ, đủ ba bữa để ăn. Như vậy là vui rồi, phải không anh ? Cũng vẫn là một loại "già ham dzui" như thủa nào.
Đã gần 30 năm rồi, từ cái thủa viết lách lăng nhăng cho tờ giai phẩm Xuân ở Chrischurch, tờ 7ND ở Auckland, tờ Phổ Thông ở Saigon, bây giờ tôi mới có dịp cầm lại cây bút, thể theo lời yêu cầu của các Ex-Kiwis Phạm Phan Long và Nguyễn Anh Giao. Những kỷ niệm xa xủa dường như sống lại, những hình ảnh, khuôn mặt bạn bè, nhựng parties gặp gỡ anh em, những Vietnamese evenings ở Victoria, Wellington, những lần ra phi trường đón các bạn mới sang, những tours đi chơi Queens Town, Arthur Pass do Bùi Văn Minh, Trịnh Khánh Tước tổ chức,... tưở ng như đã mờ nhạt theo thời gian giờ đây lại hiện rõ nét như một sự trở về, tìm về ký ức. Giữa chúng ta, những Ex-Kiwis, những người đã từng một thời lêu bêu trong các ghiảng đường đại học ở NZ, dường như có một cái "bond" nào đó thắt chặt, vô hình nhưng đủ mạnh để mặc dầu có thể là chưa bao giờ gặp nhau trước đây nhưng nếu đã được giới thiệu là Ex Kiwis thì liền tay bắt mặt mừng, tưởng chừng như đã thân thương từ kiếp nào.
Thôi mến chào các bạn và mong ngày hội ngộ.
Hải Điểu
No comments:
Post a Comment