Vào trung tuần tháng 11 vừa rồi tôi được dịp về tham quan Việt Nam. Ở Sàigòn 2 ngày 3 đêm rồi bay ra Hànội cho đến đúng giáp một tuần rồi trở về Sydney. Có lẽ đây là chuyến đi thứ 6 của tôi về Việt Nam kể từ chuyến đầu tiên vào giữa năm 1990, và cũng là chuyến đi kế tiếp sau chuyến đi kỳ trước vào năm 1995. Kỳ này tôi tháp tùng một đoàn nhỏ 6 người trong đó có Chủ tịch Phòng Thương Mại Việt Úc và 5 thương gia Úc đi tìm thị trường cho ngành may mặc tại Việt Nam. Tóm tắt kết quả các thương gia này đều tìm được chỗ đặt hàng hay ký kết hợp đồng đối tác liên doanh với một vài cơ sở kinh doanh (công và tư) tại VN. Sự có mặt của tôi trong đoàn chỉ lấy lệ mà thôi bởi thật sự theo dự tính ban đầu có đến trên 15 thương gia Úc tham gia chuyến đi, nên cần nhiều người theo để trợ giúp - trong đó dự trù sẽ có anh Duyệt, anh Kiếm - nhưng vào giờ chót đa số đều viện lẽ này hay lẽ nọ rút tên. Lỡ bộ tôi cũng đi theo luôn nên có ít nhiều thì giờ cho riêng mình. Lần về Vietnam kỳ này của tôi cách kỳ trước đến 4 năm nên chắc chắn nhận thấy có nhiều thay đổi - nhất là thay đổi trong cảm nghĩ của mình đối với quê hương xưa cũ. Nếu viết lại nhận xét và cảm tưởng của một chuyến đi người ta có thể viết liên tục theo thứ tự thời gian, hoặc nếu không theo thứ tự đó, có thể ghi lại những điểm mốc quan trọng theo từng tiết mục khác biệt của chuyến đi rồi thêm thắt vài nhận xét vào đó cho đầy trang. Tôi xin lựa phương cách sau và nhớ đâu viết đó.
Hoà mình với nhân dân: Nhớ có một lần về VN lúc đi shopping một mình ở đường Lê Lợi tôi bị móc túi hết mấy chục ngàn đồng VN. Lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa, sau khi mua được một số quần áo đánh tennis ở vỉa hè đường Lê Lợi, tôi tản bộ về phía Nhà Hát thành phố và băng qua đường Pasteur. Tự nhiên tôi thấy bên kia đường môt anh chàng đi cà thọt bắt đầu xuống đường băng ngược về phía tôi. Vừa lúc đó anh chàng ta đụng vào tôi một cái. Tôi tránh không kịp và lẫm bẫm một hai tiếng xin lỗi. Sau đó chừng mười phút lúc tôi cần đút tay vào túi áo lấy tiền mua đồ khác cũng ở vỉa hè đường Lê Lợi nhưng mạn trên gần Khách sạn REX, tôi mới khám phá ra là tiền bị mất cắp mất rồi và thủ phạm chắc chắn không ai khác hơn là anh chàng đụng tôi khi nảy. Cũng may tôi đã đề phòng trước bằng cách chia tiền ra làm 4-5 phần và để vào 2 túi áo phía trước và 3 túi quần nên mặc dù bị 'móc túi' tôi vẫn còn tiền đi xích lô về nhà. Sau lần bị 'mugged' đó tôi tự nhủ là phải 'hòa mình với nhân dân' và phải đi đứng ăn nói như người địa phương. Tuyệt đối nên tránh nói 'cám ơn' (thank you), xin lỗi (sorry), hoặc OK như một phản xạ trong đời sống hàng ngày tại Úc. Bởi vì nói như vậy nó 'không giống ai hết' tại VN, và người địa phương dễ nhận ra mình là 'Việt kiều'. Trong kỳ này tôi tình cờ khám phá ra môt lối 'hoà mình' mới mẻ nữa. Số là trong mấy ngày đầu tôi bị đau mắt. Sáng ngày hôm sau tôi nghĩ ra rằng mình cần một gọng lắp kính râm - kẹp vào cặp kính cận thị sẵn có để tránh nắng chói đầu mùa lạnh ở Sàigòn. Quá dễ, tôi chỉ cần băng qua đường trước mặt Khách sạn New World, nơi tôi checked in chiều hôm trước, bước vào một tiệm kính và mua một gọng kính râm có kẹp rất đẹp, kẹp vào phía trước của cặp kính cận thị tôi hằng mang bao nhiêu năm. Trong giây phút đầu mang kính râm sau gần ba mươi năm không mang nó tôi thấy là lạ, có vẻ hơi xấc và 'thanh niên' quá. Thế nhưng tôi để ý hình như không có ai để ý gì nên sau đó tôi thường xuyên kẹp nó vào kính cận kể cả lúc nói chuyện với mấy người thương gia Úc đi cùng chuyến, và nhất là đối với người Việt trong nước. Tôi nhanh chóng khám phá rằng với cặp kính râm tôi hội nhập dễ dàng với người 'địa phương', trả giá khi mua hàng rất dễ và có lẽ tránh bị 'mugged' ở chốn đông người. Nhiều người địa phương cứ lầm tôi là 'công an hình sự' nữa là khác: 'Trông bác cháu cứ tưởng bác là công an hình sự đấy' (!!).
Nước suối: Tới phi trường Tân Sơn Nhất chúng tôi được làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng và có Anh Dũng đại diện Sở Thương Mại Thành Phố đem xe mini-bus ra đón. Xe chạy xuyên qua đường phố ngang qua bộ Tổng Tham Mưu cũ (nay là Doanh trại Bộ Ðội) tôi để ý Sàigòn bây giờ có rất nhiều nursery bán chậu kiểng và cây kiểng um tùm không kém gì ở các nước Tây Phương, và đặc biệt họ gầy và bán nhiều loại bonsai rất đẹp. Ngay tại phi trường Nội Bài ở Departure Lounge cũng có bán mấy chậu bonsai nho nhỏ rất xinh cỡ chừng US$5.00 một chậu. So với bonsai bán tại Úc nó cũng còn rẻ vì cây có vẻ được gầy nhiều năm hơn là bonsai cùng giá đó tại Úc.
Chúng tôi đến phi trường vào khoảng 4 giờ chiều. Xe mini-bus trước hết đưa chúng tôi về Sở Thương Mại của Thành Phố để 'làm việc' trước khi đưa về Khách Sạn để check-in.. Ðiểm cần nói là chương trình đi, đặt mua vé máy bay, dành chỗ ở khách sạn, xin visa đều do Skybus Mekong của anh Lê Thẳng Tiến lo hết. Sở Thương Mại là một Toà building cũ nằm ở góc đường Nguyễn Du và Ðồng Khởi (Tự Do cũ). Tôi chợt nhớ tại building này vào khoảng trên 40 năm trước Thầy tôi có dẫn tôi vào khuôn viên của building (lúc đó hình như là Bộ Tài Chánh) để nghe ông Trần Văn Lắm đọc diễn văn chào mừng phái đoàn đồng bào Thượng (bây giờ gọi là Dân Tộc ít người) về thăm viếng Sàigòn. Thời gian sao cứ trôi nhanh vùn vụt! Xe chạy thẳng vào khuôn viên và đậu ngay trước cửa của Sở Thương Mại. Chúng tôi được mời vào phòng tiếp tân và chừng đôi ba phút sau ông Phó Chủ Tịch Sở Thương Mại cùng những người phụ tá - nam có nữ có - ra nồng nhiệt bắt tay mọi người. Sau khi ngồi xuống bàn dài tôi chợt để ý trước mặt mỗi người đều có một chai plastic nhỏ chừng 600ml chứa nước suối. Hai bên chào mừng, giới thiệu và đàm phán với nhau qua những tuần nước suối lạnh thay vì trà nóng như người ta thường tiếp đón khách như ngày trước. Sau đó tôi để ý đến sự thịnh hành của nước suối tại Việt Nam. Ở ngoài đường hay ở tiệm ăn đâu đâu cũng có bán những chai nước suối đủ cở đủ hiệu, trong đó có một hiệu đóng chai qua liên doanh với hãng Vittel của Pháp. Trong tủ lạnh của phòng ngủ ở khách sạn mỗi ngày họ để vào hai chai nước suối và móc vào cổ chai tấm giấy đề 'compliment of the Hotel' không có tính tiền. Hơi tiếc nhà nước Việt Nam không có phát hành tiền đồng xu (coins), chứ nếu có việc mua bán nước uống có lẽ sẽ mạnh mẽ hơn nhiều qua sự tiếp ứng của các máy tự động bán nước ngọt, nước suối. Ở Sydney bây giờ các máy vending machine tại các nơi công cộng chất chứa nước suối đến gần phân nửa tủ chứa. Cách đây vài chục năm không ai có thể tưởng tượng là nước suối, nước lọc lại thịnh hành đến như vậy.
