Monday, March 17, 2014

Quê Hương Trước Mắt Tôi Sau 20 Năm Xa Cách

Phạm Phan Long

Tôi đã về thăm quê hương Tết Giáp Tuất vừa rồi. Chuyến bay Asiana về tới phi cảng Tân Sơn Nhất vào nửa đêm và tới trễ. Từ Hán Thành, Asiana dành ưu tiên cho các chuyến đi Hồng Kông và Tokyo. Hành khách các chuyến bay đó từ phòng đợi được bước ngay vào máy bay chân không chạm đất. Ngược lại khách về Việt Nam phải đi bộ ra xe buýt, tới chân máy bay, leo thang lên máy bay giữa đêm khuya lạnh buốt. So với Tokyo và Hong Kong, Asiana đánh giá thì giờ và du khách Saigon rẻ như đồng bạc ở đó vậy. (Dịch vụ Asiana trên không gian rất đáng khen nhưng không thể đền bù vào việc xảy ra dưới đất.)

Khi cửa phi cơ vừa mở ra, cái nóng ẩm của Saigon dội tát vào mặt người. Đứng dưới là một anh bộ đội lạnh lùng cau có nhìn lên. Không biết anh có ý dọa dẫm hay đó là cách anh thể hiện tâm trạng của kẻ thường xuyên không hài lòng điều gì. Tôi bước vào phòng hải quan trình giấy và từ phút đó bắt đầu tìm hiểu quê hương mình sau 20 năm xa cách bằng đôi mắt "Việt Kiều" mà tôi chắc là rất ngây ngô dưới ánh mắt đồng bào tôi. Một nhân viên hải quan trong sắc phục quát "chào" khách mới về. Tôi nghe mới biết người khách mới về đã lỡ dại hỏi mượn anh ta cây bút. Bút ở đây, đâu có dư mà cho mượn.

Sáng hôm sau dạo phố, tôi tự nhiên so sánh thành phố HCM hôm nay với Saigon ngày xưa trong ký ức tôi. Saigon bỗng như thu nhỏ lại một nửa. Nhà cửa đường xá hẹp hẳn đi, phố xá gần gũi nhau hơn. Tổng Thống Clinton vừa tuyên bố bãi bỏ cấm vận. Hà Nội kéo cờ Mỹ hoan nghinh. Nhiều người trong nước tưởng bức màn đen đã được tháo xuống và quê hương tôi từ nay chuyển mình với vận tốc nhanh. Đến mức sự vật co rút lại dưới mắt người xa xứ. Tuy thế người buôn bán tỏ sự lo ngại về chuyện tổng đại lý của các đại công ty sắp mở ra sẽ đảo lộn cuộc sống buôn thúng bán bưng của họ.

Saigon rất tương phản, lẫn lộn dấu vết bỏ phế hoang tàn, rêu phong cáu bẩn, hôi hám ứ đọng rác rưới với những bậc thang, rộng thênh thang cao dài bằng đá mài tráng lệ. Cửa kính những cao ốc đó lúc nào cũng khép kín, vừa giữ khí lạnh, vừa chia đôi hai dòng người Việt. Saigon đang được xây dựng lại. Nhiều nhà mới, khách sạn lớn chuẩn bị đón chào thế giới. Thắc mắc lớn đầu tiên của tôi là so với lợi tức của người chủ, tôi không thể suy diễn ra một giải thích hợp lý nào cho gia tài to lớn đó cả.

Những ngân hàng và doanh nghiệp tại VN đang chuyển mình "đổi mới" hoạt động kinh tế thị trường. Những người tôi tiếp xúc đều nói đến hiện đại hóa, áp dụng phương pháp kế toán Mỹ, nói đến thành lập phương cách thanh tra kiểm soát, và niềm háo hức nghiên cứu việc gia nhập thị trường chứng khoán. Những điều này tôi nghe và mong ước lắm vì trên đường dài sẽ đem trật tự lại cho một guồng máy hỗn loạn và dần dần sẽ giải tỏa được mối thắc mắc trong tôi.

