Dear my Dad's friends
My name is Thai Anh. My Dad is Duong. I am 14 years old and attend Form 4, Queen Margaret College in Hobson Street, Wellington. It's very interesting that my school is almost opposite the house numbered 44 which, my Dad says, he used to live in with many of his friends many years ago. Every time he takes me to school he always goes to the gate and looks for a long time into the house. He says the house looks the same as when he was there except that it is repainted and has more garden. I really enjoy listening to my Dad's stories about his student days with his friends in Wellington.
I wrote this story two years ago with my Dad's help. It was published in the School Journal and I was paid some money for it. My Mum borrowed it all and hasn't given it back!
I hope you enjoy my story.
A BOY NAMED CU
by Thai Anh Tran
In Saigon where I was born, I had a friend named Cu. His family was very poor. He was always untidy and dirty. The other kids round about him didn't want to play with him.
Our house was in a short alley. Cu lived next door, and we had been neighbours since he was a baby. His house was the poorest in the neighbourhood. It was tiny, with one room and no windows. Inside, there were no cupboards, no tables, and no chairs. There was one bed, made of a few planks of wood resting on bricks, for Cu and his mother and father. The house had an old tiled roof, and many of the tiles were broken and missing.
The floor of Cu's house was lower than the level of the street. When it rained, the water overflowed from the street and flooded his house. When the rain stopped, Cu and I would help his parents to bail the water out. Cu's father began work before dawn every morning, and often worked until midnight. He was a "cyclo" driver. People paid him to take them wherever they wanted to go in the city. Everyday, in sunshine or rain, he pedalled the passengers in his tricycle along the city streets.
Cu's mother got up very early each morning ,too. She went to the market at dawn and bought sugar cane which she cut up to sell. Then she walked along the streets calling out, "Sugar cane, who wants to buy my sweet sugar cane?". She carried the cane in two baskets which hung from a pole across one shoulder, one swinging in front of her, and the other behind.
Cu's parents worked hard but still they didn't have money to buy enough food and clothes. Often, I gave Cu some guavas or cake. He loved that. His eyes lit up. At home, all he ate was rice with fish sauce and boiled cabbage. Once I bought two ice creams, one for Cu and one for me. His hands were shaking when he took it. It was the first time he had had his own ice cream.
My school was at the entrance to the alley. Every morning, Cu watched me and the other children going off to school. He wanted to go, too. He was old enough, but his parents couldn't pay. He spent the day alone on the street until his mother came home. He often waited for me to play with him after school.
Some of the kids used to tease me when they saw me playing with him. They would call out, "Look at Thai Anh. She's playing with Cu." I took no notice. Cu wanted to learn to read and write. I was older than him and had already been at school for two years. I taught him the words I knew. When he learned how to write hid first word, he was so happy, he laughed. He straight away wanted to learn a second word. I was very proud of him.
Cu taught me things too - he taught me some of his games. I remember the way we played in his "swimming pool". In the rainy season, Cu's one-room house became just like a swimming pool. The water came up to my waist. We used to swim and play chasing in it, and splash water at each other. Sometimes we fought in the water. He couldn't swim very well. Whenever he tried, I used to laugh because he couldn't stay afloat. He would go under and swallow lots of water. But he got better. He used to swim without clothes. He didn't care, but I wore a T shirt and shorts.
Cu's parents were always fighting, and he used to get very frightened. They shouted at him, and hit him if he did something wrong. Once when Cu was hungry, I ran to my house to get some rice and egg for him. While he was eating that, his father came back. I was so scared I ran home. I peeped out; his father was shouting at him. Even the neighbours heard. I felt sorry for Cu, and wished I could do something to help. I kept thinking about him.
Then my parents decided to move to New Zealand. I was excited about moving to a new country, but sometimes I was sad, too. I didn't want to leave my grandmother and grandfather, my cousins and aunts and uncles. I didn't want to leave my school and my friends. And what would become of Cu? "Oh well," I used to say to myself, "who knows? One day he might even become a famous person." That was what my mum had said to me, anyway.
Then the time came for me to leave. I decided to talk to his father before I left. "Cu is a nice boy," I said to him. "he would like to go to school. Please don't hit him any more." I was glad to see him smile.
The day came when I had to leave Cu, and my home. I gave him some of my clothes, books, and toys just before we had to leave to get on the plane. I hoped he would be safe.
Sometimes I think of Cu. I miss him. I really liked him. I never told him that, but I really did.
(School Journal, Part 3 Number 2 1995, Learning Media, Wellington)
Tuesday, March 18, 2014
Monday, March 17, 2014
Một Tiểu Sài Gòn Trong Lòng Đất Mỹ
Hải Điểu
" Ai có về trên phố Bolsa
Nhắn dùm cô Mít tôi thương
Xin đừng lĩm chĩm đi luôn"
Đó, Bolsa đó, Little Saigon đó! Nó đã vùng lên, vươn vai, thò được bàn chân vào ca dao Việt Nam như thế đó. Nó đã đưa mông ngồi ghé vào được một nửa ghế trong văn học sử, bành trướng sống hùng, sống mạnh kiêm luôn sống dai đến ngày nay để trở thành một nơi phồn hoa đô hội, Trái Tim của người Việt tại hải ngoại.
Nhớ lai những ngày đầu năm 74. Dạ vâng, đúng đấy ạ, 74 chứ không phải 75 đâu ạ, lang thang đặt chân đến vùng Orange County của Cali này thì kiếm không ra một bóng Mít nào ở đây cả, chứ đừng nói chi đến 1 Tiểu Saigon. Số là tôi là kẻ giang hồ, bạ đâu ở đó, bạ gì ăn đó, tang bồng hồ thỉ, lang thang đây đó, lấy nệm làm giường, lấy gối kê đầu, sau khi đã lêu bêu hết Tân Tây Lan và Úc Đai Lợi, rồi Singapore, Việt Nam, lại lò dò qua Mỹ, 1971 đã có mặt ở Mỷ. 1974 lại mò qua Mỹ thêm một quả nữa. Đi đến đâu cũng tìm ngó dáo dác xem có gặp phe ta không, giống như cụ hiền triết nào đó của Hy lạp, giữa ban ngày đốt đuốc đi tìm người quân tử mà chẳng bao giờ gặp. Ăn hamburger, hotdog, gà chiên của Mỹ mãi, có thèm đồ ăn Á châu, cũng chỉ có cách tìm vào tiệm Tàu. Nói chi đến phở, hủ tiếu, chả giò, vv..., chúng mãi mãi vẫn chỉ là món ăn trong tưởng tượng, giống như nhiều anh em trong trại cải tạo ăn hàm thụ vậy. Đời sống hồi đó ở Mỹ cũng buồn buồn là. Buồn gần bằng thời gian đi tu ở Tân Tây Lan đấy các cụ ạ! Không trách các em Mít theo chồng về Mỹ vào các thập niên 60, 70 hồi đó cảm thấy buồn quá. Buồn đến độ thỉnh thoảng các em đi chơi phố, đi chợ, tiệm, gặp được các anh phe ta sang du học, tu nghiệp là các em mừng ghê lắm, mời đến nhà chơi, nấu cơm Việt Nam cho ăn, chở đi chơi vv... làm nhiều anh vừa thích vừa rét, sợ anh chồng Mỹ ghen ục cho vài quả hoặc móc súng ra phơ. Nhiều em còn lãng mạn đến độ yêu luôn các anh , ôm chầm lấy các anh, khóc như cha chết, ướt đẫm áo vét anh, đòi bỏ chồng Mỹ theo luôn các anh về Việt Nam nếu các an h chịu ra tay tế độ, thương cho cảnh thân gái dậm trường, đường xa xứ lạ, đất khách quê người. Nhưng các anh cũng khôn tổ mẹ. Các em thương thì anh xin thương lại chứ nhất định không phụ lòng nhau. Nhưng bảo các anh dẫn luôn em về nước làm vợ thì bố bảo các anh cũng không dám.
Cuối thập niên 70, những cơ sở kinh doanh đầu tiên của người Việt trên đường Bolsa đã bắt đầu xuất hiện. Từ một khu ngoại ô hoang vắng của thành phố Westminster, tiểu bang California, Tiểu Saigon bắt đầu thành hình. Sang đến đầu thập niên 80 đã bắt đầu khá đông vui. Từ một tiệm sách báo băng nhạc Tú Quỳnh, một nhà hàng Thiên Cung( sau đổi là Thành Mỹ), một Catinat pharmacy ở khu Bolsa mini mall, phe ta đã như vết dầu loang mở thêm một lô các cơ sở khác. Tiệm sách, nhà hàng, chợ buá, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, tiệm thuốc tây mọc lên như nấm. Càng đông càng vui, càng lắm chuyện. Có một dạo phong trào phở lên cao như núi, cả nước bán phở, gần như vài ngày lại có nột tiệm phở mới. Các nhà hàng đã mở từ trước cũng kẻ thêm bảng phở cho có với người ta. Thành ra nhân loại đâm bỡ ngỡ khi thấy cùng một nơi, một chủ, một tiệm ăn mà lại có hai tên, thí dụ: Nhà Hàng Saigon Deli - Phở Công Lý ( 2 bảng, 1 trên một dưới, bảng dưới hình như lớn hơn bảng trên ), Restaurant Ngân Đình - Phở Hạnh , Nhà Hàng Thanh Vị - Phở Tàu Bay, vv... Anh nào cũng nhận mình là ngon nhất trên cái cõi đời này, chính hiệu phở gia truyền Hàng Than Hà Nội, cháu nội cuả phở 79 Võ Tánh Sài Gòn, con rể hai đời của phở Bằng Đà Lạt, vv.. Có anh chơi trội, mở một nhà hàng to, khoẽ rộng, đẹp và độc đáo nhất quận Cam; nhà hàng có làm thêm những mái tranh ra cái điều đồng quê nước Việt, trên mái tranh lại có lách tách mưa rơi, nhỏ giọt xuống một đường mương ngay trong tiệm, dẫn nước chảy tới một con suối róc rách. Lại có một cái cầu cong cong thơ mộng bắc qua con suối nhỏ này. Giữa nhà hàng là một sân khấu có mái tranh (lại mái tranh !) chơi nhạc sống hàng đêm. Tiệm làm một cuộc cách mạng, không những về cách thiết kế độc đáo mà còn luôn về cái tên tiệm nữa. Thay vì làm như các anh khác (phong trào thời đó) là làm 2 bảng: 1 tên cho nhà hàng, 1 tên cho phở gì đó, tiệm này thu gọn thành 1 bảng lớn : Nhà hàng Phở Ngon. The Đ' là ai nói đến tên tiệm cũng phải khen là Phở Ngon. Về sau không biết ngẫm nghĩ làm sao hay là có đứa nào xúi mà khi quảng cáo trên báo anh chủ tiệm lại thêm chử Nhất vào sau chữ Ngon, thành ra là Nhà Hàng Phở Ngon Nhất. Ấy, tên vậy mà không phải vậy. Đồ ăn của anh, đặc biệt là phở dở vô cùng. Khung cảnh thì rất tuyệt vời, nhạc sống thì chơi cũng xôm lắm, nhưng đồ ăn dở quá nên cũng không kéo lại được. Tiệm ế dần, anh phải tìm cách tiết kiệm để sống còn, thế là dẹp cái dzụ nước mưa lách tách mái tranh. Sau đó ít lâu thì con suối róc rách dưới cầu cũng hết róc rách luôn. Thế nhưng cái quan trọng nhất của nhà hàng là đồ ăn thì anh lại không chiụ cải tổ gì cả. Anh lại giử nguyên dàn đầu bếp dở cũ. Có đứa xấu mồm nói đầu bếp chính là vợ anh lên anh không đuổi được. Có đứa còn nói không chừng đầu bếp chính cũng là anh luôn. Thế cho nên cuối cùng là sập tiệm. Để bây giờ vào những buổi chiều mùa thu , ngoài đường chẳng có chiếc lá vàng nào rụng cả, thực khách đi qua quán ngày xưa, không khỏi ngậm ngùi tiếc cho một nhà hàng lãng mạn, trữ tình, đẹp... nhì Đông Nam Á. Hàng phở lạm phát, số Mít chổng có tiền , có giờ rảnh đi ăn phở cũng có giới hạn nên hậu quả đương nhiên là nhiều tiệm phải ngửa mặt lên trời cười 3 tiếng, khóc 3 tiếng mà than rằng: "Trời sinh ta ra không phải để nấu phở". Thế là các anh cứ việc tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa.
Những tiệm nào còn sót đến ngày nay nói chung là nấu khá, khứa đông nên ăn nên làm ra. Có tiệm thừa thắng xông lên mở thành hệ thống phở, có chi nhánh, franchise trên khắp thế gian. Thí dụ như Phở Hoà, tiệm đầu tiên ở Santa Ana, sau có thêm 1 tiệm ở Bolsa, để rồi bây giờ thì gần như chổ nào có đông người Việt là có phở Hoà. Một lần lêu bêu sang Calgary, Canada, lạc vào phố Tàu, tôi đã ngạc nhiên và thích thú thấy 1 tiệm Phở Hoà len vào được khu này giữa các nhà hàng Tàu chung quanh. Tiệm ở trên lầu nhưng chúng tôi cũng chịu khó leo lên để ủng hộ gà nhà. Ở Canada tương đối ít người Việt nên ông chủ có đến nói chuyện với chúng tôi và xin cho biết ý kiến về phở của tiệm ông. Tôi thành thật cho ông ta biết là theo ý tôi, phở ăn được nhưng không bằng phở Hoà chính gốc ở Santa Ana. Ôn chủ có vẻ hơi buồn nhưng cám ơn tôi đã nói thẳng. Ông cho biết là gia vị nấu phở phải gửi từ phở Hoà bên Mỹ sang nên không ngon được như nấu ngay tại Mỹ.
Các quán phở còn lại tại Little Saigon khá nhiều. Nào Phở Hoà, Phở 79,Phở 54,Phở 86, Phở Tàu Bay, Phở Nguyễn Huệ ,vv...Du khách Việt Nam nào ghé lại Little Saigon hầu hết đêù ăn thử phở ở đây. Phở ở đâu ngon nhất chắc còn tùy khẩu vị mỗi người. Một anh bạn tôi, chính hiệu Bắc Kỳ di cư, cho rằng chỉ có Phở Hoà ở Santa Ana mới đáng gọi là phở Bắc. Anh cho rằng phở ở các tiệm khác hơi lai Nam. Tôi thì lại chịu hương vị của phở Nguyễn Huệ ở Bolsa, một tiệm phở nghe nói là chủ tiệm gốc người Hà Nội, Hải Phòng gu. Tôi không muốn viết nhiều về phở vì biết không qua nổi tùy bút "Phở" của Nguyễn Tuân. "Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường" của Thạch Lam hay "Miếng Ngon Hà Nội" của Vũ Bằng. Tôi chỉ biết rằng khi buồn chuyện gì, thí dụ buồn đời di tản chẳng hạn, thì ghé lại phở Nguyễn Huệ ăn một tô tái nạm vè dòn thật nóng, nhiều bánh, cộng thêm hành trần nước béo nữa, thì nỗi buồn có thể vơi được đến hai phần ba. Lại uống thêm một ly cà phê đen đá nữa thì có lẽ phần buồn còn lại cũng tan theo ngày tháng vội.
Có một dạo Cali lên cơn sốt về động đất. Mặt đất thỉnh thoảng lại nhúc nhích chút đỉnh hù nhau chơi. Các tờ báo Việt ngữ đăng tít lớn các tin tức về dộng đất, rằng thì là động đất thế này mà ăn nhằm gì, sẽ có một trận động đất khủng khiếp, tám chấm mấy, san Cali thành bình địa, chết không biết bao nhiêu ngươì, lại vẽ cả bản đồ với chú thích các đường nứt dưới đất nữa. Đồng bào Việt hải ngoại xôn xao giao động, rủ nhau bỏ Cali tìm về các tiểu bang khác để tránh động đất. Bà con ta lại di tản chiến thuật đi Tennessee, đi Minisota, đi Texas,...vv. Little Saigon vắng vẻ hẳn Bolsa mất hẳn cảnh ong bướm xôn xao, ta đi "không thấy phố, không thấy nhà".