Mua Phần Mềm: Mua phần mềm tức là mua CD in lậu, copy lậu - bây giờ hình như Made in Vietnam. Thường khi tôi đi Singapore hay Hongkong hay Trung Quốc, con tôi ưa nhờ tôi mua software in lậu tại mấy xứ này. Thất vọng nhất là mua tại Thượng Hải bởi đa số software copies của họ đều đã chuyển sang tiếng Tàu nên đối với con tôi có cũng như không. Và thích nhất là mua ở Hongkong bởi ở đó tôi có quen với em trai của một người bạn, có cửa hàng bán đồ computer gần ngay khu vực bán hàng phần mềm. Ở Sàigòn Software CD được bày bán nhiều nhất ở chung quanh các trường trung học và đại học. Tôi chỉ đến hai chỗ: Một chỗ ở đường Huỳnh Thúc Kháng - Chợ Cũ, gần trường Cao Thắng, và một chỗ khác ở đường Bùi Thị Xuân hay Tôn Thất Tùng, gần trường Nguyễn Bá Tòng, và một số trường dân lập chuyên về điện toán hoặc Anh ngữ ở chung quanh khu vực. Ðến 90% các phần mềm con tôi yêu cầu mua dùm cho nó đều có bán tại Sàigòn. Thật là lạ. Ngay cả các CD cho những phim mới chiếu gần đây tại Úc như Eyes Wide Shut, Titanic, Shakespeare in Love, v.v. đều có bán CD phụ đề chữ Việt đàng hoàng. Tiệm nào tiệm nấy đều rất đông khách sinh viên học sinh. Hèn gì Việt Nam trong năm 1999 này đã đoạt 4 giải đầu trong một kỳ thi tranh đua quốc tế về computer cho thanh thiếu niên thuộc 76 quốc gia trên thế giới. Nghe nói 4 em sinh viên đoạt giải đó đã được hãng Microsoft của ông Bill Gates cấp học bổng dài dài cho tới khi thành tài rồi sẽ được bốc đi Mỹ (!!).
Tôi cũng để ý mấy người Sở Thương Mại gửi đến để ăn sáng với chúng tôi tại Hotel rồi sau đó đi theo thông dịch đều nói tiếng Anh rất lưu loát, và cũng có sense of humor, thường chêm vào câu chuyện một đôi câu khôi hài bằng tiếng Anh lúc ngồi trên xe đi đến các hãng xưởng. Một anh đã từng tu nghiệp lấy MBA ở Canada. Một anh khác cũng có MBA qua việc du học 'tại chỗ' với các trường đại học hàm thụ nước ngoài. Cũng do tin tức của mấy anh đó chúng tôi mới biết là ở Vietnam bây giờ weekend được nghỉ luôn cả thứ Bảy và Chúa Nhật như nước ngoài. Các hãng tư nếu muốn tham gia weekend trọn vẫn phải trả lương cho nhân viên 6 ngày như xưa. Nhà nước khuyến khích người dân tiêu xài thả cửa bởi hiện có nạn giảm phát (deflation) trong nước.
Vùng cong oằn của thời gian: Sau buổi gặp gỡ xã giao ở Sở Thương Mại chúng tôi được đưa về check-in ở khách sạn New World. Lúc đó vào khoảng 5 giờ 30 chiều. Tôi điện thoại cho bà chị hẹn chiều ngày hôm sau sẽ lẻn về thăm nhà, rồi đi ra ngoài dạo một vòng ngã sáu Sàigòn. Phố xá tấp nập nhất là ăn uống ở khu chung quanh khách sạn. Nhiều hiệu ăn mới mẻ bán thức ăn Nhật (có vẻ thịnh hành ở Việt Nam hơn xưa rất nhiều), và Hàn quốc. Tôi tấp vào một quán cóc bên đường thử một tô phở với dụng ý sẽ so sánh với phở nước ngoài và phở Hànội mấy ngày sau. Tô phở ở Vietnam rất nhỏ so với tô mì tô phở ở nước ngoài, nên đối với tôi cũng chẳng ảnh hưởng gì với việc phải ăn tối buffet ở khách sạn vào khoảng 8 giờ tối bữa đó. Buffet chắc do đầu bếp Tây có bằng cấp nước ngoài hay sao mà các món ăn nấu rất chuẩn. Thêm vào đó tại phòng ăn họ có để một chiếc xe mì hủ tiếu kiểu hồi xưa của người Hoa với tranh khắc trên kiếng xe những mẩu truyện Tàu như Tam Quốc Chí. Ai muốn ăn phở hay bún thang (tùy bữa) thì đến chiếc xe này sẽ được một cô chiêu đãi làm cho một bát rất nhanh. Phòng ăn và khách sạn, trái với tin đồn đại, rất tấp nập đông người. Tại lobby của khách sạn tối tối có hoà nhạc cổ truyền dân tộc hay nhạc Hoa, dùng những nhạc cụ cổ truyền trong đó có nhạc cụ do nhiều khúc tre gắn lại với nhau của người dân tộc phía Bắc. Người chơi nhạc chụm lòng bàn tay lại và vỗ tay trước miệng của từng khúc ống tre đó. Những lúc ban nhạc dừng chơi, người nước ngoài nào đi ngang đó thường hay đứng lại thử vỗ vỗ vài cái cho vui. Cạnh đó có phòng coffee, tối tối có một hai nghệ sĩ người Âu Châu đến ca hát bên cạnh đàn piano.
Tối đó tôi bật radio trong phòng, vặn volume nho nhỏ để nghe nhạc dễ ngủ. Cái băng nhạc kéo chừng 1-2 giờ rồi lặp lại từ đầu. Ðó là những bản nhạc đa số có trước 1965 rất nhẹ nhàng và rất cũ, như Crazy Love, Diana của Paul Anka, the Young Ones của Cliff Richard, v.v. Nghe nhạc một khoảng khá lâu và trong lúc chập chờn với giấc ngủ tôi có cảm tưởng như lạc vào vùng cong oằn của thời gian, không biết hiện giờ là năm 1965 hay 1975 hay là sắp sửa kết thúc một thế kỷ và bước vào một thiên niên kỷ mới. Tôi không biết rõ mình sắp sửa xong trung học hay chưa hay là đang đi vào tuổi lão. Cũng trong giấc mơ chập chờn đó tôi thấy mình bước vào nhà. Thật rất lạ là cái nhà đó vừa có hình ảnh của nhà Thầy Mẹ tôi ở Bàn Cờ và vừa pha trộn với phòng khách nhà tôi ở tại Sydney. Rất may là một hai đêm sau họ đổi băng nhạc mà đa số là nhạc kích động trong đó có một hai bản nhạc mới bây giờ (thường nghe các ca sĩ giúp vui Vietnam hò hét ở các tiệc cưới) như Cup of Life (Go go go go go ale ale ale) nên tôi nhanh chóng ra khỏi cái vùng cong oằn thời gian đó để chuẩn bị đi Hànội.