Thủ tục kế toán tự nó thôi, chưa nói đến chính sách kinh tế bao trùm bên trên, hay guồng máy sản suất bên dưới, hay niềm tin của người đầu tư, không thay đổi dễ dàng và nhanh chóng như thế. Quán tính lề thói cũ đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian lẫn guồng máy chính quyền. Hai mươi năm ở miền Nam,và chắc đã lâu hơn nữa ở miền Bắc, việc buôn bán và quản lý hầu như không mấy ai trong dân gian cầm thứ giấy gì gọi là tấm hóa đơn thật đúng ý nghĩa của nó trong tay. Khi "khách" cần đến, họ nhận một nhưng lại đề lên hai ba lần tiền cho "khách" vui lòng. Tôi rùng mình bảo họ coi chừng. Khi bị đánh thuế lợi tức trên những số thu thổi phồng đó là họ chết. Tôi thầm lo cho các bạn chuyên viên tài chánh kế toán của tôi ở hải ngoại đang hăm hở nghĩ đến việc về nước lập hệ thống kế toán cho nền kinh tế VN. Thật là một việc đội đá vá trời.

Độc đáo nhất là trong việc giao nhận hàng, với cách làm sổ anh bạn tôi gọi là phương pháp "sổ ai nấy ghi". Làm việc cách này ai cũng vui lòng và sổ công ty nào cũng tốt cả. Tôi chứng kiến một người mua đồng hồ hỏi: "Đồng hồ này không có vi trùng chứ ?" Người bán trả lời: "Có vi trùng thì cứ đem trả lại không sao." Hai người mỉm cười vui vẻ kết thúc việc mua bán, trong khi tôi kinh ngạc vì không biết đồng hồ mình đang đeo thì sao và bảo đảm (product warranty) kiểu gì mà mới thế. Tôi chợt đoán nghĩ ra họ sợ đồng hồ điện tử sẽ có "virus" như trong máy vi tính vậy.

Saigon bây giờ thực là một nền kinh tế "lề đường", vì đó là nơi mà đồng tiền trao đổi nhiều nhất trong dân gian. Người ta dễ tính, ngồi xổm, ăn từng chén miến, húp từng tô mì, thổi từng bát phở, và tiện tay bỏ các thứ rác rưới xuống đất: nào xương, nút chai, vòng khuy mở lon nhôm (pop can rings) và tàn thuốc lá. Bỏ tất cả xuống dưới chân và đạp dí xuống đất là xong. Vỉa hè Saigon sẽ trở thành địa điểm khảo cổ và môi sinh đầy hứng thú cho Marlboro, BGI, Coca-Cola và Heineken.

Khách ngồi ăn chung quanh các quày bán hàng chật hẹp. Bếp khay bày biện rất thuận tiện, tất cả nằm trong tầm tay với của người chủ ngồi "vừa bán vừa nấu vừa thâu tiền". Mc Donald cần gởi chuyên viên sang Việt Nam để học cách làm "món ăn có liền" (fast food) kiểu "một người làm hết" (one man band) tại Việt Nam này và suy nghĩ cho thật kỹ trước khi nhảy vào thị trường mới mẻ 70 triệu người đó.

Chuyên viên kế toán ở hải ngoại cứ về mà bàn với các bà bán hàng rong việc làm sổ sách xem các họ nói sao. Nhớ rằng họ không biết đọc, không viết nổi tên mình, và chưa thấy cái máy tính tiền trong đời bao giờ. Một cái máy tính sẽ trị giá ngang quày tài sản của họ. Hay về nước tập cho guồng máy chính quyền đang tập tễnh làm kinh tế làm kế toán đi xem họ "đổi mới" ra sao. Nhớ rằng bạn đang đòi sờ đến "ruột tượng" của họ đấy nhé. Ai gan hơn nữa thì về hỏi xem sổ sách xem họ có còn đón tiếp bạn như "Việt kiều" nữa không. Những gì đơn giản hiển nhiên nhất ở hải ngoại vẫn có thể là vấn nạn hay quốc nạn tại VN bây giờ.

Tôi thuê xe ($40.00 một ngày bao xăng và tài xế) đi ra miền Trung, qua những đọan đường xóc ruột vì đất lở sau cơn lụt chưa sửa kịp. Cảnh vật miền quê dường như không đổi nhiều. Dân quê Hàm Tân, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Cà Ná, Cam Ranh, Ninh Chữ, Định Quán, Nha Trang đói hiện ra trên khuôn mặt. Những đứa bé bồng bế nhau ra hai bên quốc lộ và bờ biển. Chờ khách ăn xong chạy ra mót từng miếng ăn rơi rụng trên cát. Chúng bỏ nhanh miếng ăn thừa vào miệng mặc cát đất còn dính theo. Cát bám quanh môi không cần phủi. Chúng đã quá đói. Nếu phủi đi sẽ bị trẻ khác dành mất những miếng ăn còn lại. Chúng nuốt vào lòng ngon lành như các con chim hải âu đói vớ được miếng mồi. Đà Lạt bây giờ tiêu điều, thiếu màu sắc. Hoa cỏ thiếu phân bón quá lâu, sau 20 năm thoái hóa cành gladius đường kính chỉ còn lớn bằng nửa ngày xưa.

