Monday, June 13, 2016

Kỳ 7: Di Tích Thành Vương Xá (Rajgir) và Ngọn Núi Linh Thứu Thiêng Liêng

Vào thời Đức Phật còn tại thế cách đây trên 2500 năm, thành Vương Xá có tên là Rajagaha; tên mới bây giờ là Rajgir. Vương Xá khi xưa là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magadha) do vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) cai trị. Đức Phật đã lưu trú tại đây nhiều nhất trong suốt 45 năm hoằng pháp của Ngài, chỉ thua thành Xá Vệ (tên cũ Savatthi, tên mới Sravasti) của nước Kiều Tát La (Kosala). Chính nơi đây trong thành Vương Xá này Đức Phật đã gặp hai đại đệ tử của Ngài: Trưởng lão Xã Lợi Phất nổi tiếng là bậc trí tuệ đệ nhất và Tôn Giả Mục Kiền Liên nổi tiếng là bậc thần thông đệ nhất. Và đây là nơi mà Đề Bà Đạt Đa, em cùng cha khác mẹ của Phật, đã xô tảng đá để mưu giết Phật nhưng không thành. Vương Xá thành cũng là nơi Đề Bà Đạt Đa thả con voi say rượu để tìm cách hại Phật. Lành thay, Đức Phật đã đưa tay cảm hóa khiến voi say phủ phục dưới chân Ngài. 

Thành Vương Xá đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành kinh điển của Phật giáo. Đó là nơi Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất của Phật giáo đã diễn ra, 3 tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Đại hội kết tập này do ngài Trưởng lão Đại Ca Diếp khởi xướng cùng với 500 vị Tỳ kheo đã đắc quả A La Hán. Mục đích là để tuyên lại những lời Phật dạy (và kết tập thành Kinh tạng); tuyên lại những giới luật Phật đã đặt ra (và kết tập thành Luật tạng). Ngài A Nan Đà lo về Kinh tạng và Ngài Ưu Bà Li lo về Luật tạng; hai ngài đã có công rất lớn trong kỳ kết tập đầu tiên này trên một ngọn núi nằm ngoài thành Vương Xá.

Thành Vương Xá lúc trước rất trù phú, đông dân và giàu có, nhưng nay kinh đô tráng lệ này đã đổ nát theo vết bụi thời gian, chỉ còn là một thị trấn nhỏ và nghèo, sót lại những di tích Phật giáo nổi tiếng của một thời. Như "Vạn lý trường thành" bằng đá, Vườn Xoài, Vườn Trúc Lâm, hồ nước nơi Đức Phật tắm, và ngọn núi Linh Thứu thiêng liêng.


Những gì còn lại của "vạn lý" trường thành bằng đá để chống ngoại xâm tại Vương Xá thành.

Thành Vương Xá ngày xưa đã có vị trí chiến lược hiểm yếu do 5 ngọn núi bao bọc chung quanh. Vua A Xà Thế cho xây một bức tường dài bằng đá dọc theo 5 ngọn núi để ngăn ngừa ngoại xâm. Mục đích chiến lược của nó  cũng giống như Vạn Lý Trường Thành của Trung Hoa. Về tuổi, trường thành bằng đá của Vương Xá có trước Vạn Lý Trường Thành 200 năm, nhưng chiều dài thì không thể so sánh được với 5,500 miles của Vạn Lý Trường Thành.


Di tích Vườn Xoài (Mango grove)

Nơi đây xưa là một rừng xoài rất lớn do người ngự y tên Jivaka cúng dường Đức Phật làm nơi hành đạo. Nay chỉ còn lại di tích nền đá của các tu viện hay chùa, tháp cũ. (Jivaka là bác sĩ cho nhà vua và hoàng gia, cũng là bác sĩ riêng cho Đức Phật)


Vườn Trúc Lâm (Vườn tre, Bamboo grove). Lúc xưa vua Tần Bà Sa La ngưỡng mộ Phật nên cúng dường vườn Trúc Lâm để Phật và các đệ tử lưu trú, nhất là an cư kiết hạ trong mùa mưa. Nay vườn tre không còn nữa, được xây thành một công viên đây đó trồng vài bụi tre, khóm trúc để đánh dấu một di tích Phật giáo quan trọng.

NGỌN NÚI LINH-THỨU THIÊNG LIÊNG (GRIDDHAKUTA)

Vương Xá thành có một di tích được coi là vô cùng thiêng liêng với Phật tử khắp nơi. Đó là núi Linh-Thứu (Vulture Peak). Phật tử nào đến cổ thành Vương Xá cũng phải lên hành hương núi Linh Thứu. Vì tại đây là nơi Đức Phật đã giảng nhiều bộ kinh quan trọng nhất, như Diệu Pháp Liên Hoa (thường gọi tắt là Kinh Pháp Hoa, Lotus Sutra) và Bát Nhã Tâm Kinh (Prajnaparamita Sutra, the Heart Sutra or Perfection of Wisdom Sutra).

Vào một buổi xế chiều nhưng nắng còn ấm, đoàn chúng tôi đi bộ lên thăm núi Linh Thứu. 


​Đường lên dốc núi thật dài nhưng ai cũng hăng hái lên đường. Chúng tôi vừa đi vừa suy gẫm tới Đức Phật, cách đây trên 2,500 năm, hàng ngày lên lên xuống xuống ngọn núi linh thiêng này khi Ngài từ núi xuống thành khất thực rồi trở về núi thọ trai. Lúc đó Ngài cũng sấp sỉ thất thập cổ lai hi.


​Còn nhiều bực thang lắm nhưng mệt cứ ngồi nghỉ. Thế nào cũng tới nơi. 


​Trong đoàn có 3 người bị đau chân phải thuê kiệu tre khiêng lên đỉnh núi. Nhìn người địa phương lấy mồ hôi đổi bát cơm mà thương xót họ. Người trong hình là Nancy W., GS Đại học Lesley University, Massachusetts, có vấn đề với thăng bằng. (balance)


​​Đường lên núi có chăng những phướn cầu nguyện (prayer flags) đủ mầu rực rỡ tung bay trong gió như muốn hân hoan chào đón kẻ hành hương đang đi theo dấu chân Phật. Và phướn như cũng muốn mượn gió để chuyển lời kinh Phật đi muôn phương.