Mua Sách: Lần nào về Việt Nam tôi cũng đi lùng mò các tiệm sách. Có lần tôi nhờ một người bà con chở xe Honda đi lùng quyển Hơn Nửa Ðời Hư của cụ Vương Hồng Sển ở mấy tiệm sách solde bởi sách ở Vietnam in ra rất ít. Bình quân mỗi cuốn sách xuất bản chỉ in ra chừng 5000 quyển khiêm nhượng cho một dân số trên dưới 78 triệu. Thành ra quyển nào quyển nấy chỉ thấy chưng bày ở các tiệm sách lớn chừng 2-3 tháng rồi bán hết sạch. Người mua trễ phải chạy ra tiệm bán sách cũ. Lần này tôi cũng dành 1-2 giờ đi rảo mấy tiệm sách lớn ở đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi và Tự Do (cũ). Sách Việt Nam bây giờ ấn loát rất đẹp và có rất nhiều quyển nghiên cứu và tiểu thuyết, truyện ngắn mới rất hay. Nhất là giá rẻ so với sách Việt in ở Mỹ. Mấy sách chuyên về Mác Xít Lê Nin nít dần dà biến đi đâu mất. Tôi lựa được gần 20 quyển sách định mua, nhưng phải trả lại đến 8, 9 quyển bởi sợ nặng quá cân lượng hành lý và cũng không có tay khuân về khách sạn. Thử liệt kê một vài quyển sách tôi đã mua tại Sàigòn và mấy ngày sau tại Hànội:
Kim Dung giữa đời tôi, Quyển 3 (bởi quyển 1 và 2 đã bán hết rồi) của Vũ Ðức Sao Biển: Rất hay cho những người đã từng mê đọc Kim Dung. Tác giả từng là sinh viên ban Hán văn Ðại Học Văn Khoa Sàigòn. Hiện nay ở Vietnam có nhiều bản dịch mới của các pho truyện Kim Dung cũ và theo tác giả, đa số đều dịch rubbish (có một số được dịch và in tại Ðà Nẳng) thua xa các ông Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, và . . . .chính tác giả. Tác giả cũng trích cho đăng một hai hồi trong các bộ Hiệp Khách Hành và Tiếu Ngạo Giang Hồ do tác giả mới dịch lại.
Oan Khuất AQ, cũng của Vũ Ðức Sao Biển. Trong quyển khảo luận ngắn này tác giả thuật lại và nhận xét về xã hội Trung Hoa qua các nhân vật tiểu thuyết lịch sử xuyên qua các thời đại từ Chiến Quốc đến Nhà Thanh. Bài cuối chú trọng đến nhân vật AQ của văn hào Lỗ Tấn, tiêu biểu cho người dân thấp cổ bé miệng ở Trung Quốc qua các thời đại.
Bảo Ðại - Vua cuối cùng của Triều Nguyễn, của Phan Thứ Lang. Ðiểm ngạc nhiên là quyển sách được viết với một cái nhìn tương đối hơi khách quan. Quyển sách được nghiên cứu hơi kỹ, xử dụng các sách báo cũ và phỏng vấn các người bạn hoặc hầu cận cũ còn sống sót của vị vua cuối cùng. Quyển sách hoàn toàn đề cao các đức tính của Hoàng hậu Nam Phương và có lẽ là quyển sách đầu tiên thuật lại các cuộc đời tình ái của cựu hoàng.
Trần Lệ Xuân của Lý Nhân. Khác với quyển 'Bảo Ðại' ở trên quyển 'Bà Nhu' nghiên cứu tư liệu không được sâu sắc, và lạc đề hơi nhiều trong những đoạn dề cập đến ông Diệm ông Nhu.
Bảy Viễn - Thủ lãnh Bình Xuyên của Nguyên Hùng. Lịch sử pha trộn với phóng tác tiểu thuyết. Nhiều sự kiện bị bóp hơi méo mó một chút nhưng đọc rất hấp dẫn.
Những Truyện Hay Cực Ngắn của 100 tác giả khác nhau. Chưa đọc nhưng bà xã đọc rồi cho rằng khá hay, nhất là lối hành văn mới mẻ cuả các người viết.
Sử Trung Quốc, (trọn bộ 3 quyển) tác phẩm cuối cùng của cụ Nguyễn Hiến Lê. Mới đọc gần hết quyển 1, để ý cụ Nguyễn Hiến Lê chú trọng nhiều đến việc phát triển tư tưởng và văn minh của Trung Quốc hơn là các sự kiện, diễn biến lịch sử. Ðiểm để ý nhất là tác giả có nhắc đến một triết gia nước Sở thời Chiến quốc tên Hứa Hành hiện thức được một thể chế chính trị y hệt như chế độ cộng sản mà Karl Marx cho lăng xê vào trên 2000 năm sau. Hưá Hành 'chủ trương mọi người hoàn toàn bình đẳng, dù vua chuá cũng phải cày ruộng lấy mà ăn, và mọi hàng hoá ở chợ chỉ có một giá thôi. . . Mạnh Tử cho như vậy là làm loạn thiên hạ. . .'
Thầy Tôi, của nhiều người viết khác nhau viết về những người THẦY đã gây ảnh hưởng trong đời của các học trò. Chưa đọc nhưng người đọc rồi khen hay (!)
v.v. và v.v.
Ăn quà vặt và Phở sốt vang: Tôi có một thói quen giống rất nhiều người trên quả địa cầu này, và đó là ăn hàng vặt. Tôi nhớ có lần về Vietnam và đi ra khu Chợ Cũ gần góc đường Nguyễn Huệ và đường Ngô Ðức Kế tôi cùng với một người bà con đã đừng lại bên lề đường đứng bên một xe bán hàng rong ăn bột chiên xịt nước tương theo kiểu người Hoa trong Chợ Lớn thật ngon lành. Kỳ này tôi để ý phố xá có vẻ sạch sẽ hơn trước và các xe bán hàng rong không còn thấy lảng vảng ở các đường lớn nhiều người nước ngoài như Nguyễn Huệ hoặc Lê Lợi hay Ðồng Khởi. Nhiều tiệm ăn cở tiệm Givral hay Brodard mọc lên như nấm và trong khi đó Givral, Brodard hoặc cửa hiệu Bô-Ðê-Ga ở Hànội đang dần dà biến thành những di tích . . . lịch sử chứng kiến thăng trầm của bao nhiêu thời đại, bởi nó xưa cũ quá. Lần này khi ghé vào Givral tôi hơi thất vọng bởi nhà hàng không còn món xúp bong bóng cá mà tôi hằng ưa chuộng nữa. Món xúp bong bóng cá này cũng giống như món Phở Sốt Vang ở Hànội hình như cứ ở lì ở Việt Nam, không chịu di tản ra nước ngoài, theo bất cứ diện nào, bằng thuyền hay đoàn tụ gia đình, hoặc HO.
Ở Hànội chúng tôi được checked-in vào khách sạn 5 sao West Lake toạ lạc sừng sững bên cạnh Hồ Tây ở mạn đê Yên Phụ, một địa điểm được Nhất Linh mô tả trong quyển tiểu thuyết Ðoạn Tuyệt hình như vào lúc cô Loan bỏ anh chồng 'cà chớn' tên Thân trở về nhà thăm mẹ. Từ phòng tôi nhìn ra là một khung cảnh ngoạn mục 180 độ của Hồ Tây, đê Yên Phụ với sông Hồng nước lững lờ trôi. Sáng tôi ưa dậy sớm đi tản bộ vòng quanh khu đó để ăn quà vặt điểm tâm . . . trước khi về hotel vào phòng ăn vào khoảng 8 giờ giả vờ mới thức rồi ăn qua loa trái cây, uống cà-phê với mọi người. Có hôm tôi thấy ông Võ Nguyên Giáp (thường gọi là ông Văn) đạp xe đạp chạy vòng quanh bờ Hồ. Nghe nói nhà ông Giáp ở khu Ba Ðình gần Hồ Tây, và sáng sáng ông ưa 'keep fit' bằng cách xách xe đạp chạy vòng quanh hồ. Có lẽ ông vẫn giữ thói quen cũ nên ngày nay ở tuổi già ông thích đi thị sát chiến trường cạnh tranh kinh tế ở khu lòng chảo Hồ Tây.