Đối với chính quyền khế ước dươi' $10 triệu đô la ở Việt Nam bây giờ được coi là nhỏ. Tôi thấy may mắn cho số nhỏ những người đã có việc làm trong 600 công ty tư doanh có ngoại quốc hùn hạp. Họ đồng lương khá. Còn lại đều rất thiếu thốn, chỉ nghĩ đến dân số 70 triệu người mong được cái may mắn tương đương đó. Dù là làm việc cho ai đi nữa.

Tôi gặp một thầy giáo tiểu học, lương được dưới $15 đô la một tháng. Đối với anh $10 đô la là lớn. Gia đình anh bây giờ cần $200 đô la hàng tháng để có thể đủ trả điện nước, xăng nhớt, chợ búa và học phí cho các con (bây giờ phải trả tiền). Anh ta vẫn bám lấy lớp học nghiệp chướng vì không đến trường "tớ sẽ nhớ học trò lắm". Về nhà, vợ chồng cùng các con tất cả cùng làm bánh, may vá, khuân vác, sửa chữa gần như làm bất cứ việc gì để bù đắp chi phí gia đình.

Tôi gặp một cô giáo cắm cúi may, $800 đồng VN (8 cents US) một áo để bù thêm cho chi phí gia đình. Khi có giỗ tiệc, chị không dám ăn no vì sợ hôm sau quen dạ không có sẽ đói sớm lâu no. Tôi gặp một kỹ sư 18 năm kinh nghiệm, người được đề cử phụ trách giữ máy Fax mới về của cơ quan như một đặc ân. Tôi tiếp xúc một người làm tại ngân hàng tư doanh, anh cho biết tiền lời quỹ tiết kiệm là 3% nếu là tiền đô la, 20% một năm nếu là đồng VN. Sự chênh lệch phản ảnh mức lạm phát trong nước và chính sách khuyến khích dân gian dùng tiền Việt. Tôi đọc một bài dịch về Hubbell telescope (viễn vọng kính không gian tốn hàng tỷ đô la của Mỹ bị hỏng vừa được phi thuyền lên chữa lại được) của Giáo Sư Đại Học Nguyễn Chung Tú trên một báo khoa học phổ thông. Bài viết như thế được trả vào khoảng $20.00 đô la nhuận bút. Tôi gặp rất nhiều người tha thiết muốn học môn vi tính. Tôi có cảm giác họ nghĩ rằng biết computer sẽ như có vé lên ăn trên ngồi trước.

Tôi tò mò hỏi thăm học trình và thăm dò lượng định kiến thức một số sinh viên đại học sắp ra trường. Trường chú ý dạy sinh viên về chi tiết các bộ phận nhỏ của máy móc như việc huấn luyện thợ sửa chữa. Họ không dạy theo giáo quy (học trình) kỹ thuật đại học hiện đại. Nếu đám trẻ tinh hoa nhất nước này chỉ được học có thế thôi thì quả là hai mươi năm giáo dục đã bị đẩy lùi về quá khứ mất đi một nửa thế kỷ. Tôi đau lòng mong đó chỉ là ác mộng và mong mình đã lầm lẫn vì đã lấy kết luận từ vài trường hợp ít ỏi không chính xác. Nhưng thực tại vẫn ám ảnh đeo đuổi theo tôi về tới bây giờ. Tài nguyên thiên nhiên rừng núi đốt phá chỉ biến mất đi và có thể dựng lại trong 20 năm. Kiến thức của một thế hệ người bị dồn ngược, họ không biến đi dễ dàng như thế mà sẽ lớn lên làm chứng nhân cho việc giáo dục lỗi lầm suốt 60 năm đời họ .