​Chúng tôi cuối cùng cũng lên tới đỉnh núi Linh Thứu vào lúc mặt trời sắp lặn.


​Lúc này có một nhóm Phật tử thuộc quốc gia khác đang thành tâm chấp tay lễ Phật và cầu nguyện trên đỉnh núi Linh-Thứu trong không khí thanh tịnh và trang nghiêm. Hoàng hôn đang lặn dần sau lưng họ.


​Trên đỉnh Linh Thứu có tảng đá trông giống đầu con chim Kên Kên. Do đó người địa phương cách đây cả mấy ngàn năm đặt tên là “Đỉnh Kên Kên” (Vulture Peak). Hình chụp “Đỉnh Kên Kên” (hay Đỉnh Linh Thứu, Vulture Peak) trong giây phút hoàng hôn, tưởng chừng như chim Kên Kên đang nuốt trọn mặt trời. Tấm hình này do bà xã chụp bằng iPhone 6 trong một khoảnh khắc hiếm có. 


Cảnh hoàng hôn trên đỉnh núi Linh-Thứu. Trời bắt đầu tối nhưng người đi hành hương vẫn bịn rịn chưa muốn dời ngọn núi thiêng liêng này.


Đoàn chụp hình kỷ niệm trên Vulture Peak. Người ngồi hàng đầu và ngay chính giữa là Shreyas P., bác sĩ Mỹ gốc Ấn chuyên ngành Neurology, và đã từng học Poetry tại Sorbonne University, Paris. Người ngồi hàng cuối mặc áo đỏ là Marc S., một political activist ở New York.


(Kỳ tới: Di Tích Thành Vương Xá Tiếp Theo: Đại Học Phật Giáo Nalanda)

DTK 

Kỳ 6: Gặp Đức Karmapa Thứ 17 của Tây Tạng và Đi Thăm Làng Uruvela.

Khi đoàn chúng tôi ở khách sạn Royal Residence tại Bodhgaya chúng tôi có dịp may được gặp Đức Karmapa thứ 17 của Phật giáo Tây Tạng trong khu tiếp tân của khách sạn. Đức Karmapa thứ 17 đứng đầu trường phái Kagyu (Mũ Trắng) tương tự như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đứng đầu trường phái Gelugpa (Mũ Vàng). Phật giáo Tây Tạng có 4 trường phái chính. Theo thứ tự quan trọng, đứng đầu là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, kế đến Đức Karmapa thứ 17. Còn Ngài Panchen Lama do Trung Cộng phong chức và kiểm soát thì không được người dân Tây Tạng công nhận. Chức danh chính thức của ngài là "His Holiness the 17th Gyalwang Karmapa". Khi Trung Cộng cai trị Tây Tạng, Đức Karmapa đã trốn thoát vào được Ấn Độ, năm 2000, lúc đó mới 14 tuổi. Năm nay Karmapa 30 tuổi. Nhiều người cho rằng (trong đó kể cả tuần báo TIME và The New York Times) Đức Karmapa thứ 17 sẽ là vị lãnh đạo tinh thần cho toàn Tây Tạng, thay thế Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 khi ngài mất. Đức ĐLLM năm nay 81 tuổi. 


Đức Karmapa thứ 17, 30 tuổi, quan trọng chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.


Đoàn chúng tôi xếp hàng đón Đức Karmapa thứ 17 trong khu tiếp tân của khách sạn chúng tôi ở. Những khăn quàng màu trắng là tặng vật truyền thống trong nghi lễ Phật giáo Tây Tạng. Lúc đầu chúng tôi đứng thành hai hàng đối diện với nhau để đón Đức Karmapa, nhưng ban bảo vệ an ninh chỉ đồng ý cho chúng tôi đứng chào thành một hàng (có lẽ để dễ kiểm sóat). Khi ngài đến, thấy một cô trong đoàn đứng dậy rất khó khăn ngài đã đến tận nơi đỡ dậy rồi chụp hình kỷ niệm với đoàn. Trong đoàn ai cũng excited có dịp gặp Đức Karmapa thứ 17.


Cậu bé tái sinh (The Reincarnation Boy), một Lạt Ma tương lai (trong phái đoàn tháp tùng Đức Karmapa, cũng có hộ vệ riêng).

Đi Thăm Làng Uruvela của Nàng Sujata.

Trong khi còn ở Bodh Gaya, vào một buổi xế chiều, chúng tôi đi thăm làng Uruvela nơi người con gái dòng dõi Bà La Môn tên Sujata đã cúng dường bát cháo sữa cho Đức Phật. Hoàn toàn mòn mỏi kiệt sức vì phép tu khổ hạnh, Đức Phật đã thọ nhận bát cháo sữa và từ bỏ phép tu ép xác để theo con đường Trung Đạo. Rồi Ngài tìm đến gốc cây Bồ Đề bên cạnh bờ sông Ni-Liên-Thuyền (Niranjana River), trải cỏ ngồi kiết già thiền định, quay mặt về hướng Đông, và nguyện rằng sẽ không rời chỗ này nếu không chứng được Giác Ngộ. Tại nơi đây, dưới cội cây Bồ Đề, cuối cùng Ngài đã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và thành Phật.


Làng Uruvela của nàng Sujata, người con gái dòng dõi Bà La Môn và là con gái ông Lý Trưởng (?) (village chief), đã cúng dường Đức Phật bát cháo sữa. Ngọn núi xa xa trong hình là nơi Đức Phật từ đó ôm bình bát đi xuống làng Uruvela khất thực.


Đoàn chúng tôi đi lặp lại dấu chân Phật tại làng Uruvela giữa đồng ruộng lúa mì (wheat) và mù tạc (mustard) trong ánh nắng phai dần của một buổi chiều tàn.


Trời về chiều, đoàn ngồi nghỉ tại làng Uruvela và nghe Shantum kể chuyện về cô gái Sujata. Phía sau lưng là Tháp Sujata (Sujata Kuti) được xây để tưởng niệm người con gái cúng dường bát cháo sữa cho Đức Phật.


Làm Bạn Với Một Nông Dân Ấn Độ.


Hình chụp trẻ em miền quê Ấn Độ. Tôi cảm thấy miền quê Ấn Độ nghèo lắm, có khi còn nghèo hơn cả miền quê Việt Nam.


Làng quê Ấn Độ, một hình ảnh quen thuộc, với trâu bò và những đống rơm, cùng với sự nghèo nàn, vất vả của cuộc sống.