Ðường Yên Phụ bên cạnh hotel là một khu, mặc dù giá nhà đắt đỏ, hãy còn tạm gọi bình dân. Cũng như nhiều đường phố khác ở Việt Nam đường này có nhiều hàng bán quà vặt ngồi ghế xép. Có buổi tôi tạt vào ngồi xuống ghế xép ăn một đĩa bánh cuốn nóng, cả bánh cuốn mới tráng trước mặt lẫn chả đều nóng bốc khói. Tôi để ý nhiều người thích gọi thêm trứng đập ra rồi để vào nồi hấp chung với bột bánh. Cũng ở ngoài này, người ta thường ăn phở với . . . dầu chá quảy, cũng như người Hoa thường ăn với cháo. Phở ở ngoài này hoàn toàn vẫn giữ như xưa, không có biến chế hoà với giá sống giá chín hoặc rau thơm gì cả, và dùng rất nhiều mì chính tức MSG. Cũng giống như ở Băng Cốc - Thái Lan, người ta thường múc cả muỗng xúp MSG rồi cho vào tô phở hoặc bát bún riêu vừa mới làm xong còn đang hun hút khói. Có một buổi chiều sau khi ra phố trở về bằng xích lô, rồi xích lô cho tôi xuống vì đường Thanh Niên dẫn tới hotel bị cấm xích lô, tôi tản bộ dọc theo bờ hồ trở về khách sạn thì thấy một cô đang quảy gánh rao bán bún riêu. Lâu năm không có ăn món này tôi ngồi xuống băng ghế dài bên hồ và gọi một bát bún riêu. Giá 5000 đồng cở chừng 30 cents Mỹ. Tôi chưa kịp dặn dò thì cô hàng đã múc một thìa MSG bỏ vào bát bún rồi. Khi tôi ăn xong và trả tiền cô ấy lịch sự hỏi: 'Ông ăn có được không ạ? Hàng cháu tuy bụi đời nhưng ăn cũng khá chứ hở ông?'. Ðiểm đáng nhớ là bát phở hay bát bún gì ở Việt Nam đều rất nhỏ, bằng cở một phần ba phần tư tô phở hay tô bún ở nước ngoài, nhất là nếu so với những tô ở quận Cam hay ở Sydney, Melbourne, hoặc so với tô mì Ramen ở Tokyo. Hèn gì người nước ngoài dễ bị cholesterol cao.
Có một buổi sáng tôi đi ăn hàng sáng trở về vừa trễ dịp gặp ông Ðại sứ của nước Ôx-trây-lia chúng tôi tại Việt Nam đến khách sạn ăn điểm tâm với đoàn chúng tôi. Bữa đó tôi nhớ tôi tạt vào một xe phở, cũng ở khu Yên Phụ, và kêu một tô phở sốt vang. Tôi nhớ tôi ăn phở sốt vang lần đầu tiên tại Hànội vào khoảng cuối năm 1992 cùng với ông anh cả tôi ở gần khách sạn dưới phố. Lần đó tôi có ấn tượng tốt về món này. Nhưng lần này có lẽ vì ngán mỡ hay vì không đói nên tôi không thấy sốt vang có gì xuất sắc. Ðang ăn giữa chừng ông chủ phở đưa một lọ chứa nước dấm ngâm tỏi và ớt: 'Bác dùng phở sốt vang với tỏi ớt mới ngon'. Bên cạnh tôi một thanh niên đang bạo dạn làm quen với hai thiếu nữ mới ngồi xuống ghế xép và cũng kêu hai tô phở sốt vang. Tôi tưởng tượng những cảnh tượng thanh niên nam nữ làm quen dễ dàng như vậy vẫn thường xảy ra khắp nơi ở Hànội. Ngàn sau nối lại ngàn xưa, thiên niên kỷ trước đã như thế và thiên niên kỷ mới này chắc rồi sẽ cũng như vậy.
Phở sốt vang là một dạng của bò kho thuộc phía Bắc. Hai thứ đều dùng thịt bò nạm hay thịt bò gân cắt thành khối vuông và nấu đến vừa đủ chín mềm chứ không nhừ. Hình như bò sốt vang bắt nguồn từ một món của người Quảng Ðông, hay ít ra cũng giông giống, gọi là Ngầu Jập gồm bao tử bò, dồi trường, lá sách, gan và thịt bò nạm, v.v. nấu với củ cải trắng và nước sốt đặc biệt có pha trộn nhiều thuốc bắc. Món ngầu jập này thường có bày bán trong xe đẩy của những tiệm Yum Cha (ở Mỹ gọi là Dim Sum). Phở sốt vang theo bác Mùi, một ex-kiwi tu nghiệp, hình như nấu với lá vang (bay leaves - lá 'càri') với một ít rượu vang và húng lìu. Món này rất tiếc không chịu di cư vào Nam vào năm 1954, nên người miền Trung và miền Nam ít biết tới. Bởi không vào Nam năm 1954 nên món này lại càng không có dịp chen chúc di tản ra khắp nơi trên thế giới vào 1975 hoặc sau đó, nên so với phở bò và phở gà, hay bún bò Huế hoặc mì Quảng nó ngừng phát triển từ thuở đó cho đến ngày nay. Thật đáng tiếc. Ai có hàng phở nếu về VN tu nghiệp món này có thể trở sang với một món độc chiêu mới trong tay.
Chuyện đôi giày: Ngay buổi trưa thứ hai sau khi đến Hànội, tôi đã đến viếng tiệm bánh tôm bên cạnh Hồ Tây. Ðây là lần thứ hai tôi thử lại hiệu bánh tôm này và cũng thất vọng y như lần đầu. Bánh tôm chỉ là bột chiên với tôm đã gảy vụn chứ không có những lát khoai mỏng trộn vào bột bánh cho đúng điệu. Hiệu này có vẻ 'khinh thường độc giả' bởi vì tôi nhớ nó thua xa rất xa một tiệm bánh tôm Hànội làm trong Sàigòn. Có lẽ hiệu chỉ quảng cáo bánh tôm cho có lệ chứ thật sự chú trọng đến rất nhiều món ăn khác có trong thực đơn ba bốn trang.
Tôi đang ngồi chờ làm thức ăn trong gió mát nhũng ngày cuối thu (nhiệt độ chừng 19-20 độ C) thì có một em bé tới mời đánh giày. Tôi chợt nhớ dưới đáy giày phiá trong - dưới cái inner-sole - tôi thường dấu tiền đô la chừng 2-3 trăm để phòng khi bị móc túi phía trên. Thói quen dấu tiền kiểu này tôi đã develop trên 20 năm nay sau một chuyến bị móc túi ở Hongkong năm nào. Cho nên tôi từ chối không chịu cho em nhỏ đánh giày, mặc dù theo tiêu chuẩn ở VN giày tôi đã khá . . . dơ. Lúc tôi bắt đầu thưởng thức bánh tôm dở đó một em khác lại tới mời tôi đánh giày. Tôi cũng từ chối như cũ nhưng em năn nỉ: 'Ông cho con đánh giày để giúp chúng con đi ông'. Tôi cảm động và cởi đôi giày cho em đó đánh. Em đánh giày vội vàng xỏ vào đôi chân tôi hai chíếc dép cao xu để mang tạm thời và đến chia một chiếc giày với em đánh giày hồi nảy cũng còn đứng gần đó. Vừa ăn thỉnh thoảng tôi xem chừng hai em đánh giày có lật cái innersole lên hay không.