Mít đi rồi tiệm mít bán cho ai ?
Tiệm Mít sập thì các báo Việt ngữ sống nhờ quảng cáo cũng sập theo. Không xong! Thế là chỉ ít lâu sau lại xuất hiện trên báo Mít những bài như: "Động đất Cali có thiệt nhưng tránh xa các vùng phe ta ở." Hay thiệt, động đất mà cũng biết chạm mặt phải nể mũi, động ở đâu thì động nhưng đừng động tới Mít ta là được rồi. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, Mít lại ùn ùn kéo về Cali. Của đáng tội, mùa đông ở các tiểu bang kia lạnh lắm đấy. Đồng bào lại nhớ Little Saigon, nhớ phở, nhớ hủ tiếu, nhớ bánh cuốn, nhớ các khuôn mặt Mít khác. Ấy đấy, khổ thế đấy các cụ ạ. Mít ở gần nhau là nhiều chuyện, là cãi nhau, là giận nhau; ấy thế mà xa nhau lại nhớ nhau không thể tưởng được, lại phải tìm về với nhau, để rồi lại cãi nhau, lại nói xấu nhau, lại muốn xa nhau.
Không những mít ở Cali mà mít ở đâu cũng vậy. Đi đâu cũng tìm nhau. Dù là tôi đi với bạn bè hay đi với bà xã ở Boston, ở New York, ở Washington D.C. hay xa hơn nữa ở Vancouver , ở Calgary, Canada, bạn bè, bà xã, và cả chính tôi nữa đều mong muốn đi tìm thăm khu phố Việt Nam, ghé ăn nhà hàng Việt Nam, ghé uống cà phê Việt Nam. Mặt chợt sáng lên, lòng như ấm lại khi thoáng thấy những dòng chữ quen thuộc nơi bảng hiệu một tiệm ăn, một ngôi chợ, một quán cà phê, dù chỉ là lèo tèo dăm ba quán nhỏ túm tụm vơi' nhau ở mợt khu ngoại ô xa thành phố hay bon chen chui ké vào một phố tàu nào đó ở Mỹ hay Canada.
Tôi còn nhớ khi tôi và bà xã lang thang ngoạn cảnh tại một khu phố biển ở Vancouver, Canada, khi đói bụng tính tìm một nhà hàng Việt Nam mà đi hoài không gặp. Sau cùng phải ghé đại một tiệm ăn tàu. Chủ liú lo tiếng tàu, cô hầu bàn Canada liú lo tiếng Anh. Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện bỗng từ trong bếp một có người Á đông (mà tôi đinh ninh là người tàu), đi ra và tiến lại bàn chúng tôi và hỏi nhẹ nhàng vơi' giọng Bắc ngọt lịm: " Chào anh chị. Anh chị ăn ớt không, em lấy cho? " Tôi ngạc nhiên hỏi: "Sao cô biết tụi tôi người Việt? " Cô trả lời: "Em ở trong bếp nghe thoáng anh chị nói tiếng Việt nên mừng quá chạy ra."
Chúng tôi hàn huyên chuyện vãn một hồi. Cô than buồn, cả năm không thấy một người Việt vào quán, thực khách toàn là người Canada (mà cô gọi là Tây), người tàu và các người ngoại quốc khác. Gặp chúng tôi cô mừng lắm, nói chuyện không muốn dứt.
Lại một lần khác, chúng tôi ghé Banff, cũng ở Canada. Banff là một thành phố nghỉ mát thật tuyệt vời, bốn bề núi bao bọc, đẹp còn hơn Đà Lạt của mình. Khí hậu giữa tháng 6, mùa hè mà vẫn còn lạnh, cái lạnh của cao nguyên, của Đà Lạt. Nghĩ mình chắc chắn không thể tìm thấy một tiệm ăn Việt Nam nào ở đây, chúng tôi ghé vào một tiệm Tàu. Cô xếp chỗ mà chúng tôi đinh ninh cũng là người Tàu, khi nghe chúng tôi nói tiếng Việt, mừng rỡ chạy lại nói chuyện vói chúng tôi bằng tiếng Việt. Cô hỏi chúng tôi đã đi chơi nhiều nơi chưa và nói hôm sau là ngày nghỉ của cô, nếu tụi tôi muốn, cô sẽ tình nguyện đóng vai một hướng dẫn viên du lịch cho chúng tôi. Ôi, tình dân tộc, nghĩa đồng bào! Bao nhiêu năm xa xứ tưởng là quên mà hoá ra cũng chẳng thế nào quên được.
Tôi là người ghiền cà phê, sáng nào cũng phải có 1 tách cà phê thì mới cảm thấy là cõi đời này cũng không đến nỗi khó sống cho lắm. Ấy vậy mà ly cà phê đen đá ngon nhất trong đời tôi lại không phải là ở một quán cà phê quen thuộc nào đó ở đây mà lại là ở 1 quán cà phê cách xa nơi tôi ở hàng ngàn dặm. Đó là vì qua nhiều ngày rong rũi, du mục, lang thang với đủ mọi phương tiện chuyên chở: phi cơ, taxi, xe lửa, xe bus, xe hơi, đi bộ, tôi cứ phải uống cà phê Mỹ và Canada liên tiếp. Mà loại cà phê này thì các bạn biết rồi. Uống chỉ là để cơ thể có chất cafféine đại bổ mà thôi, chứ mùi vị của cái cà phê này nó chẳng ra làm sao cả. Thèm cà phê Việt Nam quá, lang thang tới thành phố Calgary của Canada, tôi tìm được quán cà phê Lệ Đá trong một khu Việt Nam ở ngoại ô. Chà, cái tên nghe lãng mạng quá. Bạn nào yêu nhạc chắc biết Lệ Đá là tên của 1 bài thơ của Ha ý Huyền Chi đã được nhạc sĩ Trần Trịnh phổ nhạc thật tuyệt vời. Hồi ở Việt Nam xa xưa cũng có quán Lệ Đá ở Bà Riạ, gần Vũng Tàu, mà những buổi chiều, những buổi tối, tôi hay ngồi uống cà phê nghe nhạc và ngắm cô chủ quán đẹp não nùng.
Ly cà phê đen đá ở quán Lệ Đá ở Calgary Canada, ly cà phê Việt Nam sau 2 tuần lễ, uống toàn cà phê dỏm, thú thiệt là tôi cảm thấy ngon quá, đã quá, đã đến độ trên đời này không còn cái gì có thể là hơn được nưã. Tôi uống nhâm nhi từng giọt nho nhỏ, để thắm từ từ hương vị quê hương, để niềm hạnh phúc con con, niềm hạnh phúc chợt thấy không tan theo ngày nắng vội.
Ly cà phê đen đá ở Lệ Đá làm tôi nhớ đến độ hôm sau, trước khi rời Calgary đi Jasper, tôi phải thuyết phục bà xã trở lại Cà phê Lệ Đá để uống thêm một ly nữa, bà xã nhìn tôi dò xét:
"Anh mê cà phê hay mê con nhỏ bán cà phể "
Đàn bà kinh thật! Nói cho ngay, cô bé pha cà phê ở Lệ Đá Calgary cũng xinh như cô chủ cà phê Lệ Đá ở Bà Riạ năm nào. A, nói về phở và cà phê nhưng không được quên các món Mít khác đấy nhé! Dạ, không đâu ạ! Nhà cháu không quên đâu ạ, nhà cháu sắp nói tới đấy ạ! Trước hết phải nói tới nhà hàng Viễn Đông của ông nghị Tony Lâm, chuyên trị các món ăn thuần tuý miền Bắc, với khẩu hiệu "ăn chay ngon hơn ăn mặn ".. ấy chết, quên,"ăn chơi ngon hơn ăn thiệt". Ông này tài thật, từ một quán nhỏ 1 căn trên đường Westminster, ông đã như vết dầu loang, sang thêm căng thứ 2 kế bên. Vẫn không đủ chổ cho khứa ngồi, ông bắt nốt căn thứ 3, đục tường, biến 3 căn thành 1 nhà hàng rộng rãi thoãi mái. Vậy mà sáng, trưa, chiều thứ bảy, chủ nhật, khứa vẫn phải đứng chờ lũ lượt trước cửa. Muốn ăn phải "đăng ký", ghi tên vào Waiting List dán trước cửa. Gớm, khó quá. Nhưng mà thực phẩm của ông thì tuyệt. Bố khỉ, món gì cũng ngon hết là làm sao!
Tiệm ông bán món ăn Bắc, nhưng lại không bán phở, món độc đáo của miền Bắc. Hỏi thì ông cười cười: "Cả nước bán phở rồi, mình bán làm chi nữa". Lúc đầu thực đơn của quán ông rất khiêm nhượng, chia làm 2 nhóm thôi: Bún và Bánh. Dưới chủ đề Bún ông có: Bún riêu, Bún ốc, riêu ốc phối hợp, Bún vịt sáo măng, bún chả, bún mộc, bún bung. Về họ Bánh thì có bánh cuốn thanh trì, bánh cuốn nhân thịt, bánh tôm cổ ngư, bánh đúc đậu rán, bánh giò ruốc. Dạ, với các cụ người Nam, nhà cháu xin phụ đề Việt ngữ là ruốc đây là thịt chà bông đấy ạ, không phải là mắm ruốc đâu ạ.
Chỉ có bún và bánh thôi mà thiên hạ ăn đông quá. Nhưng Tony Lâm là con người không ngủ ngáy pho pho trên thành quả. Ngài thừa thắng xông lên, phát triễn thực đơn bún và bánh thêm Chả Cá Thăng Long, ốc Nhồi Hấp Lá Gừng, Phở gà tươi, chơi luôn món Trung và món Nam: Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng. Ô hay! thế là thế nào? sao trước nói không bán phở mà bây giờ lại bán? sao bảng hiệu vẫn là "Thuần Túy Các Món Ăn Miền Bắc" mà bây giờ lại có Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng là nghĩa làm sao? Hỏi, người lại cười cười: "À, thiên hạ đòi ăn phở ghê quá, cuối cùng moa phải nhượng bộ, ra lệnh nấu thêm phở gà, phở bò thì tính sau. Còn Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng? " Các đứa khác có thì moa phải có chứ. " Chịu ông ấy thật. Phở gà chỉ là món tay trái của ông mà cũng ngon không thua các tiệm chỉ chuyên trị có một món Phở duy nhất. Bún bò huế, Chạo tôm, Nem nướng không phải món Bắc, nghĩa là không phải món tủ của ông mà cũng ngon không chê vào đâu được.
Ngoài tài mở hàng ăn, ông còn hoạt động cộng đồng mạnh mẽ. Ông có chân trong Phòng Thương Mãi Việt Nam ở quận Cam, và có công lớn trong việc để thành phố Westminster và bộ Giao Thông Cali công nhận, chính thức hóa và dựng bảng tên "Little Saigon". Ông còn hoạt động chính trị, đắc cử vẻ vang vào Hội Đồng Thành phố Westmister, trở thành người Việt Nam đầu tiên trong một chức vụ dân cử. Khẩu hiệu tranh cử của ông là: "Tony Lâm, Tax Fighter, Crime Fighter " Ông đã serious về cái dzụ chống tội ác đến độ một lần bắt gặp một tên giật bóp một người đi đường, ông đã chạy bộ đuỗi bắt được tên cướp giật rồi gọi cảnh sát đến tóm cổ y về bót. Báo Mỹ đã chạy tít lớn tin này và ca ngợi ông hết mình. Uy tín ông lên như diều. Chẳng bao lâu ông trở thành Phó Thị Trưởng Hội Đồng Thành Phố Westminster. Oai chưa?
Làm lớn rồi nhưng Tony Lâm vẫn dể thương như thuở còn "hàn vi ". Khách đến ăn vẫn được người cúi rạp đầu chào vói nụ cười thật tươi, đến tận bàn chào hỏi thân mật, tự rót trà mời. Cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây là trà nóng ở Viễn Đông là số một. Không biết là trà cúc hay trà sen mà sao thơm thế. Hương vị tuyệt vời. Uống thử sẽ biết. Ăn xong, uống trà xong, và quan trọng là trả tiền xong, khách sẽ được phó thị trưởng Westminster cảm ơn và đưa ra đến tận cửa.
Trở lại Little Saigon, không ai tới đây mà không ghé Phước Lộc Thọ, một thương xá hai tầng thật đẹp thật dễ thương, thật đông phương, và cùng với Little Saigon Supermarket, đã trở thành một "landmark" của tiểu Saigon. Nơi đây từ sáng sớm đến tối mịt, ngày cuối tuần cũng như ngày thường, lúc nào cũng ong bướm xôn xao, vui như Tết. Nơi đây bạn sẽ tìm thấy các món hàng đặc biệt Việt Nam, sơn mài, tranh lụa, video, băng nhạc, quần áo hợp với các kích thước mít ta, các quán cà phê, quán ăn, bàn ghế bày dọc theo lối đi rất tây, rất Saigon. Bạn bè cũ lâu không gặp lại, không muốn gặp lại, tưởng không bao giờ gặp lại, đến Phước Lộc Thọ bảo đảm có 72% hy vọng sẽ gặp. Bạn bè tôi nhiều người không gặp từ 75 thế mà lêu bêu lại gặp ở đây. Có đứa về từ San Jose, từ Texas, từ New York, từ Washinton D.C., có đứa từ Úc sang, dân cựu Tân Tây Lan cũng thỉnh thoảng mò đến đây.
Mít local ở đây nhiều tên làm như ghiền không khí ở Phước Lộc Thọ (PLT), đến đây gần như hàng tuần, nếu klhông nói là hàng ngày. Có vị ngồi cà phê từ sáng sớm tới khuya tiệm đóng cửa mới chịu về. Có lần một tên bạn cũ, hoa tiêu trực thăng ngày xưa, một hôm nổi hứng gọi điện thoai. cho tôi lúc 5 giờ sáng ngày thứ Bảy. Tưởng có chuyện gì quan trọng lắm. Nào ngờ Ex-Pilot rủ đi uống cà phê Rendezvous ở PLT. Nể bạn, tôi cũng mắt nhắm mắt mở, mặc quần áo đi uống nhưng sau đó phải long trọng yêu cầu ông bạn vàng đừng có đánh thức tôi sớm như vậy nữa. Những ngày cuối tuần không phải đi làm được ngủ nướng là một chút gì hạnh phúc còn sót lại trên cõi đời này, đừng nên lấy mất của nhau. Tuy nhiên, mỗi người quan niệm hạnh phúc một khác, vị nào lấy chuyện uống cà phê dòm cuộc đời đi diễn hành qua mắt mình làm vui thì phải dậy sớm thôi, ra chậm sẽ hết ghế, hay hết chỗ tốt, phải ngồi xa, khuất trong kẹt, ngắm các em đi ngang không thoải mái vì vướng đầu các đứa khác.
Cùng với phong trào phở thời thập niên 80, phong trào mở chợ cũng lên như diều, thời 80, 90. Khởi đầu chỉ là những ngôi chợ bé tí nghèo nàn, Mé Kông ở Santa Ana, Dân Tiếp Vụ ở Bolsa.., phe ta nhích lên những ngôi chợ hạng trung như Hoà Bình, Liên Hưng, Mai Công, Hoà Phát... Cuối cùng là những ngôi chợ lớn, khang trang, đúng tiêu chuẩn Mỹ như Man Wah, Little Saigon, và Bolsa Supermarket. Càng đông càng vui, càng cạnh tranh càng bán rẻ, càng tặng quà nhiều. Chủ chợ tặng gạo, tặng mì, tặng nước mắm để câu khách. Có chợ nêu khẩu hiệu: "Đại Sale, Sale Bạo". Có chợ trương biểu ngữ: "10000 Bao gạo thơm đang chờ đón quý khách". (Phải hiểu đây là gạo để tặng cho ai mua nhiều, thường là từ 90 đô la trở lên. ) Có chợ không tặng quà thì lại nói như thế này: "Chúng tôi chủ trương bán rẻ hơn tặng quà", ra điều bắn tin cho khách biết là chợ nào tặng quà nhiều thì nó bán mắc đấy.