Người đứng chắp tay là một nông dân Ấn Độ sống trong làng Uruvela mà hướng dẫn viên Shantum đã quen và bảo trợ khi người nông dân còn là một cậu bé 14 tuổi, nay đã 41 tuổi có vợ, con và một đứa cháu nội. Người hói  đầu và đeo kính là Shantum. Đoàn chúng tôi đã mua tặng người nông dân một con bò để lấy nguồn sữa cho đứa cháu nội.

Shantum kể cách đây 28 năm (1988), Sư ông Nhất Hạnh đi hành hương lần đầu tiên ở Ấn Độ, cũng do Shantum hướng dẫn lần đầu tiên (lúc đó Shantum là đệ tử của Sư Ông). Khi đến làng Uruvela Sư ông hỏi dân làng có biết chuyện Đức Phật và cô gái Sujata và cậu bé chăn trâu tên Svasti không? Không ai biết. Sư ông nhờ Shantum đi tìm trong làng một cô gái 13 tuổi và một cậu bé 11 tuổi để đóng vai Sujata và Svasti trong khi Sư ông kể chuyện Đức Phật. Người nông dân Ấn Độ, lúc đó là một đứa bé 14 tuổi, đã đi gọi trẻ con trong làng ra gặp Sư ông và đóng vai đứa bé chăn trâu Svasti. (Svasti là đứa chăn trâu đã dâng Đức Phật gói cỏ để Đức Phật làm bồ đoàn ngồi thiền định dưới cội cây Bồ Đề cho tới lúc thành đạo). Nhờ nhân duyên ấy, đứa trẻ này - nhà rất nghèo - đã quen và được Shantum giúp đỡ từ lúc đó.  

Người nông dân mời chúng tôi về nhà để gặp gia đình. Xe bus không vào được đường làng nên chúng tôi phải đi bộ trong bóng đêm mờ mờ sáng dưới ánh trăng. Chúng tôi phải bật đèn pha từ iPhones để tránh những vũng nước và các mô gạch, đá. Tới nhà, anh nói với người vợ mời chúng tôi ăn bánh ngọt và uống trà sữa "Masala Chai tea" theo phong tục của người Ấn. Tối hôm đó cả làng bị cúp điện nên chúng tôi ngồi uống trà và nói chuyện trong nửa tối nửa sáng vì cả nhà chỉ được thắp sáng bằng một ngọn đèn dầu hôi (kerosene lamp) duy nhất. Người con dâu bế đứa bé gái đầu lòng mới 4 tháng cho mọi người xem. Đứa bé trông rất kháu khỉnh, thông minh; mới 4 tháng đã bắt đầu hớt chuyện với người lớn. Ngày hôm sau, trên xe bus, Shantum kể về gia cảnh nghèo của người nông dân và cho biết gia đình ước mơ một con bò để lấy sữa cho em bé. Chúng tôi lấy số đông hăng hái góp phần của mình đủ để mua tặng gia đình người nông dân một con bò giúp có nguồn sữa cho em bé. Âu cũng là thiện duyên cho đoàn người hành hương làm việc thiện có ý nghĩa. Người nông dân đã ứa nước mắt lúc nhận quà.


(Kỳ tới: Di Tích Thành Vương Xá - Rajgir)

DTK

Kỳ 5: Bồ Đề Đạo Tràng (Tiếp Theo)



Màn đêm đã buông phủ từ lâu tại Bồ Đề Đạo Tràng nhưng các Phật tử thuần thành đến từ nhiều quốc gia vẫn ngồi niệm Phật hay tụng kinh dưới ánh đèn mờ chung quanh cội cây Bồ Đề. Không một lời nói chuyện cũng không một tiếng động, ngoại trừ thỉnh thoảng nghe có tiếng gió đêm thổi. Không khí thật thanh tịnh trang nghiêm.


Đảnh lễ Phật sát đất, điển hình của các chư Tăng Tây Tạng tại Bồ Đề Đạo Tràng. Đây là một trong những cách lạy Phật tôn kính nhất khi thân và tâm hòa hợp trong niềm thành kính tột bực. Lạy Phật như thế có khác gì thiền? Hình chụp vào một buổi sáng mai với nắng chan hòa.


Dưới một gốc cây Bồ Đề khác trong khuôn viên Bồ Đề Đạo Tràng chư Tăng của trường phái Nguyên Thủy (Theravada) đến hành hương đất Phật và ngồi lắng nghe Phật pháp do một vị Thầy giảng.

Bảy Chỗ Đức Phật Ngồi Thiền Định Sau Khi Thành Đạo.

Liên tiếp trong 7 tuần lễ đầu tiên sau khi thành đạo, Đức Phật ngồi thiền, quán tưởng về chánh pháp.Tuần lễ thứ nhất, Ngài tọa định dưới gốc Cây Bồ Đề (The Body Tree), nơi Ngài thành đạo, thọ hưởng cái tĩnh tịnh an lạc của sự Giải Thoát.


Đây là Tháp Animeshlochana Chaitya, xây kỷ niệm chỗ Phật ngồi thiền nhìn Cây Bồ Đề không chớp mắt trong tuần lễ thứ hai sau khi đắc đạo.


Đây là chỗ Phật đi thiền hành vào tuần lễ thứ ba giữa Cây Bồ Đề và Tháp Animeshlochana Chaitya. Chỗ nào chân Phật chạm đất đều có đài hoa sen nở nâng chân Ngài. Hình chụp biểu tượng các đài hoa sen nở theo từng bước chân Đức Phật.


Tuần lễ thứ tư Ngài ngồi thiền tại ngôi đền Ratnaghar Chaitya, nơi đây Đức Phật quán tưởng về A-Tì-Đạt-Ma-Câu-Xá-Luận (Abhidharma Nyaya). Hào quang ngũ sắc tỏa ra từ thân Ngài (đủ các mầu xanh, vàng, đỏ, trắng và cam) lúc Ngài ngồi thiền. Vì thế cờ Phật giáo có 5 mầu này. Đoàn chúng tôi lắng nghe Shantum giải thích lịch sử của ngôi đền và A-Tì-Đạt-Ma-Câu-Xá-Luận


Tuần lễ thứ năm, Đức Phật đi về hướng Đông gần cửa ra vào và ngồi thiền dưới cây Đa (Banyan tree) và thuyết cho người dòng Bà La Môn rằng thiện nghiệp, chứ không phải do giòng họ, hay bẩm sinh, làm thành người Bà La Môn (Brahmin).