Tôi gặp một em bé gái bỏ nhà bỏ học đi ở trọ bán đậu phọng luộc ở bãi biển Nha Trang thu được tiền nuôi thân. Kiếm bằng lương cô giáo mà không cần học. Em nghĩ đi học để làm gì nữa? Tôi gặp một bé trai bỏ Hà Tĩnh vào Đà Lạt ngày đánh giày, đêm khiêng lò than nóng lang thang nướng mực. Nó cố kiếm tiền để gởi về nuôi mẹ yếu và ba em nhỏ . Nó khoe rằng, con heo nó mua năm trước cho mẹ nó, đã nặng được 50 ký. Bán đi sẽ đủ tiền gạo nhà ăn một mùa.

Tôi về miền quê nơi rừng núi, gặp một kỹ sư thủy lâm, năm 1975 được cho "về làm ruộng" và bây giờ được cho "coi nông trường". Anh ta nói với tôi rằng cũng cần hai mươi năm nữa mới dựng lại được rừng cây như xưa. Tôi nhăn mặt hỏi sao không chọn giống cây khác để rút ngắn giai đoạn, sớm có lợi tức. Anh cho biết đang nghiên cứu trồng cây Bạch Đàn chỉ trong ba năm sẽ trưởng thành. Nhìn cuộc sống đạm bạc của gia đình anh và các cháu nhỏ, lòng tôi cảm phục con người này đã hy sinh sống bên lề rừng hẻo lánh bên đám dân nghèo. Nếu không có anh bạn này ở đây bày việc làm cho họ, những người dân quê vùng này chắc sẽ đói và phải bỏ làng đi ăn xin như những người hành khất tôi gặp khắp vỉa hè thành phố và chợ búa.

Anh bạn này chỉ mong mang về cho người dân quê có bát cơm ngay trước mắt. Dù biết là cả đám công nhân nông trường đó đang bị bóc lột công lao, và sản vật quê hương đang bị bán rẻ trên thị trường quốc tế trước mắt mình. Bỏ cấm vận sẽ xuất hiện thêm nhiều ông chủ mới to lớn hơn sắp nhập cuộc. Tôi hy vọng việc họ cạnh tranh nhau tìm lấy người công nhân giỏi, trên đường dài, sẽ phải nâng mức sống dân chúng lên và giá sản vật Việt Nam sẽ quân bình hơn với thế giới. Nỗi lo ngại của tôi là chuyên viên trong nước càng ngày càng rất hiếm có và trình độ lẫn kinh nghiệm vủa họ sẽ không đủ thỏa mãn đòi hỏi của những ông chủ mới cho những công việc mới sau này.

Tôi nhìn thấy sự nồng nhiệt chào đón chuyên viên ngoại quốc về của chính quyền trong nước, trong khi nhân tài sẵn có trong nước vẫn mới sử dụng một phần nhỏ khả năng thực sự của họ để làm những việc tương đối còn nhẹ trong nước đang làm. Đó chỉ là nhận xét cá nhân trong số nhỏ những người tôi đã được tiếp xúc. Tôi có cảm giác ngay cả những chuyên viên được tin cậy nhất họ cũng vẫn còn phải thận trọng trong lời nói việc làm. Sáng kiến vốn là điều hiếm có lại còn bị đóng hộp thì sáng kiến sẽ méo mó nép mình trong khuôn khổ. Ở hải ngoại khi làm việc bằng đầu óc chúng tôi được dạy phải tìm cách và tạo điều kiện để phá đổ tất cả những bức tường tâm thần (mental blocks). Những bức tường này là do những kinh nghiệm và lề thói cũ xây đắp trong đầu mình. Chúng cản trở khả năng sáng tạo của con người và gạt ra ngoài ý kiến khác biệt với nề nếp cũ. Người chuyên viên Việt Nam cần được phép hoàn toàn vượt thoát những bức tường tâm thần này để mạo hiểm khám phá những điều mới lạ từ mọi chân trời mang về sử dụng cho đất nước.

Con em trong các gia đình ở Việt Nam ít dám bàn với cha mẹ về những điều mà chúng nghĩ cha mẹ đang đi sai để né tránh đi. Người vợ không dám nói với chồng: "Ông đã làm tôi khổ lắm, tôi sẽ không chấp nhận ông được nữa!". Ông bố, hay người chồng này chỉ quát lên một tiếng là đứa con và bà vợ ngậm miệng chạy đi. Trong cơ cấu gia đình Việt Nam bây giờ, sự trao đổi ý kiến và bàn thảo với nhau như bị tắc nghẽn đã lâu. Cứ thế mà suy diễn ra tất cả các tắc nghẽn khác trong xã hội sẽ thấy mối nguy trong nước.