Vô chợ Mỹ mua cá là chắc chắn chỉ có cá đông lạnh. Chợ VN tung ra chưởng: "Cá tươi còn sống lội tung tăng trong hồ." Một chợ làm, cả nước làm, chợ nào không có hồ cá tươi là đi ô tô bương ngay. Phe ta bèn tung thêm độc chưởng: "Đặc biệt có quày chiên cá miễn phí." Phe địch bèn cấp tốc lập lò mua chảo, tuyển kỹ sư chiên cá về ngay. Khách mua cá thấy dzui dzui trong lòng, bây giờ mua cá khỏi sợ mất công làm tanh tưởi, chiên dầu nóng bắn vào mắt, có thợ làm sẵn, chiên vàng dòn, gói giấy nhôm nóng hổi, về chỉ việc mở ra ăn, khoẻ quá. Chắc có đứa nào chỉ nên khứa ngoại quốc cũng đã vào chợ VN mua sắm. Khách Mỹ trắng,. Mỹ đen, Mễ Tây Cơ, Ấn Độ đủ cả. Các vị này cũng tinh lắm, để ý xem các cậu mợ mít làm gì thì người cũng làm y như vậy. Cũng nhón lấy bao nylon bọc cá, cũng biết vạch mang cá ra dòm xem còn đỏ không, cũng biết mang ra quày chỉ vô chảo chiên gật gẫt cái đầu. Ngôn ngữ bất đồng nhưng các Kỹ Sư chiên cá cũng hiểu ngay.
Chợ Little Saigon đã nổi tiếng về đến VN rồi đấy. Bà con ODP, HO, qua đến đây là đòi đi tiểu Saigon, rồi Little Saigon supermarket. Đi chợ khác không chịu, phải đến chợ này mua sắm, ngắm tận mắt dung nhan người Trần Dũ, Giám Đốc chợ mới toại nguyện. Người cũng không làm quý vị thất vọng. Người có mặt ở chợ từ sáng tới tối, bảy ngày một tuần, trông thấy người lăng xăng điều động nhân viên từ Việt tới Mễ, niềm ở chào hỏi khách hàng là nhận ra ngay.
Nhiều bà nội trợ mít lại khoái đi nhiều chợ, vì nghe nói chợ này rau rẻ nhưng thịt lại đắt, chợ khác trái cây vừa ngon vừa sale tùm lum, chợ kia nổi tiếng chiên cá dòn, ngon, chợ nọ vô địch tặng quà vv. Báo hại các ông chồng phải lái xe chở các bà đi hết chợ này đến chợ khác. Có bà mỗi lần đi tới năm chợ, ông chồng theo không nổi đành chờ ngoài xe đọc báo tiêu sầu. Các bà này chắc chắn là chưa học qua Economics. Các bà tiết kiệm được một ít tiền vì đi nhiều chợ nhưng lại không chịu tính đến vấn đề xăng nhớt hư hao xa vì phải lái đi nhiều và nhất là thì giờ, nếu không phải là của các bà thì là của các ông chồng. Thới gian chở các bà đi từ chợ này qua chợ kia để đợi các bà dọ gía, so gía, đắn đo, mua sắm, mà để đi làm overtime thì lợi tức có lẽ sẽ gấp nhiều lần số tiền các bà hí hởn nghĩ là đã save được.
Viết về Little Saigon, nói về phở, về bún, về cà phê, về chợ mà không nói đến hoạt động văn nghệ văn gừng ở đây thì e là một điều thiếu sót chăng ?
Nói chung văn nghệ hải ngoại rất là khởi sắc. Video, băng nhạc phòng trà, vũ trường, ban nhạc, ca sĩ tràn lan. Anh nào cũng là "giọng ca nam số một hải ngoại", "giọng ca không đối thủ", chị nào cũng là "tiếng hát vượt thời gian", (và chắc là vượt không gian luôn), "giọng ca nữ hàng đầu". Mẹ kiếp ! Bộ không có đứa nào hạng nhì sao ?
Mỗi lần có một ca nhạc sĩ nào tới Mỹ là lại có màn rình rang đón rước, dạ hội, dạ vũ mừng tái ngộ tưng bừng. Bố khỉ! Làm văn nghệ sĩ thế này thì sướng thật ! Biết vậy ngày xưa tôi đã cố luyện giọng ca khàn đục của mình. Cũng xin khoe với quý vị ngoài cái mục viết lách lủng củng tôi cũng đã mê cái vụ văn nghệ văn gừng từ lâu. Từ hồi còn học Trung Học nghe mấy tên nhóc trong xóm đánh Banjo đã thích rồi. Lên Đà Lạt nghe mấy tên nhà kế bên hoà guitars, mandoline và hát bản "Ai lên Xứ Hoa Đào" của Hoàng Nguyên lại ca ýng mê hơn. Ra Vũng Tàu tắm biển lại nghe mấy tên bạn chơi guitar và hát "Nếu vắng anh" của Anh Bằng, "Biệt Kinh Kỳ" của Lê Dinh, vv. thì niềm say âm nhạc tưởng không còn thuốc chữa.
Sang TTL, nghe Hoàng Châu Thịnh từ Palmerston North về Wellington chơi guitar classic, nghe Nguyễn Hữu Bình ở Chrischurch chơi guitar moderne, piano, accordion, trống, sáo, nghe Phạm Quang Tuấn chơi Hạ Uy Cầm với Trương Minh Tuyền đệm Tây Ban Cầm thì chịu không nổi nữa rồi. Bèn mua một cây guitar, bèn tầm sư học đạo. Vị thầy khả kính đầu tiên của tôi là một anh Kiwis ở Christchurch. Anh này không dạy căn bản nốt niếc gì cả. Anh đưa cho tôi một đoạn các bài hát thông dụng ở NZ thời đó như Tom Dooley, Red River Valley, vv. rồi bảo tôi đệm theo anh ta. Ông nội tôi cũng không đệm theo được. Giã từ sư phụ dổm. Tôi mua sách về tập lấy. Cũng chẳng ra làm sao cả.
Phải đợi đến khi về nước, xách đàn đi học Hoàng Bửu, một nhạc sĩ guitar classic và flamenco thì tôi mới thực sự bước chân vào âm nhạc.
Tôi theo lời khuyên của Đàm Xuân Linh, vô địch violin của giải Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá, người mà vĩ cầm thủ Nguyễn Gia Tâm đã phải long trọng tuyên bố là tay vĩ cầm số một VN. Đàm Xuân Linh khuyên tôi là phải tầm sư học đạo. Sư thứ thiệt chứ không phải loại sư Kiwis như tôi đã học ở Chrischurch, có như vậy mới khá được. Do đó phải sau Hoàng Bửu, tôi thọ giáo Lâm Tuyền, tay lead guitar đồng thời là trưởng ban nhạc Johny Lam Band, tác gỉa của những bản nhạc khá nổi tiếng như "Tiếng thời gian", "Hình ảnh môt buổi chiều", "Khúc nhạc ly hương".
Sau Lâm Tuyền là Vĩnh Căn, Anh Hoa, rồi Đỗ Đình Phương. Nếu Hoàng Bửu và Đỗ Đình Phương đã dạy cho tôi căn bản nhạc lý và guitar classic, thì Lâm Tuyền và Vĩnh Căn đã dạy tôi biết đệm đàn. Còn nhạc sĩ Anh Hoa thì dạy tôi sáng tác.
Tôi đã không thành được nghệ sĩ nhà nghề như mong ước thời trẻ thì ít ra cũng thành một nghệ sĩ tài tử để lâu lâu có dịp ngồi chung với các bạn bè có chung dòng máu văn nghệ, nổi hứng đàn và hát cho bạn nghe những sáng tác của chính mình với lời giới thiệu trịnh trọng: "Xin mời các bạn nghe các sáng tác của một nhạc sĩ chưa nổi tiếng".
Tôi còn nhớ Nguễn Lương Bình, một Ex-Kiwis hiện ở Texas, khi gởi tặng tôi tờ Sợi Giây Liên Lạc có viết kèm mấy câu: "Chắc cuộc đời anh vẫn nghệ sĩ như thủa nào ở Chrischurch?". Tôi không có dịp trả lời anh hồi đó thì xin mượn những dòng này để trả lời anh luôn là: Vâng, anh đã đoán đúng, cuộc đời tôi vẫn vậy, vẫn nghệ sĩ tài tử, vẫn lang thang, vẫn "không nghèo mà điều túng thiếu" nhưng cũng chẳng phải vay nợ đứa nào, vẫn có cái xe để đi, cái giường để ngủ, đủ ba bữa để ăn. Như vậy là vui rồi, phải không anh ? Cũng vẫn là một loại "già ham dzui" như thủa nào.
Đã gần 30 năm rồi, từ cái thủa viết lách lăng nhăng cho tờ giai phẩm Xuân ở Chrischurch, tờ 7ND ở Auckland, tờ Phổ Thông ở Saigon, bây giờ tôi mới có dịp cầm lại cây bút, thể theo lời yêu cầu của các Ex-Kiwis Phạm Phan Long và Nguyễn Anh Giao. Những kỷ niệm xa xủa dường như sống lại, những hình ảnh, khuôn mặt bạn bè, nhựng parties gặp gỡ anh em, những Vietnamese evenings ở Victoria, Wellington, những lần ra phi trường đón các bạn mới sang, những tours đi chơi Queens Town, Arthur Pass do Bùi Văn Minh, Trịnh Khánh Tước tổ chức,... tưở ng như đã mờ nhạt theo thời gian giờ đây lại hiện rõ nét như một sự trở về, tìm về ký ức. Giữa chúng ta, những Ex-Kiwis, những người đã từng một thời lêu bêu trong các ghiảng đường đại học ở NZ, dường như có một cái "bond" nào đó thắt chặt, vô hình nhưng đủ mạnh để mặc dầu có thể là chưa bao giờ gặp nhau trước đây nhưng nếu đã được giới thiệu là Ex Kiwis thì liền tay bắt mặt mừng, tưởng chừng như đã thân thương từ kiếp nào.
Thôi mến chào các bạn và mong ngày hội ngộ.
Hải Điểu
" Ai có về trên phố Bolsa
Nhắn dùm cô Mít tôi thương
Xin đừng lĩm chĩm đi luôn"
Đó, Bolsa đó, Little Saigon đó! Nó đã vùng lên, vươn vai, thò được bàn chân vào ca dao Việt Nam như thế đó. Nó đã đưa mông ngồi ghé vào được một nửa ghế trong văn học sử, bành trướng sống hùng, sống mạnh kiêm luôn sống dai đến ngày nay để trở thành một nơi phồn hoa đô hội, Trái Tim của người Việt tại hải ngoại.
Nhớ lai những ngày đầu năm 74. Dạ vâng, đúng đấy ạ, 74 chứ không phải 75 đâu ạ, lang thang đặt chân đến vùng Orange County của Cali này thì kiếm không ra một bóng Mít nào ở đây cả, chứ đừng nói chi đến 1 Tiểu Saigon. Số là tôi là kẻ giang hồ, bạ đâu ở đó, bạ gì ăn đó, tang bồng hồ thỉ, lang thang đây đó, lấy nệm làm giường, lấy gối kê đầu, sau khi đã lêu bêu hết Tân Tây Lan và Úc Đai Lợi, rồi Singapore, Việt Nam, lại lò dò qua Mỹ, 1971 đã có mặt ở Mỷ. 1974 lại mò qua Mỹ thêm một quả nữa. Đi đến đâu cũng tìm ngó dáo dác xem có gặp phe ta không, giống như cụ hiền triết nào đó của Hy lạp, giữa ban ngày đốt đuốc đi tìm người quân tử mà chẳng bao giờ gặp. Ăn hamburger, hotdog, gà chiên của Mỹ mãi, có thèm đồ ăn Á châu, cũng chỉ có cách tìm vào tiệm Tàu. Nói chi đến phở, hủ tiếu, chả giò, vv..., chúng mãi mãi vẫn chỉ là món ăn trong tưởng tượng, giống như nhiều anh em trong trại cải tạo ăn hàm thụ vậy. Đời sống hồi đó ở Mỹ cũng buồn buồn là. Buồn gần bằng thời gian đi tu ở Tân Tây Lan đấy các cụ ạ! Không trách các em Mít theo chồng về Mỹ vào các thập niên 60, 70 hồi đó cảm thấy buồn quá. Buồn đến độ thỉnh thoảng các em đi chơi phố, đi chợ, tiệm, gặp được các anh phe ta sang du học, tu nghiệp là các em mừng ghê lắm, mời đến nhà chơi, nấu cơm Việt Nam cho ăn, chở đi chơi vv... làm nhiều anh vừa thích vừa rét, sợ anh chồng Mỹ ghen ục cho vài quả hoặc móc súng ra phơ. Nhiều em còn lãng mạn đến độ yêu luôn các anh , ôm chầm lấy các anh, khóc như cha chết, ướt đẫm áo vét anh, đòi bỏ chồng Mỹ theo luôn các anh về Việt Nam nếu các an h chịu ra tay tế độ, thương cho cảnh thân gái dậm trường, đường xa xứ lạ, đất khách quê người. Nhưng các anh cũng khôn tổ mẹ. Các em thương thì anh xin thương lại chứ nhất định không phụ lòng nhau. Nhưng bảo các anh dẫn luôn em về nước làm vợ thì bố bảo các anh cũng không dám.
Cuối thập niên 70, những cơ sở kinh doanh đầu tiên của người Việt trên đường Bolsa đã bắt đầu xuất hiện. Từ một khu ngoại ô hoang vắng của thành phố Westminster, tiểu bang California, Tiểu Saigon bắt đầu thành hình. Sang đến đầu thập niên 80 đã bắt đầu khá đông vui. Từ một tiệm sách báo băng nhạc Tú Quỳnh, một nhà hàng Thiên Cung( sau đổi là Thành Mỹ), một Catinat pharmacy ở khu Bolsa mini mall, phe ta đã như vết dầu loang mở thêm một lô các cơ sở khác. Tiệm sách, nhà hàng, chợ buá, phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, tiệm thuốc tây mọc lên như nấm. Càng đông càng vui, càng lắm chuyện. Có một dạo phong trào phở lên cao như núi, cả nước bán phở, gần như vài ngày lại có nột tiệm phở mới. Các nhà hàng đã mở từ trước cũng kẻ thêm bảng phở cho có với người ta. Thành ra nhân loại đâm bỡ ngỡ khi thấy cùng một nơi, một chủ, một tiệm ăn mà lại có hai tên, thí dụ: Nhà Hàng Saigon Deli - Phở Công Lý ( 2 bảng, 1 trên một dưới, bảng dưới hình như lớn hơn bảng trên ), Restaurant Ngân Đình - Phở Hạnh , Nhà Hàng Thanh Vị - Phở Tàu Bay, vv... Anh nào cũng nhận mình là ngon nhất trên cái cõi đời này, chính hiệu phở gia truyền Hàng Than Hà Nội, cháu nội cuả phở 79 Võ Tánh Sài Gòn, con rể hai đời của phở Bằng Đà Lạt, vv.. Có anh chơi trội, mở một nhà hàng to, khoẽ rộng, đẹp và độc đáo nhất quận Cam; nhà hàng có làm thêm những mái tranh ra cái điều đồng quê nước Việt, trên mái tranh lại có lách tách mưa rơi, nhỏ giọt xuống một đường mương ngay trong tiệm, dẫn nước chảy tới một con suối róc rách. Lại có một cái cầu cong cong thơ mộng bắc qua con suối nhỏ này. Giữa nhà hàng là một sân khấu có mái tranh (lại mái tranh !) chơi nhạc sống hàng đêm. Tiệm làm một cuộc cách mạng, không những về cách thiết kế độc đáo mà còn luôn về cái tên tiệm nữa. Thay vì làm như các anh khác (phong trào thời đó) là làm 2 bảng: 1 tên cho nhà hàng, 1 tên cho phở gì đó, tiệm này thu gọn thành 1 bảng lớn : Nhà hàng Phở Ngon. The Đ' là ai nói đến tên tiệm cũng phải khen là Phở Ngon. Về sau không biết ngẫm nghĩ làm sao hay là có đứa nào xúi mà khi quảng cáo trên báo anh chủ tiệm lại thêm chử Nhất vào sau chữ Ngon, thành ra là Nhà Hàng Phở Ngon Nhất. Ấy, tên vậy mà không phải vậy. Đồ ăn của anh, đặc biệt là phở dở vô cùng. Khung cảnh thì rất tuyệt vời, nhạc sống thì chơi cũng xôm lắm, nhưng đồ ăn dở quá nên cũng không kéo lại được. Tiệm ế dần, anh phải tìm cách tiết kiệm để sống còn, thế là dẹp cái dzụ nước mưa lách tách mái tranh. Sau đó ít lâu thì con suối róc rách dưới cầu cũng hết róc rách luôn. Thế nhưng cái quan trọng nhất của nhà hàng là đồ ăn thì anh lại không chiụ cải tổ gì cả. Anh lại giử nguyên dàn đầu bếp dở cũ. Có đứa xấu mồm nói đầu bếp chính là vợ anh lên anh không đuổi được. Có đứa còn nói không chừng đầu bếp chính cũng là anh luôn. Thế cho nên cuối cùng là sập tiệm. Để bây giờ vào những buổi chiều mùa thu , ngoài đường chẳng có chiếc lá vàng nào rụng cả, thực khách đi qua quán ngày xưa, không khỏi ngậm ngùi tiếc cho một nhà hàng lãng mạn, trữ tình, đẹp... nhì Đông Nam Á. Hàng phở lạm phát, số Mít chổng có tiền , có giờ rảnh đi ăn phở cũng có giới hạn nên hậu quả đương nhiên là nhiều tiệm phải ngửa mặt lên trời cười 3 tiếng, khóc 3 tiếng mà than rằng: "Trời sinh ta ra không phải để nấu phở". Thế là các anh cứ việc tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa.