Tuần lễ thứ sáu, Đức Phật tới bên bờ hồ Muchilinda nằm về hướng Nam của Tháp Đại Bồ Đề. Khi đó trời mưa to, rắn hổ mang đã xuất hiện và lấy thân che mưa cho Ngài.

Tuần lễ thứ bảy Đức Phật ngồi thiền định dưới tàng cây Rajyatana. Sau bảy tuần thiền định, Đức Phật rời khỏi Bồ Đề Đạo Tràng đi bộ hơn 250 km về hướng Tây, vượt sông Hằng, đi ngang qua Varanasi và tới Vườn Lộc Uyển để giảng bài pháp đầu tiên cho 5 vị Tỳ kheo và bắt đầu chuyển pháp luân từ đó, kéo dài 45 năm suốt cuộc đời hành đạo của Ngài.

(Kỳ tới: Gặp Đức Karmapa Thứ 17 của Tây Tạng và Đi Thăm Làng Uruvela)

DTK

Kỳ 4: Bồ Đề Đạo Tràng - Nơi Đức Phật Thành Đạo

Đoàn chúng tôi rời Varanasi vào một buổi sáng sớm để đến thánh tích thứ hai là Bồ Đề Đạo Tràng. Trong bốn thánh tích quan trọng của Phật giáo, Bồ Đề Đạo Tràng được coi là nổi tiếng nhất và thiêng liêng nhất, vì đây là nơi Đức Phật thành đạo, và vì nhân duyên đó, đạo Phật đã ra đời từ nơi đây. Ba thánh tích kia gồm Vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini Grove) nơi Đức Phật đản sinh, Vườn Lộc Uyển (Deer Park in Sarnath) nơi Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, Tăng đoàn và ba ngôi Tam Bảo cũng được hình thành đầu tiên từ đó (thánh tích này đã được  đã tường thuật kỳ trước), và Câu Thi Na (Kushinagar) nơi Đức Phật nhập Niết Bàn.

Bồ Đề Đạo Tràng cách Varanasi khoảng 260 km về hướng Đông nếu đi bằng Quốc lộ NH2, nhưng chúng tôi phải mất 7 tiếng đồng hồ vì bị kẹt xe và thời gian đoàn ngưng lại quán ăn bên đường để ăn trưa nhẹ (trong suốt ba tuần lễ hành hương, cả đoàn chúng tôi tuy không ai bảo ai đều tự phát tâm ăn chay để thân tâm an tịnh và tỏ lòng tôn kính trong khi viếng thăm các thánh tích). Tuy ở thành phố Bodhgaya có hai đêm, đoàn chúng tôi đã đi trở lại chiêm ngưỡng Bồ Đề Đạo Tràng ba lần, nói lên lòng ngưỡng mộ đối với nơi Đức Phật thành Đạo.

Cách đây hơn 2500 năm có một Hoàng tử tên Tất Đạt Đa (Siddhartha) đã từ bỏ vợ đẹp con ngoan, cuộc sống vương giả trong cung vàng điện ngọc và uy quyền khắp nước, để xuất gia đi tìm Đạo hầu giải thoát cảnh khổ đau của con người. Lúc rời hoàng cung Thái tử đang là một thanh niên 29 tuổi. Sau 6 năm khổ hạnh rừng già mà vẫn chưa tìm được Chân Lý, Sa môn Cồ Đàm từ bỏ phép tu khổ hạnh ép xác, thực hành con đường Trung Đạo, thọ nhận bát cháo sữa của người con gái dòng Bà La Môn tên là Sujata cúng dường. Ngài đi đến gốc cây Bồ đề bên bờ sông Ni-Liên-Thuyền (Niranjana River), trải cỏ ngồi kiết già thiền định, quay mặt về hướng Đông, và nguyện rằng sẽ không rời chỗ này nếu không chứng được Giác Ngộ. Sau 49 ngày thiền định, mặc dầu bị Ma Vương (Mara) tìm mọi cách dụ dỗ và quấy phá, Ngài đã chứng được đạo Vô Thượng Chánh Đảng Chánh Giác (Samma Sambodhi, or Supreme Enlightenment) trở thành Phật, đấng Thế Tôn.

Trong Bồ Đề Đạo Tràng có nhiều thánh tích nhưng quan trọng nhất phải kể đến bốn di tích sau đây: (1) Tháp Đại Bồ Đề (Mahabodhi Temple), còn gọi là Tháp Đại Giác; (2) Cây Bồ Đề (the Bodhi Tree); (3) Tòa Kim Cương (the Diamond Throne) nằm trong Tháp Đại Bồ Đề; và (4) Bẩy chỗ Đức Phật ngồi thiền định trong bẩy tuần lễ đầu sau khi thành đạo.

Tháp Đại Bồ Đề (Mahabodhi Temple)


Tháp Đại Bồ Đề có kiến trúc tuyệt vời bằng đá sa thạch (sandstone) cao 52 m vươn lên vượt quá các cây cổ thụ chung quanh như thể chọc thủng bầu trời xanh.


Hình chụp Tháp Đại Bồ Đề về ban đêm.

Cây Bồ Đề Nơi Đức Phật Ngồi Thiền Định Đắc Đạo 


Cây Bồ Đề nơi Đức Phật ngồi thiền định thành đạo trông rất khỏe mạnh với nhiều cành đâm trồi ra tứ phía. Lá cây xanh mướt dưới ánh nắng của sớm mai. Khách hành hương ngồi cầu nguyện chung quanh cây hoặc đi nhiễu vòng chung quanh tỏ lòng tôn kính.


Cây Bồ Đề cành lá xum xuê nhìn từ phía ngoài hàng rào bằng đá cổ của Tháp Đại Bồ Đề. Trên hàng rào phủ đầy các tấm phướn cầu nguyện của chư Tăng và Phật tử Tây Tạng.

Cây Bồ Đề nguyên thủy đã bị hủy hoại theo thời gian và cây Bồ Đề ngày nay là cây thuộc thế hệ thứ tư được chiết nhánh từ cây Bồ Đề bên Tích Lan (Sri Lanka) do con trai Vua A Dục trồng bên đó vào thế kỷ thứ 3 trước Dương Lịch.