Vào buổi trưa hôm sau, sau khi đi hớt tóc gội đầu thoải mái trong một hiệu hớt tóc thanh nữ ở khu gần hồ Hoàn Kiếm, tôi đi tản bộ qua phố Hàng Dầu. Khu phố này chứa toàn những hiệu bán giày dép, người qua lại rất tấp nập. Ðầy đủ các loại giày thể thao như Nike, Reebok, v.v. Trên vĩa hè lại còn có những thợ sửa chữa giày ngồi ở các gốc cây, ngay trước các tiệm giày. Tôi chợt nhớ đôi giày bị mòn lệch một bên cũng khá sâu mặc dù hãy còn khá mới. Tôi dừng lại hỏi giá cả một anh thợ tuổi chừng 25. Thấy giá rẻ, 15000 đồng tức chừng 1 US đôla tôi ngồi xuống ghế xép và đưa đôi giày cho anh ấy làm. Anh ấy cũng xỏ vào chân tôi đôi dép cao su mang đỡ. Ðúng là tay thợ nhà nghề, anh ấy lật tới lật lui xem rồi nói: 'Chắc giày này người thân của bác gửi về từ nước ngoài?' Tôi ầm ừ gật đầu. Anh thợ giày bắt đầu làm việc bằng cách cạo đi lớp bụi và lớp cao su ở đế giày, xong anh ấy mới đóng vào chỗ mòn bằng một miếng giấy cáac-tông cứng. Tôi e ngại khi thấy anh ấy lật miếng innersole lên và thấy có miếng giấy dẹp dẹp (gói vài trăm đôla phòng thân của tôi). Anh ấy tiếp tục đóng giấy cứng rồi lấy dao bén gọt dũa chung quanh đế. Xong anh ấy cầm đôi giày đứng dậy nói là xách đi mài bằng máy. Tôi nom theo anh ấy băng qua đường rồi đi một quãng chừng 50 thước xong rồi rẻ vào một căn nhà. Hoảng hồn quá vì chợt nghĩ có tiền trong một chiếc giày, có thể là sửa giày rẻ sẽ đâm thành mắc. Thà là đi mua đôi giày mới còn hơn, nên tôi vội chạy theo tìm anh ta. Tới cửa căn nhà ban nảy tôi thấy anh ấy rẻ vào tôi gặp một bà cụ chủ cửa hiệu hơi tối tăm bán kim chỉ gì đó. Tôi bật gọng kính râm lên, hỏi bà cụ có biết anh thợ sửa giày ở đâu không thì bà ấy lật đật dẫn tôi vào tuốt phía trong. Tới phiá sau tôi thấy anh thợ mang mặt nạ đang tiện giũa một chiếc giày tôi trên máy. Tôi giả vờ đến xem và cầm lên chiếc giày kia đã tiện rồi, ngắm ngía và nhanh tay xem trong lúc anh ấy không để ý rút gói giấy dẹp dẹp chứa đôla kia ra bỏ vào túi áo. Anh ấy bảo tôi nên trở về 'cửa hàng' anh ấy để xem chừng dùm. Tôi trở lại chỗ cũ mua một lon nước ngọt rồi ngồi xuống ghế xép chờ đợi. Một lúc sau anh thợ giày trở lại đóng đóng thêm một chút rồi lại băng qua đường đi về hướng khác nói là đi mua cao su cứng để đóng đế giày. Cảnh tượng phố phường Hanoi rất là 'friendly'. Một ông lão đi ngang thấy tôi ngồi đó nhìn vào đôi giày vội lật chiếc giày ông ấy lên và nói: 'Bác phải đóng thêm vào một miếng đế như của tôi ngay sau khi bác mua đó bác'. Loa phóng thanh tự nhiên bật lên tuyên bố kết quả lạc quyên giúp nạn nhân bão lụt miền Trung. Nào là đã nhận được từ ông Hai ở đầu phố Hàng Dầu 50000 đồng, bà chủ tiệm giày Hưng Thịnh, và một người ẩn danh bao nhiêu bao nhiêu, v.v. Tôi chợt nhìn ra đường thì thấy một đoàn chừng 5 chiếc xích lô chở mấy người du khách tây đầm Âu Mỹ đi dạo phố phường. Ở chiếc xe cuối cùng tôi thấy có một thanh niên Việt địa phương ngồi có vẻ vui tươi tự đắc. Trong phút chốc tôi đoán là người ấy chắc là thông dịch viên cho đoàn, nhưng khi chợt nhìn thấy người đạp xích lô là một ông Mỹ to lớn, tôi mới biết là ông du khách Mỹ đã thương lượng với người đạp xích lô cho ông ấy đạp thế ông xích lô, và cho ông xích lô làm hành khách của ông ấy. Có lẽ ông Mỹ này đang chụp cơ hội tập dượt đạp xích lô để khi về Hollywood hay Paris ông ta sẽ đi đóng thử audition cho phim Cyclo 2 chăng?
Một lúc chừng năm mười phút sau, anh thợ sửa giày trở về trên tay cầm một miếng cao su trông giống vỏ xe hơi, cắt gọt rồi đóng lại đế giày tôi, sơn đen lại đế trông như mới.
Ăn thịt rắn và lối tiếp thị mới mẻ: Tôi nhớ mãi chuyến về VN lần đầu vào năm 1990. Lúc đó ngoài chuyện gia đình còn đông đủ còn có cảm tưởng mới lạ và bồi hồi sau 15 năm xa cách gia đình và quê hương xưa cũ. Ðó cũng là lần đầu tiên tôi gặp lại ông anh cả sau hơn 35 năm xa cách. Ngoài ra tôi còn chứng kiến những sinh hoạt náo nhiệt của bà con láng giềng mãi mê thức suốt đêm theo dỏi trận bóng đá quốc tế World Soccer Cup tổ chức tại Pháp. Chuyến đi đó cũng cho tôi một dịp 'tiếp cận' với đồng quê VN qua việc ăn . . . thịt rắn. Lúc đó ông anh cả tôi có cho thuê phiá trước của nhà ông ấy cho một công ty buôn bán từ chốn Ðồng Tháp lên thành phố lập văn phòng mậu dịch. Một buổi chiều nọ mấy thụ trưởng đơn vị này có nhã ý mời anh em tôi đi nhậu thịt rắn và rùa. Kỳ đó tôi nhớ thịt rắn được nấu với thuốc bắc theo kiểu người Hoa, bởi tiệm nhậu nằm ở khu đường Trần Phú (Nguyễn Hoàng cũ). Tất nhiên lúc nào cũng có cái màn bỏ tim gan của rắn hổ mang còn thoi thóp giẫy giẫy vào một chai rượu đế nhỏ và chia nhau uống ngay lúc máu huyết con rắn còn nóng. Lạ quá sau chuyến đi đó, lúc trở về nước (Úc) cái lưng đau gần như kinh niên của tôi do ở việc ngồi bàn giấy lâu năm tự nhiên hết hẳn. Từ đó trở về sau bất cứ lần nào có dịp về Việt Nam tôi cũng tìm đi ăn thịt rắn. Thường thường đưá cháu trai của tôi - một expat từ Sydney - và tôi ưa đến tiệm Tri Kỷ Gốc (để phân biệt với các quán Tri Kỷ giả) ở miệt Tân Ðịnh gần rạp hát Văn Hoa ngày xưa, để ăn thịt rắn vì tiệm này nấu rắn theo kiểu Việt (tức là có mấy món như rắn bầm xúc bánh đa, rắn xào lăn, v.v.). Thế kỳ này khi về tới Sàigòn thì người cháu đang ra công tác ở Hànội nên tôi đành dành việc gôuter thịt rắn tại thủ đô ngàn năm văn vật vậy. Thịt cầy thì sau một hai lần thử lúc trước tôi không hâm mộ lắm và cũng có ý kiêng cử sợ xúc phạm đến bà con họ hàng của con Sam trong nhà.