Những tiệm nào còn sót đến ngày nay nói chung là nấu khá, khứa đông nên ăn nên làm ra. Có tiệm thừa thắng xông lên mở thành hệ thống phở, có chi nhánh, franchise trên khắp thế gian. Thí dụ như Phở Hoà, tiệm đầu tiên ở Santa Ana, sau có thêm 1 tiệm ở Bolsa, để rồi bây giờ thì gần như chổ nào có đông người Việt là có phở Hoà. Một lần lêu bêu sang Calgary, Canada, lạc vào phố Tàu, tôi đã ngạc nhiên và thích thú thấy 1 tiệm Phở Hoà len vào được khu này giữa các nhà hàng Tàu chung quanh. Tiệm ở trên lầu nhưng chúng tôi cũng chịu khó leo lên để ủng hộ gà nhà. Ở Canada tương đối ít người Việt nên ông chủ có đến nói chuyện với chúng tôi và xin cho biết ý kiến về phở của tiệm ông. Tôi thành thật cho ông ta biết là theo ý tôi, phở ăn được nhưng không bằng phở Hoà chính gốc ở Santa Ana. Ôn chủ có vẻ hơi buồn nhưng cám ơn tôi đã nói thẳng. Ông cho biết là gia vị nấu phở phải gửi từ phở Hoà bên Mỹ sang nên không ngon được như nấu ngay tại Mỹ.
Các quán phở còn lại tại Little Saigon khá nhiều. Nào Phở Hoà, Phở 79,Phở 54,Phở 86, Phở Tàu Bay, Phở Nguyễn Huệ ,vv...Du khách Việt Nam nào ghé lại Little Saigon hầu hết đêù ăn thử phở ở đây. Phở ở đâu ngon nhất chắc còn tùy khẩu vị mỗi người. Một anh bạn tôi, chính hiệu Bắc Kỳ di cư, cho rằng chỉ có Phở Hoà ở Santa Ana mới đáng gọi là phở Bắc. Anh cho rằng phở ở các tiệm khác hơi lai Nam. Tôi thì lại chịu hương vị của phở Nguyễn Huệ ở Bolsa, một tiệm phở nghe nói là chủ tiệm gốc người Hà Nội, Hải Phòng gu. Tôi không muốn viết nhiều về phở vì biết không qua nổi tùy bút "Phở" của Nguyễn Tuân. "Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường" của Thạch Lam hay "Miếng Ngon Hà Nội" của Vũ Bằng. Tôi chỉ biết rằng khi buồn chuyện gì, thí dụ buồn đời di tản chẳng hạn, thì ghé lại phở Nguyễn Huệ ăn một tô tái nạm vè dòn thật nóng, nhiều bánh, cộng thêm hành trần nước béo nữa, thì nỗi buồn có thể vơi được đến hai phần ba. Lại uống thêm một ly cà phê đen đá nữa thì có lẽ phần buồn còn lại cũng tan theo ngày tháng vội.
Có một dạo Cali lên cơn sốt về động đất. Mặt đất thỉnh thoảng lại nhúc nhích chút đỉnh hù nhau chơi. Các tờ báo Việt ngữ đăng tít lớn các tin tức về dộng đất, rằng thì là động đất thế này mà ăn nhằm gì, sẽ có một trận động đất khủng khiếp, tám chấm mấy, san Cali thành bình địa, chết không biết bao nhiêu ngươì, lại vẽ cả bản đồ với chú thích các đường nứt dưới đất nữa. Đồng bào Việt hải ngoại xôn xao giao động, rủ nhau bỏ Cali tìm về các tiểu bang khác để tránh động đất. Bà con ta lại di tản chiến thuật đi Tennessee, đi Minisota, đi Texas,...vv. Little Saigon vắng vẻ hẳn Bolsa mất hẳn cảnh ong bướm xôn xao, ta đi "không thấy phố, không thấy nhà".
Mít đi rồi tiệm mít bán cho ai ?
Tiệm Mít sập thì các báo Việt ngữ sống nhờ quảng cáo cũng sập theo. Không xong! Thế là chỉ ít lâu sau lại xuất hiện trên báo Mít những bài như: "Động đất Cali có thiệt nhưng tránh xa các vùng phe ta ở." Hay thiệt, động đất mà cũng biết chạm mặt phải nể mũi, động ở đâu thì động nhưng đừng động tới Mít ta là được rồi. Thế là một đồn mười, mười đồn trăm, Mít lại ùn ùn kéo về Cali. Của đáng tội, mùa đông ở các tiểu bang kia lạnh lắm đấy. Đồng bào lại nhớ Little Saigon, nhớ phở, nhớ hủ tiếu, nhớ bánh cuốn, nhớ các khuôn mặt Mít khác. Ấy đấy, khổ thế đấy các cụ ạ. Mít ở gần nhau là nhiều chuyện, là cãi nhau, là giận nhau; ấy thế mà xa nhau lại nhớ nhau không thể tưởng được, lại phải tìm về với nhau, để rồi lại cãi nhau, lại nói xấu nhau, lại muốn xa nhau.
Không những mít ở Cali mà mít ở đâu cũng vậy. Đi đâu cũng tìm nhau. Dù là tôi đi với bạn bè hay đi với bà xã ở Boston, ở New York, ở Washington D.C. hay xa hơn nữa ở Vancouver , ở Calgary, Canada, bạn bè, bà xã, và cả chính tôi nữa đều mong muốn đi tìm thăm khu phố Việt Nam, ghé ăn nhà hàng Việt Nam, ghé uống cà phê Việt Nam. Mặt chợt sáng lên, lòng như ấm lại khi thoáng thấy những dòng chữ quen thuộc nơi bảng hiệu một tiệm ăn, một ngôi chợ, một quán cà phê, dù chỉ là lèo tèo dăm ba quán nhỏ túm tụm vơi' nhau ở mợt khu ngoại ô xa thành phố hay bon chen chui ké vào một phố tàu nào đó ở Mỹ hay Canada.
Tôi còn nhớ khi tôi và bà xã lang thang ngoạn cảnh tại một khu phố biển ở Vancouver, Canada, khi đói bụng tính tìm một nhà hàng Việt Nam mà đi hoài không gặp. Sau cùng phải ghé đại một tiệm ăn tàu. Chủ liú lo tiếng tàu, cô hầu bàn Canada liú lo tiếng Anh. Chúng tôi vừa ăn vừa nói chuyện bỗng từ trong bếp một có người Á đông (mà tôi đinh ninh là người tàu), đi ra và tiến lại bàn chúng tôi và hỏi nhẹ nhàng vơi' giọng Bắc ngọt lịm: " Chào anh chị. Anh chị ăn ớt không, em lấy cho? " Tôi ngạc nhiên hỏi: "Sao cô biết tụi tôi người Việt? " Cô trả lời: "Em ở trong bếp nghe thoáng anh chị nói tiếng Việt nên mừng quá chạy ra."
Chúng tôi hàn huyên chuyện vãn một hồi. Cô than buồn, cả năm không thấy một người Việt vào quán, thực khách toàn là người Canada (mà cô gọi là Tây), người tàu và các người ngoại quốc khác. Gặp chúng tôi cô mừng lắm, nói chuyện không muốn dứt.
Lại một lần khác, chúng tôi ghé Banff, cũng ở Canada. Banff là một thành phố nghỉ mát thật tuyệt vời, bốn bề núi bao bọc, đẹp còn hơn Đà Lạt của mình. Khí hậu giữa tháng 6, mùa hè mà vẫn còn lạnh, cái lạnh của cao nguyên, của Đà Lạt. Nghĩ mình chắc chắn không thể tìm thấy một tiệm ăn Việt Nam nào ở đây, chúng tôi ghé vào một tiệm Tàu. Cô xếp chỗ mà chúng tôi đinh ninh cũng là người Tàu, khi nghe chúng tôi nói tiếng Việt, mừng rỡ chạy lại nói chuyện vói chúng tôi bằng tiếng Việt. Cô hỏi chúng tôi đã đi chơi nhiều nơi chưa và nói hôm sau là ngày nghỉ của cô, nếu tụi tôi muốn, cô sẽ tình nguyện đóng vai một hướng dẫn viên du lịch cho chúng tôi. Ôi, tình dân tộc, nghĩa đồng bào! Bao nhiêu năm xa xứ tưởng là quên mà hoá ra cũng chẳng thế nào quên được.
Tôi là người ghiền cà phê, sáng nào cũng phải có 1 tách cà phê thì mới cảm thấy là cõi đời này cũng không đến nỗi khó sống cho lắm. Ấy vậy mà ly cà phê đen đá ngon nhất trong đời tôi lại không phải là ở một quán cà phê quen thuộc nào đó ở đây mà lại là ở 1 quán cà phê cách xa nơi tôi ở hàng ngàn dặm. Đó là vì qua nhiều ngày rong rũi, du mục, lang thang với đủ mọi phương tiện chuyên chở: phi cơ, taxi, xe lửa, xe bus, xe hơi, đi bộ, tôi cứ phải uống cà phê Mỹ và Canada liên tiếp. Mà loại cà phê này thì các bạn biết rồi. Uống chỉ là để cơ thể có chất cafféine đại bổ mà thôi, chứ mùi vị của cái cà phê này nó chẳng ra làm sao cả. Thèm cà phê Việt Nam quá, lang thang tới thành phố Calgary của Canada, tôi tìm được quán cà phê Lệ Đá trong một khu Việt Nam ở ngoại ô. Chà, cái tên nghe lãng mạng quá. Bạn nào yêu nhạc chắc biết Lệ Đá là tên của 1 bài thơ của Ha ý Huyền Chi đã được nhạc sĩ Trần Trịnh phổ nhạc thật tuyệt vời. Hồi ở Việt Nam xa xưa cũng có quán Lệ Đá ở Bà Riạ, gần Vũng Tàu, mà những buổi chiều, những buổi tối, tôi hay ngồi uống cà phê nghe nhạc và ngắm cô chủ quán đẹp não nùng.
Ly cà phê đen đá ở quán Lệ Đá ở Calgary Canada, ly cà phê Việt Nam sau 2 tuần lễ, uống toàn cà phê dỏm, thú thiệt là tôi cảm thấy ngon quá, đã quá, đã đến độ trên đời này không còn cái gì có thể là hơn được nưã. Tôi uống nhâm nhi từng giọt nho nhỏ, để thắm từ từ hương vị quê hương, để niềm hạnh phúc con con, niềm hạnh phúc chợt thấy không tan theo ngày nắng vội.
Ly cà phê đen đá ở Lệ Đá làm tôi nhớ đến độ hôm sau, trước khi rời Calgary đi Jasper, tôi phải thuyết phục bà xã trở lại Cà phê Lệ Đá để uống thêm một ly nữa, bà xã nhìn tôi dò xét:
"Anh mê cà phê hay mê con nhỏ bán cà phể "
Đàn bà kinh thật! Nói cho ngay, cô bé pha cà phê ở Lệ Đá Calgary cũng xinh như cô chủ cà phê Lệ Đá ở Bà Riạ năm nào. A, nói về phở và cà phê nhưng không được quên các món Mít khác đấy nhé! Dạ, không đâu ạ! Nhà cháu không quên đâu ạ, nhà cháu sắp nói tới đấy ạ! Trước hết phải nói tới nhà hàng Viễn Đông của ông nghị Tony Lâm, chuyên trị các món ăn thuần tuý miền Bắc, với khẩu hiệu "ăn chay ngon hơn ăn mặn ".. ấy chết, quên,"ăn chơi ngon hơn ăn thiệt". Ông này tài thật, từ một quán nhỏ 1 căn trên đường Westminster, ông đã như vết dầu loang, sang thêm căng thứ 2 kế bên. Vẫn không đủ chổ cho khứa ngồi, ông bắt nốt căn thứ 3, đục tường, biến 3 căn thành 1 nhà hàng rộng rãi thoãi mái. Vậy mà sáng, trưa, chiều thứ bảy, chủ nhật, khứa vẫn phải đứng chờ lũ lượt trước cửa. Muốn ăn phải "đăng ký", ghi tên vào Waiting List dán trước cửa. Gớm, khó quá. Nhưng mà thực phẩm của ông thì tuyệt. Bố khỉ, món gì cũng ngon hết là làm sao!
Tiệm ông bán món ăn Bắc, nhưng lại không bán phở, món độc đáo của miền Bắc. Hỏi thì ông cười cười: "Cả nước bán phở rồi, mình bán làm chi nữa". Lúc đầu thực đơn của quán ông rất khiêm nhượng, chia làm 2 nhóm thôi: Bún và Bánh. Dưới chủ đề Bún ông có: Bún riêu, Bún ốc, riêu ốc phối hợp, Bún vịt sáo măng, bún chả, bún mộc, bún bung. Về họ Bánh thì có bánh cuốn thanh trì, bánh cuốn nhân thịt, bánh tôm cổ ngư, bánh đúc đậu rán, bánh giò ruốc. Dạ, với các cụ người Nam, nhà cháu xin phụ đề Việt ngữ là ruốc đây là thịt chà bông đấy ạ, không phải là mắm ruốc đâu ạ.
Chỉ có bún và bánh thôi mà thiên hạ ăn đông quá. Nhưng Tony Lâm là con người không ngủ ngáy pho pho trên thành quả. Ngài thừa thắng xông lên, phát triễn thực đơn bún và bánh thêm Chả Cá Thăng Long, ốc Nhồi Hấp Lá Gừng, Phở gà tươi, chơi luôn món Trung và món Nam: Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng. Ô hay! thế là thế nào? sao trước nói không bán phở mà bây giờ lại bán? sao bảng hiệu vẫn là "Thuần Túy Các Món Ăn Miền Bắc" mà bây giờ lại có Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng là nghĩa làm sao? Hỏi, người lại cười cười: "À, thiên hạ đòi ăn phở ghê quá, cuối cùng moa phải nhượng bộ, ra lệnh nấu thêm phở gà, phở bò thì tính sau. Còn Bún bò Huế, Chạo tôm, Nem nướng? " Các đứa khác có thì moa phải có chứ. " Chịu ông ấy thật. Phở gà chỉ là món tay trái của ông mà cũng ngon không thua các tiệm chỉ chuyên trị có một món Phở duy nhất. Bún bò huế, Chạo tôm, Nem nướng không phải món Bắc, nghĩa là không phải món tủ của ông mà cũng ngon không chê vào đâu được.