Tòa Kim Cương (the Diamond Throne)


Hành lang dẫn vào Tòa Kim Cương nằm trong Tháp Đại Bồ Đề.  Nơi đây lúc nào cũng đông đúc các Phật tử khắp nơi trên thế giới về chiêm bái. Hình chụp Tòa Kim Cương vào ban đêm.


Tượng Phật ngồi trên Tòa Kim Cương, thanh tịnh trang nghiêm, tay bắt ấn với ngón tay chạm đất (the Bhumisparsha Mudra) gọi Thần Đất xuất hiện để chứng kiến giây phút Ngài đắc đạo. Hình chụp cận cảnh khi vào được bên trong.


Chư Tăng và các Phật tử hành hương (không biết quốc gia) ngồi tụng kinh dưới gốc cây Bồ Đề trong ánh nắng ban mai. Gốc cây Bồ Đề được bao bọc bởi một lan can bằng đá cổ, trên đó những tràng hoa nhiều mầu sắc phủ lên để cúng dường.


Nhóm chúng tôi trải chiếu ngồi thiền trên sàn đá, mặt hướng về gốc cây Bồ Đề nơi Đức Phật đã ngồi thiền định cho tới khi Ngài thành đạo. Ở giữa hình có một tọa cụ tròn mầu đỏ xẫm là nơi người viết ngồi thiền, nhưng đứng dậy để chụp lấy tấm hình kỷ niệm này. Nhóm chúng tôi có nhiều người phải ngồi xa tận lan can vì không tìm được chỗ ngồi. Ngồi hàng thứ hai từ bên mặt là người nhiều tuổi nhất đoàn, Fred M., 76 tuổi, GS đại học về hưu. Vì tuổi già ông GS không ngồi xếp bằng dưới đất được, phải ngồi trên ghế xách tay.


Người viết ngồi thiền dưới bóng cây Bồ Đề (bạn chụp lúc nào không biết). Áo tràng được mang theo từ Mỹ đặc biệt cho chuyến hành hương. Khăn quàng trắng để che lạnh vào buổi sáng sớm. Những thánh tích Phật giáo đều ở miền Bắc Ấn Độ và chịu ảnh hưởng của rặng Hy Mã Lạp Sơn, nên nhiệt độ buổi sáng vào tháng 2 còn lạnh.


(Kỳ tới: Bồ Đề Đạo Tràng Tiếp Theo - vì bài này dài)

DTK

Kỳ 3: Một Trong Bốn Thánh Tích Phật Giáo: Vườn Lộc Uyển (hay Vườn Nai) (Sarnath)

Nếu thành phố thiêng liêng Varanasi nằm bên bờ sông Hằng bí ẩn là tượng trưng của tất cả những gì đông đúc và hỗn loạn nhất thì Vườn Lộc Uyển (hay Vườn Nai) trong Sarnath là nơi vắng lặng, thanh tịnh, cây cỏ thật xanh tươi. Nằm ngoài ngoại ô Varanasi và chỉ cách 10 km về hướng Bắc, Vườn Lộc Uyển là một trong bốn thánh tích quan trọng của Phật giáo. 

Xưa kia khi Đức Phật còn tại thế, Vườn Lộc Uyển là một khu rừng rậm rạp do một vị vua đã hiến cúng Đức Phật và ra lệnh biến khu rừng thành nơi trú ẩn an toàn cho loài nai (deer sanctuary). Do đó khu rừng yên tĩnh này do nhân duyên ấy cũng là nơi sống lý tưởng của các ẩn sĩ và đạo sĩ nhất tâm tu hành tìm đạo. Sau khi Đức Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ đề bên bờ sông Ni-Liên-Thiền (Niranjana), Ngài đi bộ hơn 250 km từ Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), vượt sông Hằng, đi ngang qua những bực thang bằng đá "ghats" của Kashi (tên cũ thời đó của thành phố Varanasi), đi tìm năm đạo sĩ đã từng tu khổ hạnh với Ngài trước đây để độ cho họ. Đức Phật tìm thấy họ ở Vườn Lộc Uyển. Năm vị Tỳ kheo này là những người nghe Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên mang tên "Kinh Chuyển Pháp Luân" (Dhammacakkappavattana Sutta, hay Turning of the Wheel of Law), chỉ cho chúng sinh thấy con đường dẫn đến Giác Ngộ qua Tứ Diệu Đế (hay Bốn Chân Lý Tuyệt Diệu, The Four Noble Truths), Bát Chánh Đạo (The Noble Eightfold Path) và con đường Trung Đạo(The Middle Way). Vì thế Vườn Lộc Uyển chính là nơi Đức Phật chuyển Pháp luân đầu tiên, là nơi đánh dấu sự thành hình của Tăng đoàn Phật giáo đầu tiên (với 5 anh em Kiều Trần Như, Kondanna, phát tâm quy y với Phật). Với sự hiện hữu của Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo (nghĩa là Ba Ngôi Quý, the Three Treasures or the Triple Gem) thành hình đầu tiên cũng tại thánh địa Lộc Uyển của Sarnath, đem ánh sáng đạo Phật đến cho nhân loại. Vì vậy Vườn Lộc Uyển ở Sarnath trở thành một trong 4 địa điểm thiêng liêng nhất đối với Phật tử khắp nơi trên thế giới.

Rồi từ Vườn Lộc Uyển Đức Phật đã đi hoằng pháp suốt 45 năm; Ngài đi chân đất đến khắp miền đồng bằng bụi bặm của miền Bắc Ấn Độ, độ cho hàng triệu người có nơi nương tựa và tu tập giữa cuộc đời khổ đau và tang thương này. Nhưng vào cuối thế kỷ 12, sự xâm lược của các đạo quân Hồi giáo cực đoan và hung tàn đã phá hủy và chôn vùi hầu hết những chùa và tháp trong vườn Lộc Uyển. Ngày nay chỉ còn lại những tàn tích đổ nát.


​Ngày nay Vườn Lộc Uyển là một công viên không lớn lắm với những bãi cỏ xanh có tàng cây che bóng mát. Di tích được chăm sóc kỹ lưỡng và sạch sẽ. Hình chụp đoàn chúng tôi đang đi chiêm ngưỡng trong Vườn Lộc Uyển. 