Ở Việt Nam việc dùng người không đúng chỗ, không tin cậy lâu ngày đã gây ra mặc cảm ngăn cách sâu đậm giữa người cũ và người mới. Đây là một trong những trở ngại nặng nề xã hội này tự kìm chế lấy bước tiến của mình. Mặc cảm này cần phải đánh đổ. Những người chuyên viên trong nước nên xây trong lòng niềm tự tin rằng chính mình mới thực sự biết việc trong nước; chỉ mình mới có đủ dữ kiện chính xác, mới phân biệt được chân giả, và chỉ có mình mới lập ra được các phương thức giải quyết khó khăn và mang tiến bộ cho xã hội chính con cái mình sống. Chuyên viên từ xa về, tuy có kỹ thuật, nhưng chỉ biết chắc chắn về điểm cần tiến đến. Phải là chuyên viên trong nước mới có kiến thức để xác định điểm khởi đầu. Phải có sự hợp tác của cả hai mới vẽ ra được quỹ đạo nối liền hai điểm một cách hợp tình hợp lý.

Về đời sống dân gian, đàn ông hút thuốc và uống rượu lan tràn. Họ mang thuốc ra mời nhau hút như một thói xã giao quy ước cho dân cả nước. Lạ nhất là "khách" phải mời "chủ" hút thuốc. Rượu "chủ" mời "khách" uống. Họ không chút áy náy khi mời nhau đốt thành khói công lao mồ hôi làm lụng của mình và vợ con mình. Họ không chút phân vân khi mời nhau uống đi những hớp rượu mà có thể đổi thành những giọt sữa hiếm hoi mà con cái của bạn bè mình khao khát. Còn sức khỏe thì sao? Tôi chợt nghĩ những dòng chữ cảnh cáo trên bao thuốc không viết bằng tiếng Việt nên họ không hiểu. Nghĩ lại nếu có viết ra tiếng Việt đi nữa nhiều người vốn không biết đọc thì hiểu làm sao. Nếu có đọc được và muốn ngưng hút đi nữa, áp lực xã hội và đời sống khó chế hãm. Chỉ có Dunhill, Marlboro vừa được đếm tiền vừa cười.

Tết VN thì phải có đốt pháo. Dù đã có lệnh cấm các cơ quan đốt pháo, tư nhân vẫn tha hồ đốt. Họ đốt gần một tiếng liên tục trong đêm giao thừa, khói bay vào nhà tới ngạt thở. Tới ngày mùng 4 Tết vẫn còn nổ lai rai. Nhiều loại pháo Trung Quốc thấy rõ rất nguy hiễm và có thể gây hỏa hoạn nhưng vẫn được phép đốt. Ai dám nói VN bây giờ thiếu tiền và thiếu tự do ?

Tết vẫn còn cổ tục biếu xén. Những thứ tôi mang về tặng họ hàng dường như có cánh bay biến hết. Họ hàng tôi biếu quách đi hết cả ngay chiều hôm đó. Các cháu tôi chỉ được nhìn. Mỗi một Việt kiều về thăm nhà là có vài ba thủ trưởng gần đó được "Tết". Lệ Tết này thật là tai hại cho những người vốn không đủ sống, mà quà Tết thì quá đắt so với đồng lương. Người mình dù đói nhưng sĩ diện vẫn còn nhiều và ơn cũ vẫn không quên.

Nếu cha con vợ chồng lắng nghe tôn trọng và tìm hiểu nhau hơn; nếu người ta biết bỏ thuốc lá, kiêng uống rượu, bới đốt pháo và đơn giản hóa việc biếu xén cho nhau thì con người Việt Nam sẽ bảo vệ sức khoẻ chính mình, tạo thêm hạnh phúc cho gia đình mình và đặt mối tương quan bè bạn, họ hàng, đồng nghiệp trên một căn bản thoải mái chính đáng h ơn. Những điều tệ hại này rõ ràng không ai bắt phải làm. Bỏ chúng đi không phải là việc leo sông vượt núi. Sao trong lòng người Việt kể cả những người trí thức, mô phạm,  đạo đức nhất vẫn còn ngại núi e sông !