Ngoài tài mở hàng ăn, ông còn hoạt động cộng đồng mạnh mẽ. Ông có chân trong Phòng Thương Mãi Việt Nam ở quận Cam, và có công lớn trong việc để thành phố Westminster và bộ Giao Thông Cali công nhận, chính thức hóa và dựng bảng tên "Little Saigon". Ông còn hoạt động chính trị, đắc cử vẻ vang vào Hội Đồng Thành phố Westmister, trở thành người Việt Nam đầu tiên trong một chức vụ dân cử. Khẩu hiệu tranh cử của ông là: "Tony Lâm, Tax Fighter, Crime Fighter " Ông đã serious về cái dzụ chống tội ác đến độ một lần bắt gặp một tên giật bóp một người đi đường, ông đã chạy bộ đuỗi bắt được tên cướp giật rồi gọi cảnh sát đến tóm cổ y về bót. Báo Mỹ đã chạy tít lớn tin này và ca ngợi ông hết mình. Uy tín ông lên như diều. Chẳng bao lâu ông trở thành Phó Thị Trưởng Hội Đồng Thành Phố Westminster. Oai chưa?
Làm lớn rồi nhưng Tony Lâm vẫn dể thương như thuở còn "hàn vi ". Khách đến ăn vẫn được người cúi rạp đầu chào vói nụ cười thật tươi, đến tận bàn chào hỏi thân mật, tự rót trà mời. Cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây là trà nóng ở Viễn Đông là số một. Không biết là trà cúc hay trà sen mà sao thơm thế. Hương vị tuyệt vời. Uống thử sẽ biết. Ăn xong, uống trà xong, và quan trọng là trả tiền xong, khách sẽ được phó thị trưởng Westminster cảm ơn và đưa ra đến tận cửa.
Trở lại Little Saigon, không ai tới đây mà không ghé Phước Lộc Thọ, một thương xá hai tầng thật đẹp thật dễ thương, thật đông phương, và cùng với Little Saigon Supermarket, đã trở thành một "landmark" của tiểu Saigon. Nơi đây từ sáng sớm đến tối mịt, ngày cuối tuần cũng như ngày thường, lúc nào cũng ong bướm xôn xao, vui như Tết. Nơi đây bạn sẽ tìm thấy các món hàng đặc biệt Việt Nam, sơn mài, tranh lụa, video, băng nhạc, quần áo hợp với các kích thước mít ta, các quán cà phê, quán ăn, bàn ghế bày dọc theo lối đi rất tây, rất Saigon. Bạn bè cũ lâu không gặp lại, không muốn gặp lại, tưởng không bao giờ gặp lại, đến Phước Lộc Thọ bảo đảm có 72% hy vọng sẽ gặp. Bạn bè tôi nhiều người không gặp từ 75 thế mà lêu bêu lại gặp ở đây. Có đứa về từ San Jose, từ Texas, từ New York, từ Washinton D.C., có đứa từ Úc sang, dân cựu Tân Tây Lan cũng thỉnh thoảng mò đến đây.
Mít local ở đây nhiều tên làm như ghiền không khí ở Phước Lộc Thọ (PLT), đến đây gần như hàng tuần, nếu klhông nói là hàng ngày. Có vị ngồi cà phê từ sáng sớm tới khuya tiệm đóng cửa mới chịu về. Có lần một tên bạn cũ, hoa tiêu trực thăng ngày xưa, một hôm nổi hứng gọi điện thoai. cho tôi lúc 5 giờ sáng ngày thứ Bảy. Tưởng có chuyện gì quan trọng lắm. Nào ngờ Ex-Pilot rủ đi uống cà phê Rendezvous ở PLT. Nể bạn, tôi cũng mắt nhắm mắt mở, mặc quần áo đi uống nhưng sau đó phải long trọng yêu cầu ông bạn vàng đừng có đánh thức tôi sớm như vậy nữa. Những ngày cuối tuần không phải đi làm được ngủ nướng là một chút gì hạnh phúc còn sót lại trên cõi đời này, đừng nên lấy mất của nhau. Tuy nhiên, mỗi người quan niệm hạnh phúc một khác, vị nào lấy chuyện uống cà phê dòm cuộc đời đi diễn hành qua mắt mình làm vui thì phải dậy sớm thôi, ra chậm sẽ hết ghế, hay hết chỗ tốt, phải ngồi xa, khuất trong kẹt, ngắm các em đi ngang không thoải mái vì vướng đầu các đứa khác.
Cùng với phong trào phở thời thập niên 80, phong trào mở chợ cũng lên như diều, thời 80, 90. Khởi đầu chỉ là những ngôi chợ bé tí nghèo nàn, Mé Kông ở Santa Ana, Dân Tiếp Vụ ở Bolsa.., phe ta nhích lên những ngôi chợ hạng trung như Hoà Bình, Liên Hưng, Mai Công, Hoà Phát... Cuối cùng là những ngôi chợ lớn, khang trang, đúng tiêu chuẩn Mỹ như Man Wah, Little Saigon, và Bolsa Supermarket. Càng đông càng vui, càng cạnh tranh càng bán rẻ, càng tặng quà nhiều. Chủ chợ tặng gạo, tặng mì, tặng nước mắm để câu khách. Có chợ nêu khẩu hiệu: "Đại Sale, Sale Bạo". Có chợ trương biểu ngữ: "10000 Bao gạo thơm đang chờ đón quý khách". (Phải hiểu đây là gạo để tặng cho ai mua nhiều, thường là từ 90 đô la trở lên. ) Có chợ không tặng quà thì lại nói như thế này: "Chúng tôi chủ trương bán rẻ hơn tặng quà", ra điều bắn tin cho khách biết là chợ nào tặng quà nhiều thì nó bán mắc đấy.
Vô chợ Mỹ mua cá là chắc chắn chỉ có cá đông lạnh. Chợ VN tung ra chưởng: "Cá tươi còn sống lội tung tăng trong hồ." Một chợ làm, cả nước làm, chợ nào không có hồ cá tươi là đi ô tô bương ngay. Phe ta bèn tung thêm độc chưởng: "Đặc biệt có quày chiên cá miễn phí." Phe địch bèn cấp tốc lập lò mua chảo, tuyển kỹ sư chiên cá về ngay. Khách mua cá thấy dzui dzui trong lòng, bây giờ mua cá khỏi sợ mất công làm tanh tưởi, chiên dầu nóng bắn vào mắt, có thợ làm sẵn, chiên vàng dòn, gói giấy nhôm nóng hổi, về chỉ việc mở ra ăn, khoẻ quá. Chắc có đứa nào chỉ nên khứa ngoại quốc cũng đã vào chợ VN mua sắm. Khách Mỹ trắng,. Mỹ đen, Mễ Tây Cơ, Ấn Độ đủ cả. Các vị này cũng tinh lắm, để ý xem các cậu mợ mít làm gì thì người cũng làm y như vậy. Cũng nhón lấy bao nylon bọc cá, cũng biết vạch mang cá ra dòm xem còn đỏ không, cũng biết mang ra quày chỉ vô chảo chiên gật gẫt cái đầu. Ngôn ngữ bất đồng nhưng các Kỹ Sư chiên cá cũng hiểu ngay.
Chợ Little Saigon đã nổi tiếng về đến VN rồi đấy. Bà con ODP, HO, qua đến đây là đòi đi tiểu Saigon, rồi Little Saigon supermarket. Đi chợ khác không chịu, phải đến chợ này mua sắm, ngắm tận mắt dung nhan người Trần Dũ, Giám Đốc chợ mới toại nguyện. Người cũng không làm quý vị thất vọng. Người có mặt ở chợ từ sáng tới tối, bảy ngày một tuần, trông thấy người lăng xăng điều động nhân viên từ Việt tới Mễ, niềm ở chào hỏi khách hàng là nhận ra ngay.
Nhiều bà nội trợ mít lại khoái đi nhiều chợ, vì nghe nói chợ này rau rẻ nhưng thịt lại đắt, chợ khác trái cây vừa ngon vừa sale tùm lum, chợ kia nổi tiếng chiên cá dòn, ngon, chợ nọ vô địch tặng quà vv. Báo hại các ông chồng phải lái xe chở các bà đi hết chợ này đến chợ khác. Có bà mỗi lần đi tới năm chợ, ông chồng theo không nổi đành chờ ngoài xe đọc báo tiêu sầu. Các bà này chắc chắn là chưa học qua Economics. Các bà tiết kiệm được một ít tiền vì đi nhiều chợ nhưng lại không chịu tính đến vấn đề xăng nhớt hư hao xa vì phải lái đi nhiều và nhất là thì giờ, nếu không phải là của các bà thì là của các ông chồng. Thới gian chở các bà đi từ chợ này qua chợ kia để đợi các bà dọ gía, so gía, đắn đo, mua sắm, mà để đi làm overtime thì lợi tức có lẽ sẽ gấp nhiều lần số tiền các bà hí hởn nghĩ là đã save được.
Viết về Little Saigon, nói về phở, về bún, về cà phê, về chợ mà không nói đến hoạt động văn nghệ văn gừng ở đây thì e là một điều thiếu sót chăng ?
Nói chung văn nghệ hải ngoại rất là khởi sắc. Video, băng nhạc phòng trà, vũ trường, ban nhạc, ca sĩ tràn lan. Anh nào cũng là "giọng ca nam số một hải ngoại", "giọng ca không đối thủ", chị nào cũng là "tiếng hát vượt thời gian", (và chắc là vượt không gian luôn), "giọng ca nữ hàng đầu". Mẹ kiếp ! Bộ không có đứa nào hạng nhì sao ?
Mỗi lần có một ca nhạc sĩ nào tới Mỹ là lại có màn rình rang đón rước, dạ hội, dạ vũ mừng tái ngộ tưng bừng. Bố khỉ! Làm văn nghệ sĩ thế này thì sướng thật ! Biết vậy ngày xưa tôi đã cố luyện giọng ca khàn đục của mình. Cũng xin khoe với quý vị ngoài cái mục viết lách lủng củng tôi cũng đã mê cái vụ văn nghệ văn gừng từ lâu. Từ hồi còn học Trung Học nghe mấy tên nhóc trong xóm đánh Banjo đã thích rồi. Lên Đà Lạt nghe mấy tên nhà kế bên hoà guitars, mandoline và hát bản "Ai lên Xứ Hoa Đào" của Hoàng Nguyên lại ca ýng mê hơn. Ra Vũng Tàu tắm biển lại nghe mấy tên bạn chơi guitar và hát "Nếu vắng anh" của Anh Bằng, "Biệt Kinh Kỳ" của Lê Dinh, vv. thì niềm say âm nhạc tưởng không còn thuốc chữa.
Sang TTL, nghe Hoàng Châu Thịnh từ Palmerston North về Wellington chơi guitar classic, nghe Nguyễn Hữu Bình ở Chrischurch chơi guitar moderne, piano, accordion, trống, sáo, nghe Phạm Quang Tuấn chơi Hạ Uy Cầm với Trương Minh Tuyền đệm Tây Ban Cầm thì chịu không nổi nữa rồi. Bèn mua một cây guitar, bèn tầm sư học đạo. Vị thầy khả kính đầu tiên của tôi là một anh Kiwis ở Christchurch. Anh này không dạy căn bản nốt niếc gì cả. Anh đưa cho tôi một đoạn các bài hát thông dụng ở NZ thời đó như Tom Dooley, Red River Valley, vv. rồi bảo tôi đệm theo anh ta. Ông nội tôi cũng không đệm theo được. Giã từ sư phụ dổm. Tôi mua sách về tập lấy. Cũng chẳng ra làm sao cả.
Phải đợi đến khi về nước, xách đàn đi học Hoàng Bửu, một nhạc sĩ guitar classic và flamenco thì tôi mới thực sự bước chân vào âm nhạc.
Tôi theo lời khuyên của Đàm Xuân Linh, vô địch violin của giải Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hoá, người mà vĩ cầm thủ Nguyễn Gia Tâm đã phải long trọng tuyên bố là tay vĩ cầm số một VN. Đàm Xuân Linh khuyên tôi là phải tầm sư học đạo. Sư thứ thiệt chứ không phải loại sư Kiwis như tôi đã học ở Chrischurch, có như vậy mới khá được. Do đó phải sau Hoàng Bửu, tôi thọ giáo Lâm Tuyền, tay lead guitar đồng thời là trưởng ban nhạc Johny Lam Band, tác gỉa của những bản nhạc khá nổi tiếng như "Tiếng thời gian", "Hình ảnh môt buổi chiều", "Khúc nhạc ly hương".
Sau Lâm Tuyền là Vĩnh Căn, Anh Hoa, rồi Đỗ Đình Phương. Nếu Hoàng Bửu và Đỗ Đình Phương đã dạy cho tôi căn bản nhạc lý và guitar classic, thì Lâm Tuyền và Vĩnh Căn đã dạy tôi biết đệm đàn. Còn nhạc sĩ Anh Hoa thì dạy tôi sáng tác.
Tôi đã không thành được nghệ sĩ nhà nghề như mong ước thời trẻ thì ít ra cũng thành một nghệ sĩ tài tử để lâu lâu có dịp ngồi chung với các bạn bè có chung dòng máu văn nghệ, nổi hứng đàn và hát cho bạn nghe những sáng tác của chính mình với lời giới thiệu trịnh trọng: "Xin mời các bạn nghe các sáng tác của một nhạc sĩ chưa nổi tiếng".
Tôi còn nhớ Nguễn Lương Bình, một Ex-Kiwis hiện ở Texas, khi gởi tặng tôi tờ Sợi Giây Liên Lạc có viết kèm mấy câu: "Chắc cuộc đời anh vẫn nghệ sĩ như thủa nào ở Chrischurch?". Tôi không có dịp trả lời anh hồi đó thì xin mượn những dòng này để trả lời anh luôn là: Vâng, anh đã đoán đúng, cuộc đời tôi vẫn vậy, vẫn nghệ sĩ tài tử, vẫn lang thang, vẫn "không nghèo mà điều túng thiếu" nhưng cũng chẳng phải vay nợ đứa nào, vẫn có cái xe để đi, cái giường để ngủ, đủ ba bữa để ăn. Như vậy là vui rồi, phải không anh ? Cũng vẫn là một loại "già ham dzui" như thủa nào.
Đã gần 30 năm rồi, từ cái thủa viết lách lăng nhăng cho tờ giai phẩm Xuân ở Chrischurch, tờ 7ND ở Auckland, tờ Phổ Thông ở Saigon, bây giờ tôi mới có dịp cầm lại cây bút, thể theo lời yêu cầu của các Ex-Kiwis Phạm Phan Long và Nguyễn Anh Giao. Những kỷ niệm xa xủa dường như sống lại, những hình ảnh, khuôn mặt bạn bè, nhựng parties gặp gỡ anh em, những Vietnamese evenings ở Victoria, Wellington, những lần ra phi trường đón các bạn mới sang, những tours đi chơi Queens Town, Arthur Pass do Bùi Văn Minh, Trịnh Khánh Tước tổ chức,... tưở ng như đã mờ nhạt theo thời gian giờ đây lại hiện rõ nét như một sự trở về, tìm về ký ức. Giữa chúng ta, những Ex-Kiwis, những người đã từng một thời lêu bêu trong các ghiảng đường đại học ở NZ, dường như có một cái "bond" nào đó thắt chặt, vô hình nhưng đủ mạnh để mặc dầu có thể là chưa bao giờ gặp nhau trước đây nhưng nếu đã được giới thiệu là Ex Kiwis thì liền tay bắt mặt mừng, tưởng chừng như đã thân thương từ kiếp nào.
Thôi mến chào các bạn và mong ngày hội ngộ.