​Giữa những bãi cỏ xanh tươi của Lộc Uyển, nhiều tàn tích đổ nát của những ngôi tháp, tu viện, tịnh xá thời xa xưa đã được các nhà khảo cổ khai quật lên làm sống lại một thời đại tưởng như đã bị quân Hồi giáo phá hủy chôn vùi trong lãng quên của lịch sử.

Nhà khảo cổ người Anh tên Alexander Cunningham của đầu thế kỷ 19 có công lao lớn nhất trong việc tạo dựng lại lịch sử của Vườn Lộc Uyển Sarnath. Ngày nay, vì thế, trong những di tích còn lại, chúng tôi vẫn được chiêm ngưỡng Tháp Dhamekh, ngôi tháp độc nhất không bị phá hủy bởi đạo quân quá khích Hồi giáo.



Tháp Dhamekh (Dhamekh Stupa), ngôi tháp uy nghi, nổi bật nhất trong Vườn Lộc Uyển. Tháp cao 33 m, hình ống, phía trong đặc được xây bằng đá và gạch vào thế kỷ thứ 5 sau Dương lịch, do vua A Dục (Ashoka) dựng lên để đánh dấu chỗ Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên cho 5 vị Tỳ kheo trong vườn Lộc Uyển.

​Trang trí hình học và hình hoa tỉ mỉ được khắc tinh xảo trên Tháp Dhamekh (Thế kỷ thứ 5 sau DL)

Một di tích quan trọng khác trong Vườn Lộc Uyển là trụ đá vua A Dục (Ashoka Pillar) cho dựng lên để ghi dấu nơi Đức Phật lập ra Tăng đoàn PG đầu tiên. 




​Trụ đá Vua A Dục nguyên thủy cao 15 m, nhưng sau cuộc xâm lăng tàn phá của người Hồi giáo, trụ đá bị đập gẫy chỉ còn khúc phía dưới đứng vững, khúc đầu của trụ đá có tượng 4 con sư tử còn nguyên vẹn nhưng nay được di chuyển vào trưng trong Viện Bảo Tàng Sarnath. Hình cho thấy trụ đá bị quân Hồi giáo đập bể thành 5 khúc. Shantum đang diễn giải lịch sử của trụ đá vua A Dục.

Chúng tôi vào Viện Bảo Tàng để xem nhiều cổ vật liên quan đến cuộc đời Đức Phật. Cổ vật đẹp nhất và quan trọng nhất là bức tượng "Phật Chuyển Pháp Luân" (the Teaching Buddha Statue) của thế kỷ thứ 5 sau DL. Nghệ thuật điêu khắc bức tượng tuyệt vời khó có nơi sánh kịp. Khuôn mặt Ngài thật thanh tịnh, hơi mỉm cười, mắt mở một nửa, ngồi trong tư thế an lạc của thiền định, toát ra ánh sáng từ bi vô hạn.



Tay Phật bắt ấn chuyển pháp luân (tức là giảng Pháp). Phía dưới tượng có khắc hình 2 con nai (để đánh dấu địa điểm là Lộc Uyển) và 5 vị Tỳ kheo quỳ nghe giảng pháp cùng với một nữ tín đồ (là người cúng dường bức tượng) và đứa con của bà. Hình này chúng tôi chụp lén bằng iPhone (vì không được phép chụp hình trong viện Bảo Tàng)


Nhóm chúng tôi ngồi thiền định trong Vườn Lộc Uyển, bên tai tưởng như còn văng vẳng lời giảng pháp của Đức Thế Tôn trong vườn này cách đây trên 2500 năm. Ngồi thiền hàng đầu bên trái là Carlie G., cô gái trẻ tuổi nhất đoàn,18 tuổi vừa xong Trung học, đi hành hương chung với cha là một thương gia ở Minnesota. 


​Người viết đi thiền hành, nhiễu quanh Tháp Dhamekh ba vòng theo chiều kim đồng hồ, lắng tâm hồi tưởng chính nơi đây Đức Phật đã giảng bài pháp đầu tiên. Vườn Lộc Uyển là đây, chẳng phải huyền thoại như hồi nhỏ đã tưởng tượng. Đi thiền hành mà tâm chúng tôi cứ dao động, ngơ ngẩn, bồi hồi.

(Kỳ tới: Bồ Đề Đạo Tràng Nơi Phật Thành Đạo)

DTK

Kỳ 2: Thăm Viếng Varanasi, Thành Phố Linh Thiêng.

Chúng tôi rời Delhi bằng đường hàng không nội địa Air Vistara để đến thăm thành phố linh thiêng nhất của toàn quốc Ấn Độ. Đó là thành phố Varanasi. Khi đến nơi thì trời đã sập tối. Varanasi nằm bên bờ phía Tây của sông Hằng (Ganga River hay Ganges River), con sông nổi tiếng trên thế giới và còn nổi tiếng hơn nữa trong các kinh điển và thơ văn của Phật giáo.  Tiếng Việt mình cũng mang âm hưởng của con sông vĩ đại này qua cụm từ "hằng hà sa số" để ám chỉ một số lượng rất nhiều, không thể đếm được. Hằng hà là sông Hằng; sa số là số cát. Nghĩa là nhiều như số cát sông Hằng, không thể đếm được. Thành phố Varanasi cũng là cửa ngõ dẫn đến một trong bốn thánh tích quan trọng của Phật giáo: đó là Vườn Lộc Uyển (Sarnath), nằm ngay ngoài ngoại ô Varanasi và chỉ cách 10 km. Nhờ đến Varanasi tôi mới có cơ hội tìm hiểu thêm một tôn giáo bạn là Ấn Độ giáo (Hinduism) và được dịp viếng thăm tận mắt con sông Hằng huyền bí mà tôi chỉ biết qua môn Địa lý hay đọc trong kinh điển. Khi xe bus của chúng tôi đến chỗ không được phép vào sâu hơn nữa, chúng tôi phải đổi phương tiện di chuyển qua xe cyclo đạp (bicycle rickshaw), cứ hai người leo lên một xe để tiếp tục đi vào khu Phố Cổ của Varanasi (Old Varanasi). Lúc đó thì trời tối hẳn, khắp nơi đã lên đèn rực sáng. Khu Phố Cổ này có hằng trăm con phố lâu đời và những ngõ hẹp cũ kỹ đan vào nhau chằng chịt, hàng ngàn cửa hàng bầy bán đủ mọi thứ. Không khí cực kỳ nhộn nhịp. Xe, người, chó và bò đông đúc đi chen nhau trên đường phố cổ, lẫn lộn sát nhau trong một môi trường đầy bụi bậm, tiếng người, tiếng cầu kinh bằng loa phóng thanh và tiếng còi xe inh ỏi. Có lẽ đây là nơi ô nhiễm không khí và âm thanh nhất trên hành tinh này. 