Trên quãng đường đất nước tôi đã đi qua, Blao, Gia Kiệm hiện lên một vẻ trù phú sung túc rất khác thường. Nhà cửa xây cất khang trang và đều nhau liên tiếp khắp hai bên đường. Thu hoạch từ đồn điền cà phê, cao su và chuối đã đãi ngộ dân vùng này hơn các miền khác của đất nước. Họ có thêm một khách sạn lớn cả ngàn phòng tuy tôi không hiểu để tiếp đón ai và một loạt cao ốc cho công nhân, không hiểu tại sao không xây nhà trệt cho bớt phí phạm. Mỗi block đường là có riêng một nhà thờ có lát đá quý. Tất cả đang được tu bổ sửa sang thêm.

Ưu tiên trong đời sống dân gian có một điều làm tôi kinh ngạc. Một buổi chiều về bỗng nhiên đường xá ít hẳn xe đi, người ta đổ xô ra đường đông nghẹt như dòng thác người cùng đi về một hướng với khí thế hăng say. Tôi tưởng có biểu tình chống đối gì đó. Sau mới hiểu là họ rủ nhau đi .. nhà thờ. Họ đi nhà thờ cả làng cùng một lúc. Nếu khí thế đó dùng vào việc chống tham nhũng, tệ đoan, độc tài, dốt nát, bè phái, lũng loạn hay bất cứ viên chức hay chính sách nào họ không thích thì chỉ một vài ngày đất nước chắc chắn "đổi mới" tức thì.

Ưu tiên trùng tu xây dựng cơ sở cộng đồng cũng làm tôi lo sợ. Khắp các nẻo đường đất nước tôi được đi gần 1000 km quan sát thấy, tiêu biểu trong làng quê, nhà thờ và chùa luôn luôn là những cơ sở được ưu tiên tân trang và có khi đã được xây thêm hoàn toàn mới. Tôi ước lượng theo tỷ lệ cứ nhà thờ 5, thì chùa 2 và nhà truờng 1. Ở đâu cũng thấy nhà thờ và chùa là những kiến trúc đáng kể nhất và được ưu tiên bảo vệ nhất trong làng. Đứng xa phía sau mới là phòng Nhân Dân Công An Phường, nơi lúc nào cũng được treo cờ xí khang trang. Còn nhà trường và bệnh xá chiếm những nơi khiêm tốn nhất, thường phải khép nép đàng sau khu dân cư buôn bán. Nếu có sự đóng góp từ hải ngoại vào các công trình đó thì ưu tiên của việc thực hiện càng cần nên suy xét lại. Việc làm được và được làm, có phải là việc đáng làm khẩn yếu hay không.

Tôi không thấy một ngôi trường, bệnh xá nào được dân chúng hay chính quyền chăm sóc tu bổ như nhà thờ, chùa hay phòng công an phường ở vùng họ ở. Nhìn những công trình công cộng tốn kém đó ngươì ta phải kết luận Đạo và Đảng đã thu hút hết sức đóng góp của dân làng vào việc xây dựng cơ sở cho Đảng và cho Đạo.

Phải chăng Đảng và Đạo đã ngầm đồng thuận nhau cho rằng đời sau quan hệ hơn đời này. Hay con không học thì chỉ chịu dốt, con không có chỗ cầu nguyện họp hành thì phải xuống hỏa ngục đáng sợ hơn. Hay họ qúa lo sợ đảng la, cha buồn, sư trách đến nỗi quên luôn nhu cầu trí tuệ của chính con cái mình.

Hiện giờ con trẻ sinh ra đã thiếu thốn dinh dưỡng còn mất cả cơ hội phát triển trí tuệ. Ưu tiên trong làng nhường phần lớn tài nguyên "trang điểm" cho việc giáo dục tâm linh. Các cha, các sư và Đảng không lẽ đã cùng nhau tạo dựng ra một xã hội như thế sao. Kết quả của 20 năm vừa qua của cả nước, ngày nay thể hiện trước mắt tôi phải giải thích thế nào? Thật khó có thể bào chữa cho các người có trách nhiệm với dân chúng, con chiên và tín hữu. Còn các hội đoàn từ thiện hải ngoại có trách nhiệm gì trong việc này ?

Tôi muốn được gặp Chúa và nhờ ngài viết thêm một điều răn nữa vào kinh thánh.

"Điều răn thứ 11: Phải xem việc chăm lo dạy dỗ con cái như việc thờ phượng kính mến Chúa vậy."

Được thế kẻ hoang đàng này cũng sẽ bằng lòng quỳ xuống chân ngài.

Phạm Phan Long

No comments:

Post a Comment