Hải Điểu
Quê Hương Trước Mắt Tôi Sau 20 Năm Xa Cách
Phạm Phan Long
Tôi đã về thăm quê hương Tết Giáp Tuất vừa rồi. Chuyến bay Asiana về tới phi cảng Tân Sơn Nhất vào nửa đêm và tới trễ. Từ Hán Thành, Asiana dành ưu tiên cho các chuyến đi Hồng Kông và Tokyo. Hành khách các chuyến bay đó từ phòng đợi được bước ngay vào máy bay chân không chạm đất. Ngược lại khách về Việt Nam phải đi bộ ra xe buýt, tới chân máy bay, leo thang lên máy bay giữa đêm khuya lạnh buốt. So với Tokyo và Hong Kong, Asiana đánh giá thì giờ và du khách Saigon rẻ như đồng bạc ở đó vậy. (Dịch vụ Asiana trên không gian rất đáng khen nhưng không thể đền bù vào việc xảy ra dưới đất.)
Khi cửa phi cơ vừa mở ra, cái nóng ẩm của Saigon dội tát vào mặt người. Đứng dưới là một anh bộ đội lạnh lùng cau có nhìn lên. Không biết anh có ý dọa dẫm hay đó là cách anh thể hiện tâm trạng của kẻ thường xuyên không hài lòng điều gì. Tôi bước vào phòng hải quan trình giấy và từ phút đó bắt đầu tìm hiểu quê hương mình sau 20 năm xa cách bằng đôi mắt "Việt Kiều" mà tôi chắc là rất ngây ngô dưới ánh mắt đồng bào tôi. Một nhân viên hải quan trong sắc phục quát "chào" khách mới về. Tôi nghe mới biết người khách mới về đã lỡ dại hỏi mượn anh ta cây bút. Bút ở đây, đâu có dư mà cho mượn.
Sáng hôm sau dạo phố, tôi tự nhiên so sánh thành phố HCM hôm nay với Saigon ngày xưa trong ký ức tôi. Saigon bỗng như thu nhỏ lại một nửa. Nhà cửa đường xá hẹp hẳn đi, phố xá gần gũi nhau hơn. Tổng Thống Clinton vừa tuyên bố bãi bỏ cấm vận. Hà Nội kéo cờ Mỹ hoan nghinh. Nhiều người trong nước tưởng bức màn đen đã được tháo xuống và quê hương tôi từ nay chuyển mình với vận tốc nhanh. Đến mức sự vật co rút lại dưới mắt người xa xứ. Tuy thế người buôn bán tỏ sự lo ngại về chuyện tổng đại lý của các đại công ty sắp mở ra sẽ đảo lộn cuộc sống buôn thúng bán bưng của họ.
Saigon rất tương phản, lẫn lộn dấu vết bỏ phế hoang tàn, rêu phong cáu bẩn, hôi hám ứ đọng rác rưới với những bậc thang, rộng thênh thang cao dài bằng đá mài tráng lệ. Cửa kính những cao ốc đó lúc nào cũng khép kín, vừa giữ khí lạnh, vừa chia đôi hai dòng người Việt. Saigon đang được xây dựng lại. Nhiều nhà mới, khách sạn lớn chuẩn bị đón chào thế giới. Thắc mắc lớn đầu tiên của tôi là so với lợi tức của người chủ, tôi không thể suy diễn ra một giải thích hợp lý nào cho gia tài to lớn đó cả.
Những ngân hàng và doanh nghiệp tại VN đang chuyển mình "đổi mới" hoạt động kinh tế thị trường. Những người tôi tiếp xúc đều nói đến hiện đại hóa, áp dụng phương pháp kế toán Mỹ, nói đến thành lập phương cách thanh tra kiểm soát, và niềm háo hức nghiên cứu việc gia nhập thị trường chứng khoán. Những điều này tôi nghe và mong ước lắm vì trên đường dài sẽ đem trật tự lại cho một guồng máy hỗn loạn và dần dần sẽ giải tỏa được mối thắc mắc trong tôi.
Thủ tục kế toán tự nó thôi, chưa nói đến chính sách kinh tế bao trùm bên trên, hay guồng máy sản suất bên dưới, hay niềm tin của người đầu tư, không thay đổi dễ dàng và nhanh chóng như thế. Quán tính lề thói cũ đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian lẫn guồng máy chính quyền. Hai mươi năm ở miền Nam,và chắc đã lâu hơn nữa ở miền Bắc, việc buôn bán và quản lý hầu như không mấy ai trong dân gian cầm thứ giấy gì gọi là tấm hóa đơn thật đúng ý nghĩa của nó trong tay. Khi "khách" cần đến, họ nhận một nhưng lại đề lên hai ba lần tiền cho "khách" vui lòng. Tôi rùng mình bảo họ coi chừng. Khi bị đánh thuế lợi tức trên những số thu thổi phồng đó là họ chết. Tôi thầm lo cho các bạn chuyên viên tài chánh kế toán của tôi ở hải ngoại đang hăm hở nghĩ đến việc về nước lập hệ thống kế toán cho nền kinh tế VN. Thật là một việc đội đá vá trời.
Độc đáo nhất là trong việc giao nhận hàng, với cách làm sổ anh bạn tôi gọi là phương pháp "sổ ai nấy ghi". Làm việc cách này ai cũng vui lòng và sổ công ty nào cũng tốt cả. Tôi chứng kiến một người mua đồng hồ hỏi: "Đồng hồ này không có vi trùng chứ ?" Người bán trả lời: "Có vi trùng thì cứ đem trả lại không sao." Hai người mỉm cười vui vẻ kết thúc việc mua bán, trong khi tôi kinh ngạc vì không biết đồng hồ mình đang đeo thì sao và bảo đảm (product warranty) kiểu gì mà mới thế. Tôi chợt đoán nghĩ ra họ sợ đồng hồ điện tử sẽ có "virus" như trong máy vi tính vậy.
Saigon bây giờ thực là một nền kinh tế "lề đường", vì đó là nơi mà đồng tiền trao đổi nhiều nhất trong dân gian. Người ta dễ tính, ngồi xổm, ăn từng chén miến, húp từng tô mì, thổi từng bát phở, và tiện tay bỏ các thứ rác rưới xuống đất: nào xương, nút chai, vòng khuy mở lon nhôm (pop can rings) và tàn thuốc lá. Bỏ tất cả xuống dưới chân và đạp dí xuống đất là xong. Vỉa hè Saigon sẽ trở thành địa điểm khảo cổ và môi sinh đầy hứng thú cho Marlboro, BGI, Coca-Cola và Heineken.
Khách ngồi ăn chung quanh các quày bán hàng chật hẹp. Bếp khay bày biện rất thuận tiện, tất cả nằm trong tầm tay với của người chủ ngồi "vừa bán vừa nấu vừa thâu tiền". Mc Donald cần gởi chuyên viên sang Việt Nam để học cách làm "món ăn có liền" (fast food) kiểu "một người làm hết" (one man band) tại Việt Nam này và suy nghĩ cho thật kỹ trước khi nhảy vào thị trường mới mẻ 70 triệu người đó.
Chuyên viên kế toán ở hải ngoại cứ về mà bàn với các bà bán hàng rong việc làm sổ sách xem các họ nói sao. Nhớ rằng họ không biết đọc, không viết nổi tên mình, và chưa thấy cái máy tính tiền trong đời bao giờ. Một cái máy tính sẽ trị giá ngang quày tài sản của họ. Hay về nước tập cho guồng máy chính quyền đang tập tễnh làm kinh tế làm kế toán đi xem họ "đổi mới" ra sao. Nhớ rằng bạn đang đòi sờ đến "ruột tượng" của họ đấy nhé. Ai gan hơn nữa thì về hỏi xem sổ sách xem họ có còn đón tiếp bạn như "Việt kiều" nữa không. Những gì đơn giản hiển nhiên nhất ở hải ngoại vẫn có thể là vấn nạn hay quốc nạn tại VN bây giờ.
Tôi thuê xe ($40.00 một ngày bao xăng và tài xế) đi ra miền Trung, qua những đọan đường xóc ruột vì đất lở sau cơn lụt chưa sửa kịp. Cảnh vật miền quê dường như không đổi nhiều. Dân quê Hàm Tân, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Cà Ná, Cam Ranh, Ninh Chữ, Định Quán, Nha Trang đói hiện ra trên khuôn mặt. Những đứa bé bồng bế nhau ra hai bên quốc lộ và bờ biển. Chờ khách ăn xong chạy ra mót từng miếng ăn rơi rụng trên cát. Chúng bỏ nhanh miếng ăn thừa vào miệng mặc cát đất còn dính theo. Cát bám quanh môi không cần phủi. Chúng đã quá đói. Nếu phủi đi sẽ bị trẻ khác dành mất những miếng ăn còn lại. Chúng nuốt vào lòng ngon lành như các con chim hải âu đói vớ được miếng mồi. Đà Lạt bây giờ tiêu điều, thiếu màu sắc. Hoa cỏ thiếu phân bón quá lâu, sau 20 năm thoái hóa cành gladius đường kính chỉ còn lớn bằng nửa ngày xưa.
Đối với chính quyền khế ước dươi' $10 triệu đô la ở Việt Nam bây giờ được coi là nhỏ. Tôi thấy may mắn cho số nhỏ những người đã có việc làm trong 600 công ty tư doanh có ngoại quốc hùn hạp. Họ đồng lương khá. Còn lại đều rất thiếu thốn, chỉ nghĩ đến dân số 70 triệu người mong được cái may mắn tương đương đó. Dù là làm việc cho ai đi nữa.
Tôi gặp một thầy giáo tiểu học, lương được dưới $15 đô la một tháng. Đối với anh $10 đô la là lớn. Gia đình anh bây giờ cần $200 đô la hàng tháng để có thể đủ trả điện nước, xăng nhớt, chợ búa và học phí cho các con (bây giờ phải trả tiền). Anh ta vẫn bám lấy lớp học nghiệp chướng vì không đến trường "tớ sẽ nhớ học trò lắm". Về nhà, vợ chồng cùng các con tất cả cùng làm bánh, may vá, khuân vác, sửa chữa gần như làm bất cứ việc gì để bù đắp chi phí gia đình.
Tôi gặp một cô giáo cắm cúi may, $800 đồng VN (8 cents US) một áo để bù thêm cho chi phí gia đình. Khi có giỗ tiệc, chị không dám ăn no vì sợ hôm sau quen dạ không có sẽ đói sớm lâu no. Tôi gặp một kỹ sư 18 năm kinh nghiệm, người được đề cử phụ trách giữ máy Fax mới về của cơ quan như một đặc ân. Tôi tiếp xúc một người làm tại ngân hàng tư doanh, anh cho biết tiền lời quỹ tiết kiệm là 3% nếu là tiền đô la, 20% một năm nếu là đồng VN. Sự chênh lệch phản ảnh mức lạm phát trong nước và chính sách khuyến khích dân gian dùng tiền Việt. Tôi đọc một bài dịch về Hubbell telescope (viễn vọng kính không gian tốn hàng tỷ đô la của Mỹ bị hỏng vừa được phi thuyền lên chữa lại được) của Giáo Sư Đại Học Nguyễn Chung Tú trên một báo khoa học phổ thông. Bài viết như thế được trả vào khoảng $20.00 đô la nhuận bút. Tôi gặp rất nhiều người tha thiết muốn học môn vi tính. Tôi có cảm giác họ nghĩ rằng biết computer sẽ như có vé lên ăn trên ngồi trước.
Tôi tò mò hỏi thăm học trình và thăm dò lượng định kiến thức một số sinh viên đại học sắp ra trường. Trường chú ý dạy sinh viên về chi tiết các bộ phận nhỏ của máy móc như việc huấn luyện thợ sửa chữa. Họ không dạy theo giáo quy (học trình) kỹ thuật đại học hiện đại. Nếu đám trẻ tinh hoa nhất nước này chỉ được học có thế thôi thì quả là hai mươi năm giáo dục đã bị đẩy lùi về quá khứ mất đi một nửa thế kỷ. Tôi đau lòng mong đó chỉ là ác mộng và mong mình đã lầm lẫn vì đã lấy kết luận từ vài trường hợp ít ỏi không chính xác. Nhưng thực tại vẫn ám ảnh đeo đuổi theo tôi về tới bây giờ. Tài nguyên thiên nhiên rừng núi đốt phá chỉ biến mất đi và có thể dựng lại trong 20 năm. Kiến thức của một thế hệ người bị dồn ngược, họ không biến đi dễ dàng như thế mà sẽ lớn lên làm chứng nhân cho việc giáo dục lỗi lầm suốt 60 năm đời họ .
Tôi gặp một em bé gái bỏ nhà bỏ học đi ở trọ bán đậu phọng luộc ở bãi biển Nha Trang thu được tiền nuôi thân. Kiếm bằng lương cô giáo mà không cần học. Em nghĩ đi học để làm gì nữa? Tôi gặp một bé trai bỏ Hà Tĩnh vào Đà Lạt ngày đánh giày, đêm khiêng lò than nóng lang thang nướng mực. Nó cố kiếm tiền để gởi về nuôi mẹ yếu và ba em nhỏ . Nó khoe rằng, con heo nó mua năm trước cho mẹ nó, đã nặng được 50 ký. Bán đi sẽ đủ tiền gạo nhà ăn một mùa.
Tôi về miền quê nơi rừng núi, gặp một kỹ sư thủy lâm, năm 1975 được cho "về làm ruộng" và bây giờ được cho "coi nông trường". Anh ta nói với tôi rằng cũng cần hai mươi năm nữa mới dựng lại được rừng cây như xưa. Tôi nhăn mặt hỏi sao không chọn giống cây khác để rút ngắn giai đoạn, sớm có lợi tức. Anh cho biết đang nghiên cứu trồng cây Bạch Đàn chỉ trong ba năm sẽ trưởng thành. Nhìn cuộc sống đạm bạc của gia đình anh và các cháu nhỏ, lòng tôi cảm phục con người này đã hy sinh sống bên lề rừng hẻo lánh bên đám dân nghèo. Nếu không có anh bạn này ở đây bày việc làm cho họ, những người dân quê vùng này chắc sẽ đói và phải bỏ làng đi ăn xin như những người hành khất tôi gặp khắp vỉa hè thành phố và chợ búa.
Anh bạn này chỉ mong mang về cho người dân quê có bát cơm ngay trước mắt. Dù biết là cả đám công nhân nông trường đó đang bị bóc lột công lao, và sản vật quê hương đang bị bán rẻ trên thị trường quốc tế trước mắt mình. Bỏ cấm vận sẽ xuất hiện thêm nhiều ông chủ mới to lớn hơn sắp nhập cuộc. Tôi hy vọng việc họ cạnh tranh nhau tìm lấy người công nhân giỏi, trên đường dài, sẽ phải nâng mức sống dân chúng lên và giá sản vật Việt Nam sẽ quân bình hơn với thế giới. Nỗi lo ngại của tôi là chuyên viên trong nước càng ngày càng rất hiếm có và trình độ lẫn kinh nghiệm vủa họ sẽ không đủ thỏa mãn đòi hỏi của những ông chủ mới cho những công việc mới sau này.
Tôi nhìn thấy sự nồng nhiệt chào đón chuyên viên ngoại quốc về của chính quyền trong nước, trong khi nhân tài sẵn có trong nước vẫn mới sử dụng một phần nhỏ khả năng thực sự của họ để làm những việc tương đối còn nhẹ trong nước đang làm. Đó chỉ là nhận xét cá nhân trong số nhỏ những người tôi đã được tiếp xúc. Tôi có cảm giác ngay cả những chuyên viên được tin cậy nhất họ cũng vẫn còn phải thận trọng trong lời nói việc làm. Sáng kiến vốn là điều hiếm có lại còn bị đóng hộp thì sáng kiến sẽ méo mó nép mình trong khuôn khổ. Ở hải ngoại khi làm việc bằng đầu óc chúng tôi được dạy phải tìm cách và tạo điều kiện để phá đổ tất cả những bức tường tâm thần (mental blocks). Những bức tường này là do những kinh nghiệm và lề thói cũ xây đắp trong đầu mình. Chúng cản trở khả năng sáng tạo của con người và gạt ra ngoài ý kiến khác biệt với nề nếp cũ. Người chuyên viên Việt Nam cần được phép hoàn toàn vượt thoát những bức tường tâm thần này để mạo hiểm khám phá những điều mới lạ từ mọi chân trời mang về sử dụng cho đất nước.