Ðến Hànội chừng một hai ngày sau thì cháu tôi kêu taxi đến khách sạn đón tôi đi cùng với một cặp vợ chồng người bạn của nó (người vợ là người Hànội chính cống). Xe taxi đi về khu Lệ Mật thì lái xe (bây giờ ở Việt Nam người ta gọi 'người tài xế' là 'lái xe') nói rằng anh ta không nhớ rõ là phải rẻ vào hẻm nào, để đến các tiệm thịt rắn. Ở Hànội có cái hay là người ta quen chia ra thành từng khu theo kiểu 36 phố phường và tập trung những hàng hoá, dịch vụ cùng một loại vào từng khu đó. Thành ra cái hẻm mà lái xe đang tìm kiếm là một ngõ hẻm có rất nhiều tiệm chuyên bán thịt rắn thịt rùa và các loại chim rừng. Nhiều người trong xe đề nghị lái xe nên tắp vào đầu một ngõ hẻm nào đó và hỏi người địa phương. Chiếc taxi vừa chạy chậm chậm đến đầu một ngõ rẻ thì từ đâu thấy xuất hiện một thanh niên chạy xe Honda đến gần taxi chúng tôi với tay kêu vặn kính xe xuống để anh ta chuyền vào xe tấm 'danh thiếp' của hiệu ăn thịt rắn ngay trong hẻm đó. Xong rồi anh ta quay chiếc xe Honda lại ra hiệu chúng tôi chạy theo xe anh. Qua cặp kính râm tôi thấy chiếc áo T-shirt của anh chàng dẫn mối này có in hình một con rắn rất đẹp cả phía trước lẫn phía sau, tên hiệu ăn cùng địa chỉ và số điện thoại. Tôi chắc rồi một ngày gần đây T-shirt này cũng sẽ in luôn website và email của tiệm thịt rắn. Thịt rắn ở Hànội có vẻ 'kiểu' hơn trong Sàigòn, bởi có chủ nhân ra tiếp khách mời thức khách đi 'tham quan' mấy cái 'chuồng' chưá rắn hổ mang mời lựa rắn như ngươì ta lựa tôm hùm hay cua, cá ở các hiệu ăn hải sản của người Hoa. Lựa rắn xong rồi có một tay 'thợ rắn' cầm cây móc lôi nó ra cho nó lượn thân hình trong thế 'quỳ gối' lờn vờn ở giữa sân xi-măng - xong rồi cắt cổ nó lấy huyết và lấy túi mật. Xong màn biểu diễn đó chủ nhân mới mời thực khách bước lên lầu và ngồi vào bàn. Chừng 3, 4 phút sau người hầu bàn đem mấy chung rượu ra trong đó có một chung có quả tim hay gan gì đó còn giẫy giẫy trong rượu. Chủ nhân ngồi xuống bàn mời mọi người cùng uống rượu với ông rồi mới cáo lui, trước khi người ta lần lượt đem từ nhà bếp thịt con rắn ban nảy nấu thành 7 món.
Cái lối tiếp thị bằng xe Honda đó tôi lại thấy một lần nữa vào hôm đi Vịnh Hạ Long với ông bạn kế toán gia gốc Ai Cập. Xe đang chạy gần đến Vịnh Hạ Long thì có một chiếc Honda đuổi theo taxi chúng tôi với tốc độ cao. Thanh niên lái Honda ra hiệu chúng tôi vặn kính xuống. Cũng để thảy vào xe các danh thiếp của một hãng tàu chở du khách đi tham quan các đảo ở Vịnh Hạ Long. Tôi để ý trên tấm danh thiếp có ghi một mặt chữ Anh, trong đó có từ sáng tác mới mẻ, guidtor, chắc là muốn ám chỉ người hướng dẫn du khách, tourist guide. Tôi chợt nhớ đến lần về VN đầu tiên 1990 đứng tại khu Bưu Ðiện - Nhà Thờ Ðức Bà tôi có để ý đến một từ cũng tiếng Anh ghi ở đâu đó dùng để chỉ 'ngày nghỉ' tức holiday, mà họ ghi là feastday. Tôi đoán biết được ngay hồi đó Việt Nam mới mở cửa các cán bộ nhà nước quen tránh những gì liên hệ đến thần thánh như Holy trong từ holiday nên họ phải thay thế Holi thành Feast. Mấy lần sau về VN tôi quên bẵng việc check lại xem Anh Ngữ tại Vietnam đã theo tiêu chuẩn 'quốc tế' hoàn toàn chưa, qua từ holiday này. Chắc chắn là họ đã thay đổi từ feastday trở lại thành holiday rồi, để mấy nhà đầu tư từ nước ngoài như Taiwan, Hongkong hoặc Singapore có thể hiểu dễ dàng hơn.
Ði Vịnh Hạ Long: Vịnh Hạ Long cách Hànội trên dưới 130km. Mặc dù có đường xa lộ rất rông mới mở nhưng tốc độ xe chạy ở Việt Nam rất thấp, khoảng 40km/giờ tối đa ngay trên xa lộ, nên từ Hanoi đi ra đó cũng tốn trên 3 giờ đồng hồ. Cháu tôi có hẹn sẽ mượn xe 4WD của hãng để đưa tôi cùng một hai người bạn đi ra ngoài đó chơi vào sáng Chuá nhật trước ngày về một ngày. Thế nhưng khoảng 7 giờ sáng người cháu gọi điện thoại tới nói bận mục khác nên cho tôi số điện thoại của một hãng thuê xe bảo rằng thuê xe trọn ngày đi ra Vịnh tốn 1 triệu đồng VN tức là khoảng 70 đô Mỹ. Tôi qua phòng rủ ông bạn Sam người gốc Ai Cập đi cùng và điện thoại hẹn xe thuê tới đón. Hên hôm đó trời không mưa nhưng cũng ít nắng. Phải nói luật giao thông của VN hãy còn lỏng lẻo nếu không nói gần như không có. Xe chạy không để ý gì đến hai đường chia mỗi chiều trên xa lộ, và thường thì chạy vào giữa cái vạch trắng chia ra hai lanes đó. Xe đạp xe bò nhiều khi chạy ra đường chia bên ngoài, trong khi xe sau trờ tới bóp kèn inh ỏi. Xa lộ vẫn thu tiền qua các cầu lớn như ở tại một vài nước Tây phương như ở Úc. Có điểm khác biệt là trên xa lộ VN địa điểm thu tiền cách xa cầu đến cả 1-2 cây số để tránh cầu khỏi bị ngẹt xe. Người thu tiền lên cầu đa số đều mang mặt nạ tránh bụi và ô nhiểm. Tôi để ý cái gì cũng theo luật tương đối. Nếu ở Âu Châu chạy xe trên xa lộ với tốc độ 40km/giờ có thể bị rượt theo bảo dừng xe bên đường hay 'đi chỗ khác chơi' vì quá chậm, cản trở lưu thông thì tại VN tôi thấy 40km/giờ cũng là quá nhanh vì nó nhanh hơn xe đạp và xe bò khá xa!!
Khoảng gần 12 giờ xe chúng tôi tới Vịnh Hạ Long. Bơỉ chúng tôi đi bất chợt, xé lẻ 2 người và đi theo kiểu sáng đi chiều về nên bắt buộc phải thuê tàu ra các hòn đảo riêng rẻ. Tất nhiên là sẽ đắt hơn là đi 'tua' được quảng cáo đầy trong Hànội, giá chừng US$15 đến $20, bao gồm cả một đêm nghỉ trên đảo Cát Bà. Lái xe giới thiệu một thanh niên chủ tàu và ra giá $50 chở ra hai đảo rồi trở về trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Ông bạn đồng hành Sam chê mắc quá và thấy cảnh ở bờ biển vùng vịnh cũng đã đẹp rồi nên có ý định không đi. Chủ tàu xuống giá còn $40. Phản ứng ông Sam trở nên cương quyết hơn, ông không đi. Tôi kéo ông sang một bên cố gắng thuyết phục ông bởi ông nói tôi muốn đi thì cứ đi một mình đi, ông sẽ đến một quán ăn gần đó uống ly rượu vang chờ tôi. Vừa từ chối ông vừa giận dữ nói thằng cha chủ tàu vi phạm đến nguyên tắc của ông. Ông viện đủ thứ lý do để từ chối. Tôi kêu anh chủ tàu dẫn ra chiếc tàu buồm và có động cơ máy để chỉ ông Sam hầu mong ông ấy chịu đi, chứ tôi đi một mình ra ngoài đảo thì quả 'không giống ai' giữa một cái chợ đông đảo du khách như hôm đó. Tàu rất rộng chứa được chừng 20-30 hành khách. Ông Sam khăng khăng không chịu đi nói là anh chủ tàu đổi giá tráo trở như vậy thì không biết anh sẽ làm gì mình khi tàu ra khơi. Nhiều khi chủ tàu sẽ ăn cướp rồi liệng mình xuống biển!! (Về sau tôi kể lại chuyện này với Laurie, bạn lâu năm của Sam, thì Laurie cho biết là đêm hôm trước Sam làm quen được với một thiếu phụ người Việt cở chừng 30 tuổi làm việc tại khách sạn. Sam rủ cô ấy đi ăn 'dinner' và sau đó khám phá ra rằng cô ấy hiện có chồng, Sam ta lập tức cắt đứt mọi liên hệ với cô ấy. Tôi có hỏi Sam chuyện này, và Sam xác nhận anh ta sống với một số nguyên tắc hơi cứng nhưng an toàn trên xa lộ như vậy). Trở lại chuyện khổ tâm của tôi khi phải thuyết phục Sam là nên đi cho nó biết đó biết đây chứ lỡ ra đến đây rồi thì làm sao. Thật là bực mình. Một lúc sau tôi nghĩ ra một chuyện và quay sang hỏi anh chủ tàu có 'licence' hành nghề hay không đua cho Sam coi. Anh chủ tàu nói anh ấy có đến 4, 5 chiếc tàu ở đây - nếu không tin thì đi hỏi công an ở phòng thông tin. Tôi kéo Sam, anh chủ tàu và tài công cùng lái xe đến phòng gác của công an và để anh chủ tàu nhờ công an xác nhận trước mắt Sam là chủ tàu là người làm ăn chân chính lâu năm. Tội nghiệp công an không mấy rành tiếng Anh nên chỉ xác nhận bằng tiếng Việt với tôi. Ông Sam cơn giận hơi nguôi nhưng vẫn chưa thoả mãn với checking đó. Bí qua tôi chỉ nghĩ ra một cách cuối cùng là nhờ công an nhìn thẳng vào mặt ông Sam và nói to 'OK'. Presto! Ông Sam chịu xuống tàu ra khơi, đi ra tham quan hai hòn đảo ngoài khơi.