​"Ngựa xe như nước, áo quần như nêm" trên một con phố hẹp của khu Phố Cổ Varanasi. Marc S. từ New York phải sững sờ hét lên vì chưa bao giờ kinh nghiệm cảnh đông đúc như thế này.

Nhưng trong cái hỗn loạn như điên cuồng đó tôi mơ hồ rằng có một trật tự tuy vô hình nhưng phải có để sinh tồn. Vì xe vẫn tránh xe, người tránh người, và xe và người đều phải tránh bò. Ở đây bò là con vật linh thiêng và có thứ tự ưu tiên. Nhưng tất cả đều hít thở đầy bụi. Có điều tôi ngạc nhiên tự hỏi tại sao các con bò vẫn đi lang thang ngoài phố đông đúc vào ban đêm? Về sau được nghe giải thích đây là những con bò vô chủ đi hoang, nhưng được tôn kính như những vị thần. Các tín đồ Ấn giáo thường hay "cúng dường" nuôi những con bò hoang này bằng cách cho thức ăn và nước uống. 

Theo huyền sử, cách đây trên 5 ngàn năm, Varanasi là do Thần Shiva lập ra. Shiva là một trong ba vị thần linh thiêng nhất của Hindu giáo. Varanasi là thành phố yêu dấu, là vườn Niết Bàn của Thần Shiva. Ngoài Thần Shiva (tức Đấng Hủy Diệt), Ấn Độ giáo còn thờ hai vị thần tối cao khác là Thần Brahma (tức Phạm Thiên hay Đấng Tạo Hóa sáng tạo ra vũ trụ) và Thần Vishnu (tức Đấng Bảo Hộ, bảo đảm sự chiến thắng của điều Thiện trên điều Ác). Thần Shiva là vị thần có con mắt thứ ba ở giữa trán, là  thần Thời Gian, thần Chiến Tranh và Chết Chóc, và cũng là Thần Hỏa táng, do đó là vị thần Hủy Diệt. Đối với tín đồ Hindu, hàng năm đi hành hương đến thánh địa Varanasi, được tắm và uống nước thánh ở sông Hằng là một vinh dự thiêng liêng trong đời. Họ tin tưởng mãnh liệt rằng tắm gội ở sông Hằng, tại Varanasi, sẽ gột rửa hết mọi tội lỗi và được hưởng ân phước của Thần Shiva. Là người ngoại đạo nhưng tôi luôn luôn kính trọng niềm tin tín ngưỡng và văn hóa cổ kính lâu đời của các tín đồ Hindu giáo.



​Tắm gội bằng nước thánh sông Hằng để gột rửa tội lỗi và hưởng
ân phước của Thần Shiva.

Khi xe xích lô không được phép đi sâu vào nữa, chúng tôi phải đi bộ như hàng ngàn người khác đêm hôm đó để tới nơi có những bậc thang bằng đá dẫn xuống sông Hằng mà người địa phương gọi là "Ghats". Tại những địa điểm này tín đồ Ấn Độ giáo cầu nguyện, hay cử hành những nghi lễ truyền thống lâu đời cả ngàn năm, thiền định, bói toán, hay tắm gội, và đặc biệt cử hành các lễ hỏa táng.

Đoàn chúng tôi đi xuống một chiếc thuyền thuê lớn cho 31 người và hướng dẫn viên Shantum cho thuyền đậu ra ngoài bờ sông để du khách ngó lên trên bờ. Đây là cách tuyệt hảo để thưởng ngoạn những gì đang xảy ra trên các "ghats" mà du khách không phải chen lấn. Hỏa táng bên bờ sông Hằng là tục lệ đặc biệt và thiêng liêng của thành phố Varanasi. Hỏa thiêu xong họ rắc tro xuống dòng sông bí ẩn này. 



​Trên các bậc đá ở "ghats" các đống củi hỏa táng bằng gỗ trầm hương được
cháy suốt ngày đêm. Nhìn kỹ ta có thể thấy 12 hỏa táng đang xảy ra cùng một lúc. 

​Thân nhân người quá cố ngồi trên thuyền hay trên các bực đá
tụng niệm cho người thân. Hai hình trên đều chụp bằng iPhone. 

Chỉ những người chết trong thành phố Varanasi mới được hỏa tảng tại đây. Họ tin rằng được chết và hỏa táng ở thành phố thiêng liêng và yêu dấu của Thần Shiva sẽ giúp họ thoát khỏi cảnh luân hồi mờ mịt. Đối với tín đồ Hindu đây là điểm cuối cùng, điểm chấm dứt vĩnh viễn tất cả những ràng buộc của cuộc đời đau khổ này. Lúc đó linh hồn họ sẽ hòa nhập với Đấng Tuyệt Đối, với Đại Ngã mênh mông (Brahman).

(Kỳ tới: Vườn Lộc Uyển (Sarnath), khởi đầu viếng thăm các Thánh Tích Phật Giáo)

DTK

Kỳ 1: Theo Dấu Chân Phật - Hành Hương Tại Ấn Độ và Nepal

Một số bạn biết chúng tôi đi hành hương ở Ấn Độ về hỏi sao không viết và gởi hình cho bạn bè coi. Sau khi lựa trong số khá nhiều hình, hồi tưởng lại ký ức và xem lại nhật ký, vậy xin gởi tới các bạn bài viết có kèm hình dưới đây. Để cho được đầy đủ, bài sẽ đăng làm nhiều kỳ.