Con em trong các gia đình ở Việt Nam ít dám bàn với cha mẹ về những điều mà chúng nghĩ cha mẹ đang đi sai để né tránh đi. Người vợ không dám nói với chồng: "Ông đã làm tôi khổ lắm, tôi sẽ không chấp nhận ông được nữa!". Ông bố, hay người chồng này chỉ quát lên một tiếng là đứa con và bà vợ ngậm miệng chạy đi. Trong cơ cấu gia đình Việt Nam bây giờ, sự trao đổi ý kiến và bàn thảo với nhau như bị tắc nghẽn đã lâu. Cứ thế mà suy diễn ra tất cả các tắc nghẽn khác trong xã hội sẽ thấy mối nguy trong nước.
Ở Việt Nam việc dùng người không đúng chỗ, không tin cậy lâu ngày đã gây ra mặc cảm ngăn cách sâu đậm giữa người cũ và người mới. Đây là một trong những trở ngại nặng nề xã hội này tự kìm chế lấy bước tiến của mình. Mặc cảm này cần phải đánh đổ. Những người chuyên viên trong nước nên xây trong lòng niềm tự tin rằng chính mình mới thực sự biết việc trong nước; chỉ mình mới có đủ dữ kiện chính xác, mới phân biệt được chân giả, và chỉ có mình mới lập ra được các phương thức giải quyết khó khăn và mang tiến bộ cho xã hội chính con cái mình sống. Chuyên viên từ xa về, tuy có kỹ thuật, nhưng chỉ biết chắc chắn về điểm cần tiến đến. Phải là chuyên viên trong nước mới có kiến thức để xác định điểm khởi đầu. Phải có sự hợp tác của cả hai mới vẽ ra được quỹ đạo nối liền hai điểm một cách hợp tình hợp lý.
Về đời sống dân gian, đàn ông hút thuốc và uống rượu lan tràn. Họ mang thuốc ra mời nhau hút như một thói xã giao quy ước cho dân cả nước. Lạ nhất là "khách" phải mời "chủ" hút thuốc. Rượu "chủ" mời "khách" uống. Họ không chút áy náy khi mời nhau đốt thành khói công lao mồ hôi làm lụng của mình và vợ con mình. Họ không chút phân vân khi mời nhau uống đi những hớp rượu mà có thể đổi thành những giọt sữa hiếm hoi mà con cái của bạn bè mình khao khát. Còn sức khỏe thì sao? Tôi chợt nghĩ những dòng chữ cảnh cáo trên bao thuốc không viết bằng tiếng Việt nên họ không hiểu. Nghĩ lại nếu có viết ra tiếng Việt đi nữa nhiều người vốn không biết đọc thì hiểu làm sao. Nếu có đọc được và muốn ngưng hút đi nữa, áp lực xã hội và đời sống khó chế hãm. Chỉ có Dunhill, Marlboro vừa được đếm tiền vừa cười.
Tết VN thì phải có đốt pháo. Dù đã có lệnh cấm các cơ quan đốt pháo, tư nhân vẫn tha hồ đốt. Họ đốt gần một tiếng liên tục trong đêm giao thừa, khói bay vào nhà tới ngạt thở. Tới ngày mùng 4 Tết vẫn còn nổ lai rai. Nhiều loại pháo Trung Quốc thấy rõ rất nguy hiễm và có thể gây hỏa hoạn nhưng vẫn được phép đốt. Ai dám nói VN bây giờ thiếu tiền và thiếu tự do ?
Tết vẫn còn cổ tục biếu xén. Những thứ tôi mang về tặng họ hàng dường như có cánh bay biến hết. Họ hàng tôi biếu quách đi hết cả ngay chiều hôm đó. Các cháu tôi chỉ được nhìn. Mỗi một Việt kiều về thăm nhà là có vài ba thủ trưởng gần đó được "Tết". Lệ Tết này thật là tai hại cho những người vốn không đủ sống, mà quà Tết thì quá đắt so với đồng lương. Người mình dù đói nhưng sĩ diện vẫn còn nhiều và ơn cũ vẫn không quên.
Nếu cha con vợ chồng lắng nghe tôn trọng và tìm hiểu nhau hơn; nếu người ta biết bỏ thuốc lá, kiêng uống rượu, bới đốt pháo và đơn giản hóa việc biếu xén cho nhau thì con người Việt Nam sẽ bảo vệ sức khoẻ chính mình, tạo thêm hạnh phúc cho gia đình mình và đặt mối tương quan bè bạn, họ hàng, đồng nghiệp trên một căn bản thoải mái chính đáng h ơn. Những điều tệ hại này rõ ràng không ai bắt phải làm. Bỏ chúng đi không phải là việc leo sông vượt núi. Sao trong lòng người Việt kể cả những người trí thức, mô phạm, đạo đức nhất vẫn còn ngại núi e sông !
Trên quãng đường đất nước tôi đã đi qua, Blao, Gia Kiệm hiện lên một vẻ trù phú sung túc rất khác thường. Nhà cửa xây cất khang trang và đều nhau liên tiếp khắp hai bên đường. Thu hoạch từ đồn điền cà phê, cao su và chuối đã đãi ngộ dân vùng này hơn các miền khác của đất nước. Họ có thêm một khách sạn lớn cả ngàn phòng tuy tôi không hiểu để tiếp đón ai và một loạt cao ốc cho công nhân, không hiểu tại sao không xây nhà trệt cho bớt phí phạm. Mỗi block đường là có riêng một nhà thờ có lát đá quý. Tất cả đang được tu bổ sửa sang thêm.
Ưu tiên trong đời sống dân gian có một điều làm tôi kinh ngạc. Một buổi chiều về bỗng nhiên đường xá ít hẳn xe đi, người ta đổ xô ra đường đông nghẹt như dòng thác người cùng đi về một hướng với khí thế hăng say. Tôi tưởng có biểu tình chống đối gì đó. Sau mới hiểu là họ rủ nhau đi .. nhà thờ. Họ đi nhà thờ cả làng cùng một lúc. Nếu khí thế đó dùng vào việc chống tham nhũng, tệ đoan, độc tài, dốt nát, bè phái, lũng loạn hay bất cứ viên chức hay chính sách nào họ không thích thì chỉ một vài ngày đất nước chắc chắn "đổi mới" tức thì.
Ưu tiên trùng tu xây dựng cơ sở cộng đồng cũng làm tôi lo sợ. Khắp các nẻo đường đất nước tôi được đi gần 1000 km quan sát thấy, tiêu biểu trong làng quê, nhà thờ và chùa luôn luôn là những cơ sở được ưu tiên tân trang và có khi đã được xây thêm hoàn toàn mới. Tôi ước lượng theo tỷ lệ cứ nhà thờ 5, thì chùa 2 và nhà truờng 1. Ở đâu cũng thấy nhà thờ và chùa là những kiến trúc đáng kể nhất và được ưu tiên bảo vệ nhất trong làng. Đứng xa phía sau mới là phòng Nhân Dân Công An Phường, nơi lúc nào cũng được treo cờ xí khang trang. Còn nhà trường và bệnh xá chiếm những nơi khiêm tốn nhất, thường phải khép nép đàng sau khu dân cư buôn bán. Nếu có sự đóng góp từ hải ngoại vào các công trình đó thì ưu tiên của việc thực hiện càng cần nên suy xét lại. Việc làm được và được làm, có phải là việc đáng làm khẩn yếu hay không.
Tôi không thấy một ngôi trường, bệnh xá nào được dân chúng hay chính quyền chăm sóc tu bổ như nhà thờ, chùa hay phòng công an phường ở vùng họ ở. Nhìn những công trình công cộng tốn kém đó ngươì ta phải kết luận Đạo và Đảng đã thu hút hết sức đóng góp của dân làng vào việc xây dựng cơ sở cho Đảng và cho Đạo.
Phải chăng Đảng và Đạo đã ngầm đồng thuận nhau cho rằng đời sau quan hệ hơn đời này. Hay con không học thì chỉ chịu dốt, con không có chỗ cầu nguyện họp hành thì phải xuống hỏa ngục đáng sợ hơn. Hay họ qúa lo sợ đảng la, cha buồn, sư trách đến nỗi quên luôn nhu cầu trí tuệ của chính con cái mình.
Hiện giờ con trẻ sinh ra đã thiếu thốn dinh dưỡng còn mất cả cơ hội phát triển trí tuệ. Ưu tiên trong làng nhường phần lớn tài nguyên "trang điểm" cho việc giáo dục tâm linh. Các cha, các sư và Đảng không lẽ đã cùng nhau tạo dựng ra một xã hội như thế sao. Kết quả của 20 năm vừa qua của cả nước, ngày nay thể hiện trước mắt tôi phải giải thích thế nào? Thật khó có thể bào chữa cho các người có trách nhiệm với dân chúng, con chiên và tín hữu. Còn các hội đoàn từ thiện hải ngoại có trách nhiệm gì trong việc này ?
Tôi muốn được gặp Chúa và nhờ ngài viết thêm một điều răn nữa vào kinh thánh.
"Điều răn thứ 11: Phải xem việc chăm lo dạy dỗ con cái như việc thờ phượng kính mến Chúa vậy."
Được thế kẻ hoang đàng này cũng sẽ bằng lòng quỳ xuống chân ngài.
Phạm Phan Long
Tôi đã về thăm quê hương Tết Giáp Tuất vừa rồi. Chuyến bay Asiana về tới phi cảng Tân Sơn Nhất vào nửa đêm và tới trễ. Từ Hán Thành, Asiana dành ưu tiên cho các chuyến đi Hồng Kông và Tokyo. Hành khách các chuyến bay đó từ phòng đợi được bước ngay vào máy bay chân không chạm đất. Ngược lại khách về Việt Nam phải đi bộ ra xe buýt, tới chân máy bay, leo thang lên máy bay giữa đêm khuya lạnh buốt. So với Tokyo và Hong Kong, Asiana đánh giá thì giờ và du khách Saigon rẻ như đồng bạc ở đó vậy. (Dịch vụ Asiana trên không gian rất đáng khen nhưng không thể đền bù vào việc xảy ra dưới đất.)
Khi cửa phi cơ vừa mở ra, cái nóng ẩm của Saigon dội tát vào mặt người. Đứng dưới là một anh bộ đội lạnh lùng cau có nhìn lên. Không biết anh có ý dọa dẫm hay đó là cách anh thể hiện tâm trạng của kẻ thường xuyên không hài lòng điều gì. Tôi bước vào phòng hải quan trình giấy và từ phút đó bắt đầu tìm hiểu quê hương mình sau 20 năm xa cách bằng đôi mắt "Việt Kiều" mà tôi chắc là rất ngây ngô dưới ánh mắt đồng bào tôi. Một nhân viên hải quan trong sắc phục quát "chào" khách mới về. Tôi nghe mới biết người khách mới về đã lỡ dại hỏi mượn anh ta cây bút. Bút ở đây, đâu có dư mà cho mượn.
Sáng hôm sau dạo phố, tôi tự nhiên so sánh thành phố HCM hôm nay với Saigon ngày xưa trong ký ức tôi. Saigon bỗng như thu nhỏ lại một nửa. Nhà cửa đường xá hẹp hẳn đi, phố xá gần gũi nhau hơn. Tổng Thống Clinton vừa tuyên bố bãi bỏ cấm vận. Hà Nội kéo cờ Mỹ hoan nghinh. Nhiều người trong nước tưởng bức màn đen đã được tháo xuống và quê hương tôi từ nay chuyển mình với vận tốc nhanh. Đến mức sự vật co rút lại dưới mắt người xa xứ. Tuy thế người buôn bán tỏ sự lo ngại về chuyện tổng đại lý của các đại công ty sắp mở ra sẽ đảo lộn cuộc sống buôn thúng bán bưng của họ.
Saigon rất tương phản, lẫn lộn dấu vết bỏ phế hoang tàn, rêu phong cáu bẩn, hôi hám ứ đọng rác rưới với những bậc thang, rộng thênh thang cao dài bằng đá mài tráng lệ. Cửa kính những cao ốc đó lúc nào cũng khép kín, vừa giữ khí lạnh, vừa chia đôi hai dòng người Việt. Saigon đang được xây dựng lại. Nhiều nhà mới, khách sạn lớn chuẩn bị đón chào thế giới. Thắc mắc lớn đầu tiên của tôi là so với lợi tức của người chủ, tôi không thể suy diễn ra một giải thích hợp lý nào cho gia tài to lớn đó cả.
Những ngân hàng và doanh nghiệp tại VN đang chuyển mình "đổi mới" hoạt động kinh tế thị trường. Những người tôi tiếp xúc đều nói đến hiện đại hóa, áp dụng phương pháp kế toán Mỹ, nói đến thành lập phương cách thanh tra kiểm soát, và niềm háo hức nghiên cứu việc gia nhập thị trường chứng khoán. Những điều này tôi nghe và mong ước lắm vì trên đường dài sẽ đem trật tự lại cho một guồng máy hỗn loạn và dần dần sẽ giải tỏa được mối thắc mắc trong tôi.
Thủ tục kế toán tự nó thôi, chưa nói đến chính sách kinh tế bao trùm bên trên, hay guồng máy sản suất bên dưới, hay niềm tin của người đầu tư, không thay đổi dễ dàng và nhanh chóng như thế. Quán tính lề thói cũ đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian lẫn guồng máy chính quyền. Hai mươi năm ở miền Nam,và chắc đã lâu hơn nữa ở miền Bắc, việc buôn bán và quản lý hầu như không mấy ai trong dân gian cầm thứ giấy gì gọi là tấm hóa đơn thật đúng ý nghĩa của nó trong tay. Khi "khách" cần đến, họ nhận một nhưng lại đề lên hai ba lần tiền cho "khách" vui lòng. Tôi rùng mình bảo họ coi chừng. Khi bị đánh thuế lợi tức trên những số thu thổi phồng đó là họ chết. Tôi thầm lo cho các bạn chuyên viên tài chánh kế toán của tôi ở hải ngoại đang hăm hở nghĩ đến việc về nước lập hệ thống kế toán cho nền kinh tế VN. Thật là một việc đội đá vá trời.
Độc đáo nhất là trong việc giao nhận hàng, với cách làm sổ anh bạn tôi gọi là phương pháp "sổ ai nấy ghi". Làm việc cách này ai cũng vui lòng và sổ công ty nào cũng tốt cả. Tôi chứng kiến một người mua đồng hồ hỏi: "Đồng hồ này không có vi trùng chứ ?" Người bán trả lời: "Có vi trùng thì cứ đem trả lại không sao." Hai người mỉm cười vui vẻ kết thúc việc mua bán, trong khi tôi kinh ngạc vì không biết đồng hồ mình đang đeo thì sao và bảo đảm (product warranty) kiểu gì mà mới thế. Tôi chợt đoán nghĩ ra họ sợ đồng hồ điện tử sẽ có "virus" như trong máy vi tính vậy.
Saigon bây giờ thực là một nền kinh tế "lề đường", vì đó là nơi mà đồng tiền trao đổi nhiều nhất trong dân gian. Người ta dễ tính, ngồi xổm, ăn từng chén miến, húp từng tô mì, thổi từng bát phở, và tiện tay bỏ các thứ rác rưới xuống đất: nào xương, nút chai, vòng khuy mở lon nhôm (pop can rings) và tàn thuốc lá. Bỏ tất cả xuống dưới chân và đạp dí xuống đất là xong. Vỉa hè Saigon sẽ trở thành địa điểm khảo cổ và môi sinh đầy hứng thú cho Marlboro, BGI, Coca-Cola và Heineken.
Khách ngồi ăn chung quanh các quày bán hàng chật hẹp. Bếp khay bày biện rất thuận tiện, tất cả nằm trong tầm tay với của người chủ ngồi "vừa bán vừa nấu vừa thâu tiền". Mc Donald cần gởi chuyên viên sang Việt Nam để học cách làm "món ăn có liền" (fast food) kiểu "một người làm hết" (one man band) tại Việt Nam này và suy nghĩ cho thật kỹ trước khi nhảy vào thị trường mới mẻ 70 triệu người đó.