Kết quả của chuyến đi đó: Tôi chỉ thấy thích thích hay hay thôi, nhưng Sam thì thơ thới hân hoan, sảng khoái ra mặt. Thích thú nhất ông lặp đi lặp lại là mấy núi đảo đó ở trong là rỗng chứa đầy thạch nhủ stalagtites với stalagmites. Ông ta mua cả mấy bộ video, postcards, CD Rom, đồ vật kỷ niệm ở ngoài đảo và nói tao chưa từng đi chỗ nào đẹp như chỗ này, rồi đây chắc chắn tao sẽ trở lại. Dân ở đây tốt lành quá, cảnh như chốn thiên đường ở hạ giới. . . Về đến khách sạn tôi nghe anh ta nói với Laurie là đến Việt Nam mà không đi vịnh Hạ Long cũng như đi Pháp mà không lên tháp Eiffel!! Mấy lần tới Laurie có tổ chức đi công tác thương mại thay vì ở khách sạn West Lake nên đem hết đoàn ra ngoài Vịnh mà ở hotel ngoài này để họp hành thoải mái hơn (sic)!!
Hànội và Sàigòn về đêm: Ở Sàigòn, vào đêm thứ hai chủ tịch Laurie khoản đãi đoàn ở một tiệm ăn khá sang trọng tên Mandarin toạ lạc tại khu hải quân cũ ở bến Bạch Ðằng. Tiệm ăn là một toà nhà hai tầng - chắc của một Phó Ðề Ðốc nào trước kia - trang hoàng rất đẹp mắt, với sàn nhà bằng gỗ đánh varnish bóng như nhà ở Mỹ ở Úc hiện nay. Chỗ ngồi rộng rãi nhưng chật ních khách. May mắn người quản lý - một người Âu Châu - chịu kêu mấy cô tiếp đãi mặc áo dài tha thướt dọn thêm hai ba ghế vào một bàn 8 chỗ ngồi duy nhất còn trống ở trên tầng trên, và xin lỗi khách vì bàn ăn chật chỗ. Ở giữa sàn nhà phía dưới có một nhóm nhạc sĩ đang hoà tấu nhạc giúp vui. Ban nhạc gồm một cô xử dụng đàn tranh, một anh chơi đàn dương cầm và một cô chơi cây đàn độc huyền cầm, tức đàn bầu hay đàn một dây, một phát minh thuần tuý Việtnam. Một anh hướng dẫn người điạ phương đã từng tu nghiệp ở Canada đến yêu cầu ban nhạc chơi vài bản Mỹ. Lập tức ban nhạc chơi bản hành khúc Jezebel rồi tới Sukiyaki, v.v. rồi trở lại chơi mấy bản cổ truyền VN trong đó có quan họ Bắc Ninh. Tiết tấu vừa vui tươi vừa dòn tan du dương. Không khí trong phòng ăn rất sống động và nhộn nhịp. Khi kêu món ăn tôi để ý thức đơn gồm rất nhiều món ăn mới sáng chế sau này theo kiểu nouvelle cuisine theo với trào lưu của Úc và Mỹ hiện nay. Thức uống có rất nhiều cocktail cũ như Daiquiri, Fallen Angel, Grasshopper, v.v. và mới như Saigon Special, Fruit combination, v.v. Ðặc biệt lúc đó vừa cuối mùa trái Thanh Long, nên chúng tôi cũng gọi được món tráng miệng Thanh Long và ice-cream ăn đỡ khổ.
Sàigòn có vẻ có nhiều hiệu ăn sang trọng như vậy hơn Hànội, nhưng bù lại Hànội có vẻ có nhiều phòng trà cà phê ca nhạc hơn Sàigòn. Hôm sau, đêm cuối cùng sở Thương Mại thành phố đãi tiễn biệt chúng tôi ở một tiệm ăn sang khác ở đường Bùi Thị Xuân tên Song Ngư. Tiệm này cũng đông ngẹt thực khách mặc dù được biến chế từ một villa rộng lớn trước kia. Ở cuối phòng ăn cũng có một dàn nhạc gồm 3 thiếu nữ ăn mặc áo dài chít khăn cổ truyền tiêu biểu cho 3 miền Trung Nam Bắc. Một cô chơi đàn một dây, một cô xử dụng đàn tranh và cô kia khảy đàn kìm. Có một lúc nghỉ xả hơi người ta khiêng vào một cây đàn khỏ mấy khúc tre đan lại với nhau, và cô đàn tranh cất cây đàn tranh sang một bên đứng ra biểu diễn đàn khúc tre. Nhạc họ chơi rất vui tươi và sống động. Toàn là những bản nhạc vàng ngày xưa xen lẫn với những bản nhạc nổi tiếng Âu Mỹ. Những bản nhạc của các nhạc sĩ như Y Vân, Văn Phụng, Anh Bằng, v.v. được chơi pha trộn với các bản như Que Sera Sera, My Darling Clementine của Âu Mỹ. Anh bạn ở sở thương mại nói rằng các cô này thường đang học hoặc đã tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc tối tối ra các nhà hàng làm thêm. Tiệm ăn này cũng như tiệm kia đều có những món ăn mới sáng chế như món lẩu Song Ngư (lấy tên của quán) dùng hai con cá (tên gì quên mất rồi) đã chiên sẵn, xong rồi một thiếu nữ đến bàn giẻ cá ra rồi bỏ vào nồi lẩu đã dọn sẵn đun sôi trong đó hình như có pha một tí mắm. Xong rồi cô dùng đũa gắp cho từng thức khách mỗi người một chén lẩu song ngư pha với bún và rau sống. Ăn nóng tại chỗ! Hình như tiệm nào ở Sàigòn bây giờ cũng đều có những món mới sáng chế - không thua gì các hiệu ăn sang trọng ở Sydney chuyên môn theo nouvelle cuisine. Có tiệm quảng cáo là có thực đơn đếm tới 43 món lẩu khác nhau! Mỗi tháng ăn một lần phải đến gần 4 năm mới hết các thứ lẩu đó!