DTK

Qua sự giới thiệu của cặp vợ chồng người bạn ở Knoxville, the Martinsons, chúng tôi tham dự cuộc hành trình tâm linh về đất Phật và Nepal gần ba tuần lễ có tên "In the Footsteps of the Buddha" do công ty Buddhapath, New Delhi, tổ chức. Người đứng đầu công ty là Shantum Seth, hướng dẫn viên kiêm thầy dạy về Phật pháp đã do Thiền sư Nhất Hạnh truyền giới. Shantum từng làm cố vấn cho United Nations, World Bank, BBC chương trình "Life of the Buddha", và PBS's "The Story of India". Vợ của Shantum là bác sĩ Ấn Độ, còn có thêm bằng luật sư ở Virginia. Nhóm chúng tôi gồm 31 người đến từ nhiều tiểu bang khác nhau, Alaska đến Maine, California đến Minnesota, Arizona, Texas, Tennessee, v.v...Có một người từ Anh và một từ New Zealand. Đa số thuộc thành phần trí thức, GS Đại học, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, mục sư, chủ nhân thương nghiệp, công chức và tư nhân.


​Nhóm 31 người gồm Mỹ, Anh, Tân Tây Lan và 2 Mỹ gốc Việt. Người trẻ nhất trong đoàn 18 tuổi, vừa xong Trung học (ngồi hàng đầu, bên trái) và lớn tuổi nhất 76 tuổi, một GS Đại  học về hưu. Hình chụp trong bảo tàng viện Gandhi, New Delhi.

​Người đầu hói đeo kính là Shantum Seth, hướng dẫn viên kiêm giáo thọ Phật pháp. Người chấp tay là một nông dân Ấn Độ (sẽ kể sau).

Chúng tôi và v/c người bạn rời Knoxville, TN, đến phi trường Indira Gandhi, Delhi vào khoảng 12 giờ đêm thứ Bảy. Delhi đúng là thành phố không ngủ, dù đã quá nửa đêm mà đường phố vẫn ầm ầm xe cộ và chúng tôi vẫn bị kẹt xe như ban ngày. Theo Newgeography.com, năm 2015 Delhi có 25 triệu người, thành phố đông thứ ba trên thế giới chỉ sau Tokyo-Yokohama (38 triệu) và Jakarta (31 triệu). Ba thành phố đông nhất thế giới đều nằm ở châu Á. Và so với toàn tiểu bang Tennessee chúng tôi chỉ có 6.6 triệu người. Buổi sáng hôm sau đoàn chúng tôi leo lên xe bus tư đi thăm thành phố Delhi và New Delhi (Tân Đề Li nay là thủ đô của quốc gia Ấn Độ). Sau khi ăn trưa tại India International Center, chúng tôi đi thăm bảo tàng viện tưởng niệm thánh Gandhi, tòa nhà nơi ông bị một thanh niên cuồng tín ám sát bằng 3 viên đạn súng lục, lúc ông đi từ phòng ngủ tới nơi cầu nguyện hàng ngày. Đó là năm 1948. Ông là anh hùng của dân tộc Ấn, đã lãnh đạo phong trào dành độc lập khỏi thực dân Anh bằng cuộc đấu tranh hoàn toàn bất bạo động. Tuy tên ông trên giấy khai sinh là Mohandas Gandhi, nhưng quốc dân Ấn và thế giới đã tôn kính và gọi ông bằng tên Mahatma Gandhi (Mahatma có nghĩa là một bậc vĩ nhân, bậc Thánh).


​Từ Mohandas tới Mahatma Gandhi. 


​Tòa nhà Gandhi Smriti, New Delhi, nơi Thánh Gandhi ở trước khi bị ám sát. 

​Phòng tiếp khách Thánh Gandhi tiếp các lãnh đạo quốc gia và thế giới. Căn phòng khiêm tốn đến ngạc nhiên. Đồ đạc chỉ gồm: một đệm để ngồi, hai gối tựa, hai bàn thấp và nhỏ một để viết và một để tiếp khách. Bên cạnh bàn viết và để trên bục nhỏ mầu trắng, nhìn kỹ mới thấy, là một tượng gỗ tạc 3 con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng (chắc để nhắc nhở ông và các chính khách ông tiếp cái chân lý không nhìn, không nghe, không nói điều xấu ác). Nhìn kỹ nữa sẽ thấy một cây gậy chống bên cửa và một khung dệt vải. Khung dệt vải là biểu tượng của phong trào bất hợp tác, tẩy chay hàng hóa của Anh, chỉ dùng hàng nội hóa và tự tay dệt vải, không làm công chức cho Anh, không đóng thuế cho Anh. Như thế, ông đã dạy cho đồng bào ông cách giải thoát thân trâu ngựa của họ dưới sự thống trị của Anh Quốc.

Buổi tối hôm đó Shantum mời đoàn chúng tôi 31 người về nhà bố mẹ ăn cơm tối. Ông bố đã 94 tuổi và bà mẹ 90. Tuy tuổi đã cao nhưng ông bà vẫn còn nhanh nhẹn và sáng suốt. Bà mẹ của Shantum, tên Leila Seth, từng là Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện Ấn Độ, bây giờ ở tuổi 90 bà vẫn còn tiếp tục tham gia nhiều vấn đề liên quan đến tư pháp và chính trị Ấn. Ông bà sống trong một biệt thự thuộc khu có rất nhiều cây lớn xum xuê, ngoài cổng khu vực có an ninh canh gác. Tôi đoán khu này do chính phủ Ấn dành riêng cho các công chức cao cấp.


​Đoàn ngồi nói chuyện chật cứng trong phòng khách nhà bố mẹ Shantum.

 Trong nhà trưng rất nhiều tranh và đồ cổ. Ông bố, Prem Seth, ăn mặc theo lối Tây phương, quần tây áo trắng và khoác blazer mầu navy blue, giản dị nhưng lịch sự, cặp mắt thông minh trên dáng người gầy gò với nụ cười tươi và dễ dãi, không gò bó. Tôi tò mò về người chồng của bà nguyên Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện bèn hỏi: "Thưa cụ, trước đây cụ làm nghề gì?". Ông trả lời rất tự nhiên: "Đóng giầy" ("Make shoes"). Lúc đó tôi hơi ngạc nhiên (đóng giầy sao lấy được Chủ tịch Tối Cao Pháp Viện?) nhưng giữ ý không hỏi tới nữa. Ngày hôm sau, trên đường đi ngang ​qua ​một khu kỹ nghệ của Delhi, Shantum chỉ vào nơi đó và nói: "Ba tôi ngày trước có xưởng đóng giầy trong đó". Khám phá ra ông cụ có thời làm chủ hãng đóng giầy lớn nhất của Ấn Độ, Bata India.

(Kỳ tới: Thăm Viếng Varanasi, Thành Phố Linh Thiêng bên bờ sông Hằng)

DTK