Trong lúc tiệc gần tàn anh bạn ở sở thương mại căn dặn với tôi rằng nếu ra Hànội mùa này hãy tìm ăn cho được cơm lam và cơm niêu, và nếm thử trái hồng (persimon) Thái Nguyên. Hồng này ngon rất kì lạ, anh ấy nói. Thế là khi ra tới Hànội tôi ngỏ ý với người cháu của tôi là tôi muốn thử cơm lam và cơm niêu. (Chả cá Lã Vọng thì tôi đã ăn nhiều lần rồi - ở Sàigòn và Hànội - nên kỳ nầy không tha thiết nó nữa. Ðiểm đáng kể là một đoạn phố Hàng Cân trước cửa hiệu Chả Cá Lã Vọng nay đã được đổi tên là đường Chả Cá để nhìn nhận hiệu ăn này đã trở thành một cơ viện (institution) của Hà Nội). Vào một buổi chiều cháu tôi (cũng đã 44-45 tuổi) đến khách sạn rủ tôi đi ăn cơm lam, cũng ở gần khu Yên Phụ sau một dãy tiệm chuyên bán thịt chó. Cơm lam là một món cơm của người dân tộc nấu trong ông tre. Hình như họ nấu bằng gạo nếp nên cơm rất dẻo. Cơm ăn với các món nấu chim rừng hoặc thú rừng xào lăn hoặc xào với đậu với hành củ. Ăn cơm lam thường uống với rượu cần, tức là một hủ rượu nếp ở dưới đáy hủ sau đó châm thêm nước suối cho đến ngập đầy hủ, và khách uống rượu bằng một ống hút làm bằng ngọn trúc cong veo dài và dẻo. Có thể cái straw để người ta uống milkshake hay từ những lon nước ngọt ngày nay đã được người dân tộc phát minh đầu tiên tại Vietnam chăng? Khi thấy hai cậu cháu tôi vừa xuống taxi bước vào tiệm lập tức hai người thanh niên to khoẻ ăn mặc quần áo dân tộc cùng nhau đánh trống ba hồi chào mừng chúng tôi. Tiệm cơm lam thiết trí như một nhà sàn bằng tre của người dân tộc. Dạo mới mở nghe nói thực khách rất đông. Lúc sau này nhiều tiệm ăn mở ra với những chiêu bài mới mẻ thu hút khách hơn nên cơm lam có vẻ hơi xuống. Trái hồng Thái Nguyên thì tôi mua được cả kí từ một bà quảy gánh bán hàng rong ở phố Hàng Ðào. Ðem hồng về chứa trong tủ lạnh ăn mãi không hết mới chia bớt cho ông bạn người Úc gốc Ai Cập đi cùng chuyến.
Cơm niêu có sắc thái đặc thù ViệtNam. Ở Hànội có rất nhiều hiệu cơm niêu và ở Sàigòn cũng mới mở một hai tiệm. Ðó là cơm trắng nấu trong một cái nồi lớn trước rồi múc cơm trắng nén vào một cái niêu bằng đất đường kính chừng 4 inch tức 10 cm. Người ta đậy nấp niêu lại rồi đút vào lò như lò pizza. Sau đó chừng 15 phút hay nửa giờ người ta mới đem niêu cơm ra đến tận bàn của thực khách. Người hầu bàn mới dùng búa đập bể cái niêu đất ra rồi liệng cả cái niêu cơm lên trên không để các mảnh vụn của niêu rớt ra ngoài xong mới đưa diã không ra hứng bắt lấy cơm từ trong niêu tuột ra. Các động tác đó xảy ra thật nhanh cạnh bên bàn ăn. Cơm từ niêu hứng bắt được là một nắm cơm to hình quả banh bầu dục bao bọc chung quanh bằng một lớp cơm cháy nóng vàng. Ở trong mới là cơm trắng. Cơm niêu thường ăn với các món ăn thuần túy Việt Nam như cá kho tộ, canh chua cá bông lau, thịt sườn chiên chua ngọt, v.v. Món cơm niêu này tôi yêu cầu hai chị em cô Loan và cô Nhung cho được ăn khi hai cô này đến để mời Laurie (trưởng đoàn) và tôi đi ăn tối để đáp lễ trong chuyến đi tìm thị trường của hai cô này tại Sydney vào mấy tháng trước. Sau bữa cơm niêu hai chị em cô Loan Nhung dẫn Laurie và tôi đến một toà nhà giải trí chừng 5 tầng để gặp toàn thể đại gia đình của các cô ấy gồm chừng mười mấy người và cũng có lẽ . . . để phô trương đời sống về đêm của Hànội. Toà nhà này khá lớn, mỗi tầng chứa một môn giải trí khác nhau. Có tầng dùng làm 10-pin bowling, có tầng đánh bi-da, chơi computer games, có tầng dùng làm nhà hàng ăn uống, tập thể dục và có tầng để làm khiêu vũ trường. Phải nhìn nhận dân Hànội bây giờ rất chịu khó nhảy nhót dancing. Chỉ hơi tiếc là thế hệ babyboom (thế hệ sinh sung), tức là thế hệ sinh ra đời khoảng từ 45 đến 60, lúc thanh xuân thì không được nhảy đầm, đến lúc tuổi già rồi người ta cho nhảy thả cửa thì không còn sức đâu mà nhảy nữa!
Ðời sống ban đêm của Hanoi và Saigon còn tập trung ở những tụ điểm phòng trà ca nhạc ở khắp nơi. Về Hànội lần này tôi có cái may là sẵn có người cháu ra công tác ngoài đó về việc e-Commerce với ông boss là một expat từ Mỹ về nằm vùng ở đó cũng gần 10 năm. Ông boss của người cháu có họ hàng với Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tác giả Hồ Sơ Mật năm nào. Ts Hưng hiện rất enjoy đời sống tại quê xưa xứ cũ - như Anh Bùi Hồng Cẩm từ Tân Tây Lan - ngày ngày giở chồng hồ sơ mật mới về chương trình viện trợ kinh tế của Liên Hiệp Quốc cho Việt Nam. Các phòng trà ca nhạc lúc nào cũng đông ngẹt thanh niên thiếu nữ ăn mặc rất chic. Các phòng trà này trang trí rất moderne và trang nhã. Các ca sĩ giúp vui rất đông, đa số đều thuộc lứa tuổi các casĩ như Thanh Lam và Hồng Nhung, và mỗi người chỉ ca chừng 5 bản xong rồi rút lui người khác ra thay thế. Có hôm phái đoàn của cháu tôi dẫn tôi đến một phòng trà, cà phê có bán thức ăn tên là Phú Gia nhìn ra Hồ Hoàn Kiếm rất thơ mộng. Ở giữa phòng ăn có một thiếu nữ mặc áo dài ngồi độc tấu dương cầm liên miên hết bản này sang bản khác. Anh boss của cháu tôi hỏi tôi có yêu cầu cô ấy chơi bản nào không. Mới vừa nhấm nháp một hai ngụm cognac tôi đến cạnh cô đàn piano và yêu cầu cô ấy đánh bản nhạc của phim the Godfather. Cô ấy hỏi tôi nó như thế nào cô ấy không nhớ. Tôi mới khẻ khẻ cất giọng ồ ồ: 'Là la lá la là lá là la la lạ la là . . .' Tức thì cô ấy đưa mười ngón tay vào phím đàn và đánh trọn bản Godfather trong sự ngưỡng mộ vỗ tay nhiệt liệt của thực khách. Lúc đó tôi mới để ý trước mặt cô chơi đàn không có một tập nhạc nào hết.
Kết: Tôi ở Việtnam đước đúng một tuần thì lên máy bay Singapore trở về nước. Tại phi trường Nội Bài ở tại cửa ra máy bay, có những hộp quyên tiền cứu trợ bão lụt miền Trung. Tôi vét hết túi và cũng rủ các bạn đồng hành vét túi lấy hết tiền VN đút vào hộp quyên tiền cứu trợ. Tiền VN vẫn chưa trở thành một semi-hard currency như ren-min-bi của Trung Quốc, thành ra nó có vẻ vô giá trị khi ra nước ngoài. Cũng có cái lợi là vào lúc khủng hoảng kinh tế Á Châu Việt Nam như tránh được cơn gió lốc mất mát tiền tệ nên có vẻ hơi an toàn trong cơn sốt kinh tế Á Châu. Thế nhưng đa số các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietnam đều xuất phát từ các nước đang bị khủng hoảng kinh tế. Do đó, và cộng với một số các lý do khác do ở bên phía VN, họ phải rút bớt các mối đầu tư về nên đà tăng gia kinh tế của VN từ 7-8% xuống còn 4-5%.
Người viết thật sự chẳng biết kết bài này ra thế nào cho mọi người đọc được vừa ý. Chỉ mượn lời của một ông bạn Sam, đồng hành Úc gốc Ai Cập. Ông này goá vợ Phi Luật Tân vài năm nay, ông so sánh trong lúc xe lên cầu Chương Dương ra xa lộ đi phi trường: Tôi thích Vietnam, nước này có nhiều khung cảnh đẹp lịch sự, và một dân tộc tràn đầy sức sống và nhiều năng động hơn Phi Luật Tân. Happy Millennium.
Clara Maersk
No comments:
Post a Comment