Chuyên viên kế toán ở hải ngoại cứ về mà bàn với các bà bán hàng rong việc làm sổ sách xem các họ nói sao. Nhớ rằng họ không biết đọc, không viết nổi tên mình, và chưa thấy cái máy tính tiền trong đời bao giờ. Một cái máy tính sẽ trị giá ngang quày tài sản của họ. Hay về nước tập cho guồng máy chính quyền đang tập tễnh làm kinh tế làm kế toán đi xem họ "đổi mới" ra sao. Nhớ rằng bạn đang đòi sờ đến "ruột tượng" của họ đấy nhé. Ai gan hơn nữa thì về hỏi xem sổ sách xem họ có còn đón tiếp bạn như "Việt kiều" nữa không. Những gì đơn giản hiển nhiên nhất ở hải ngoại vẫn có thể là vấn nạn hay quốc nạn tại VN bây giờ.
Tôi thuê xe ($40.00 một ngày bao xăng và tài xế) đi ra miền Trung, qua những đọan đường xóc ruột vì đất lở sau cơn lụt chưa sửa kịp. Cảnh vật miền quê dường như không đổi nhiều. Dân quê Hàm Tân, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Cà Ná, Cam Ranh, Ninh Chữ, Định Quán, Nha Trang đói hiện ra trên khuôn mặt. Những đứa bé bồng bế nhau ra hai bên quốc lộ và bờ biển. Chờ khách ăn xong chạy ra mót từng miếng ăn rơi rụng trên cát. Chúng bỏ nhanh miếng ăn thừa vào miệng mặc cát đất còn dính theo. Cát bám quanh môi không cần phủi. Chúng đã quá đói. Nếu phủi đi sẽ bị trẻ khác dành mất những miếng ăn còn lại. Chúng nuốt vào lòng ngon lành như các con chim hải âu đói vớ được miếng mồi. Đà Lạt bây giờ tiêu điều, thiếu màu sắc. Hoa cỏ thiếu phân bón quá lâu, sau 20 năm thoái hóa cành gladius đường kính chỉ còn lớn bằng nửa ngày xưa.
Đối với chính quyền khế ước dươi' $10 triệu đô la ở Việt Nam bây giờ được coi là nhỏ. Tôi thấy may mắn cho số nhỏ những người đã có việc làm trong 600 công ty tư doanh có ngoại quốc hùn hạp. Họ đồng lương khá. Còn lại đều rất thiếu thốn, chỉ nghĩ đến dân số 70 triệu người mong được cái may mắn tương đương đó. Dù là làm việc cho ai đi nữa.
Tôi gặp một thầy giáo tiểu học, lương được dưới $15 đô la một tháng. Đối với anh $10 đô la là lớn. Gia đình anh bây giờ cần $200 đô la hàng tháng để có thể đủ trả điện nước, xăng nhớt, chợ búa và học phí cho các con (bây giờ phải trả tiền). Anh ta vẫn bám lấy lớp học nghiệp chướng vì không đến trường "tớ sẽ nhớ học trò lắm". Về nhà, vợ chồng cùng các con tất cả cùng làm bánh, may vá, khuân vác, sửa chữa gần như làm bất cứ việc gì để bù đắp chi phí gia đình.
Tôi gặp một cô giáo cắm cúi may, $800 đồng VN (8 cents US) một áo để bù thêm cho chi phí gia đình. Khi có giỗ tiệc, chị không dám ăn no vì sợ hôm sau quen dạ không có sẽ đói sớm lâu no. Tôi gặp một kỹ sư 18 năm kinh nghiệm, người được đề cử phụ trách giữ máy Fax mới về của cơ quan như một đặc ân. Tôi tiếp xúc một người làm tại ngân hàng tư doanh, anh cho biết tiền lời quỹ tiết kiệm là 3% nếu là tiền đô la, 20% một năm nếu là đồng VN. Sự chênh lệch phản ảnh mức lạm phát trong nước và chính sách khuyến khích dân gian dùng tiền Việt. Tôi đọc một bài dịch về Hubbell telescope (viễn vọng kính không gian tốn hàng tỷ đô la của Mỹ bị hỏng vừa được phi thuyền lên chữa lại được) của Giáo Sư Đại Học Nguyễn Chung Tú trên một báo khoa học phổ thông. Bài viết như thế được trả vào khoảng $20.00 đô la nhuận bút. Tôi gặp rất nhiều người tha thiết muốn học môn vi tính. Tôi có cảm giác họ nghĩ rằng biết computer sẽ như có vé lên ăn trên ngồi trước.
Tôi tò mò hỏi thăm học trình và thăm dò lượng định kiến thức một số sinh viên đại học sắp ra trường. Trường chú ý dạy sinh viên về chi tiết các bộ phận nhỏ của máy móc như việc huấn luyện thợ sửa chữa. Họ không dạy theo giáo quy (học trình) kỹ thuật đại học hiện đại. Nếu đám trẻ tinh hoa nhất nước này chỉ được học có thế thôi thì quả là hai mươi năm giáo dục đã bị đẩy lùi về quá khứ mất đi một nửa thế kỷ. Tôi đau lòng mong đó chỉ là ác mộng và mong mình đã lầm lẫn vì đã lấy kết luận từ vài trường hợp ít ỏi không chính xác. Nhưng thực tại vẫn ám ảnh đeo đuổi theo tôi về tới bây giờ. Tài nguyên thiên nhiên rừng núi đốt phá chỉ biến mất đi và có thể dựng lại trong 20 năm. Kiến thức của một thế hệ người bị dồn ngược, họ không biến đi dễ dàng như thế mà sẽ lớn lên làm chứng nhân cho việc giáo dục lỗi lầm suốt 60 năm đời họ .
Tôi gặp một em bé gái bỏ nhà bỏ học đi ở trọ bán đậu phọng luộc ở bãi biển Nha Trang thu được tiền nuôi thân. Kiếm bằng lương cô giáo mà không cần học. Em nghĩ đi học để làm gì nữa? Tôi gặp một bé trai bỏ Hà Tĩnh vào Đà Lạt ngày đánh giày, đêm khiêng lò than nóng lang thang nướng mực. Nó cố kiếm tiền để gởi về nuôi mẹ yếu và ba em nhỏ . Nó khoe rằng, con heo nó mua năm trước cho mẹ nó, đã nặng được 50 ký. Bán đi sẽ đủ tiền gạo nhà ăn một mùa.
Tôi về miền quê nơi rừng núi, gặp một kỹ sư thủy lâm, năm 1975 được cho "về làm ruộng" và bây giờ được cho "coi nông trường". Anh ta nói với tôi rằng cũng cần hai mươi năm nữa mới dựng lại được rừng cây như xưa. Tôi nhăn mặt hỏi sao không chọn giống cây khác để rút ngắn giai đoạn, sớm có lợi tức. Anh cho biết đang nghiên cứu trồng cây Bạch Đàn chỉ trong ba năm sẽ trưởng thành. Nhìn cuộc sống đạm bạc của gia đình anh và các cháu nhỏ, lòng tôi cảm phục con người này đã hy sinh sống bên lề rừng hẻo lánh bên đám dân nghèo. Nếu không có anh bạn này ở đây bày việc làm cho họ, những người dân quê vùng này chắc sẽ đói và phải bỏ làng đi ăn xin như những người hành khất tôi gặp khắp vỉa hè thành phố và chợ búa.
Anh bạn này chỉ mong mang về cho người dân quê có bát cơm ngay trước mắt. Dù biết là cả đám công nhân nông trường đó đang bị bóc lột công lao, và sản vật quê hương đang bị bán rẻ trên thị trường quốc tế trước mắt mình. Bỏ cấm vận sẽ xuất hiện thêm nhiều ông chủ mới to lớn hơn sắp nhập cuộc. Tôi hy vọng việc họ cạnh tranh nhau tìm lấy người công nhân giỏi, trên đường dài, sẽ phải nâng mức sống dân chúng lên và giá sản vật Việt Nam sẽ quân bình hơn với thế giới. Nỗi lo ngại của tôi là chuyên viên trong nước càng ngày càng rất hiếm có và trình độ lẫn kinh nghiệm vủa họ sẽ không đủ thỏa mãn đòi hỏi của những ông chủ mới cho những công việc mới sau này.
Tôi nhìn thấy sự nồng nhiệt chào đón chuyên viên ngoại quốc về của chính quyền trong nước, trong khi nhân tài sẵn có trong nước vẫn mới sử dụng một phần nhỏ khả năng thực sự của họ để làm những việc tương đối còn nhẹ trong nước đang làm. Đó chỉ là nhận xét cá nhân trong số nhỏ những người tôi đã được tiếp xúc. Tôi có cảm giác ngay cả những chuyên viên được tin cậy nhất họ cũng vẫn còn phải thận trọng trong lời nói việc làm. Sáng kiến vốn là điều hiếm có lại còn bị đóng hộp thì sáng kiến sẽ méo mó nép mình trong khuôn khổ. Ở hải ngoại khi làm việc bằng đầu óc chúng tôi được dạy phải tìm cách và tạo điều kiện để phá đổ tất cả những bức tường tâm thần (mental blocks). Những bức tường này là do những kinh nghiệm và lề thói cũ xây đắp trong đầu mình. Chúng cản trở khả năng sáng tạo của con người và gạt ra ngoài ý kiến khác biệt với nề nếp cũ. Người chuyên viên Việt Nam cần được phép hoàn toàn vượt thoát những bức tường tâm thần này để mạo hiểm khám phá những điều mới lạ từ mọi chân trời mang về sử dụng cho đất nước.
Con em trong các gia đình ở Việt Nam ít dám bàn với cha mẹ về những điều mà chúng nghĩ cha mẹ đang đi sai để né tránh đi. Người vợ không dám nói với chồng: "Ông đã làm tôi khổ lắm, tôi sẽ không chấp nhận ông được nữa!". Ông bố, hay người chồng này chỉ quát lên một tiếng là đứa con và bà vợ ngậm miệng chạy đi. Trong cơ cấu gia đình Việt Nam bây giờ, sự trao đổi ý kiến và bàn thảo với nhau như bị tắc nghẽn đã lâu. Cứ thế mà suy diễn ra tất cả các tắc nghẽn khác trong xã hội sẽ thấy mối nguy trong nước.
Ở Việt Nam việc dùng người không đúng chỗ, không tin cậy lâu ngày đã gây ra mặc cảm ngăn cách sâu đậm giữa người cũ và người mới. Đây là một trong những trở ngại nặng nề xã hội này tự kìm chế lấy bước tiến của mình. Mặc cảm này cần phải đánh đổ. Những người chuyên viên trong nước nên xây trong lòng niềm tự tin rằng chính mình mới thực sự biết việc trong nước; chỉ mình mới có đủ dữ kiện chính xác, mới phân biệt được chân giả, và chỉ có mình mới lập ra được các phương thức giải quyết khó khăn và mang tiến bộ cho xã hội chính con cái mình sống. Chuyên viên từ xa về, tuy có kỹ thuật, nhưng chỉ biết chắc chắn về điểm cần tiến đến. Phải là chuyên viên trong nước mới có kiến thức để xác định điểm khởi đầu. Phải có sự hợp tác của cả hai mới vẽ ra được quỹ đạo nối liền hai điểm một cách hợp tình hợp lý.
Về đời sống dân gian, đàn ông hút thuốc và uống rượu lan tràn. Họ mang thuốc ra mời nhau hút như một thói xã giao quy ước cho dân cả nước. Lạ nhất là "khách" phải mời "chủ" hút thuốc. Rượu "chủ" mời "khách" uống. Họ không chút áy náy khi mời nhau đốt thành khói công lao mồ hôi làm lụng của mình và vợ con mình. Họ không chút phân vân khi mời nhau uống đi những hớp rượu mà có thể đổi thành những giọt sữa hiếm hoi mà con cái của bạn bè mình khao khát. Còn sức khỏe thì sao? Tôi chợt nghĩ những dòng chữ cảnh cáo trên bao thuốc không viết bằng tiếng Việt nên họ không hiểu. Nghĩ lại nếu có viết ra tiếng Việt đi nữa nhiều người vốn không biết đọc thì hiểu làm sao. Nếu có đọc được và muốn ngưng hút đi nữa, áp lực xã hội và đời sống khó chế hãm. Chỉ có Dunhill, Marlboro vừa được đếm tiền vừa cười.
Tết VN thì phải có đốt pháo. Dù đã có lệnh cấm các cơ quan đốt pháo, tư nhân vẫn tha hồ đốt. Họ đốt gần một tiếng liên tục trong đêm giao thừa, khói bay vào nhà tới ngạt thở. Tới ngày mùng 4 Tết vẫn còn nổ lai rai. Nhiều loại pháo Trung Quốc thấy rõ rất nguy hiễm và có thể gây hỏa hoạn nhưng vẫn được phép đốt. Ai dám nói VN bây giờ thiếu tiền và thiếu tự do ?
Tết vẫn còn cổ tục biếu xén. Những thứ tôi mang về tặng họ hàng dường như có cánh bay biến hết. Họ hàng tôi biếu quách đi hết cả ngay chiều hôm đó. Các cháu tôi chỉ được nhìn. Mỗi một Việt kiều về thăm nhà là có vài ba thủ trưởng gần đó được "Tết". Lệ Tết này thật là tai hại cho những người vốn không đủ sống, mà quà Tết thì quá đắt so với đồng lương. Người mình dù đói nhưng sĩ diện vẫn còn nhiều và ơn cũ vẫn không quên.
Nếu cha con vợ chồng lắng nghe tôn trọng và tìm hiểu nhau hơn; nếu người ta biết bỏ thuốc lá, kiêng uống rượu, bới đốt pháo và đơn giản hóa việc biếu xén cho nhau thì con người Việt Nam sẽ bảo vệ sức khoẻ chính mình, tạo thêm hạnh phúc cho gia đình mình và đặt mối tương quan bè bạn, họ hàng, đồng nghiệp trên một căn bản thoải mái chính đáng h ơn. Những điều tệ hại này rõ ràng không ai bắt phải làm. Bỏ chúng đi không phải là việc leo sông vượt núi. Sao trong lòng người Việt kể cả những người trí thức, mô phạm, đạo đức nhất vẫn còn ngại núi e sông !
Trên quãng đường đất nước tôi đã đi qua, Blao, Gia Kiệm hiện lên một vẻ trù phú sung túc rất khác thường. Nhà cửa xây cất khang trang và đều nhau liên tiếp khắp hai bên đường. Thu hoạch từ đồn điền cà phê, cao su và chuối đã đãi ngộ dân vùng này hơn các miền khác của đất nước. Họ có thêm một khách sạn lớn cả ngàn phòng tuy tôi không hiểu để tiếp đón ai và một loạt cao ốc cho công nhân, không hiểu tại sao không xây nhà trệt cho bớt phí phạm. Mỗi block đường là có riêng một nhà thờ có lát đá quý. Tất cả đang được tu bổ sửa sang thêm.
Ưu tiên trong đời sống dân gian có một điều làm tôi kinh ngạc. Một buổi chiều về bỗng nhiên đường xá ít hẳn xe đi, người ta đổ xô ra đường đông nghẹt như dòng thác người cùng đi về một hướng với khí thế hăng say. Tôi tưởng có biểu tình chống đối gì đó. Sau mới hiểu là họ rủ nhau đi .. nhà thờ. Họ đi nhà thờ cả làng cùng một lúc. Nếu khí thế đó dùng vào việc chống tham nhũng, tệ đoan, độc tài, dốt nát, bè phái, lũng loạn hay bất cứ viên chức hay chính sách nào họ không thích thì chỉ một vài ngày đất nước chắc chắn "đổi mới" tức thì.
Ưu tiên trùng tu xây dựng cơ sở cộng đồng cũng làm tôi lo sợ. Khắp các nẻo đường đất nước tôi được đi gần 1000 km quan sát thấy, tiêu biểu trong làng quê, nhà thờ và chùa luôn luôn là những cơ sở được ưu tiên tân trang và có khi đã được xây thêm hoàn toàn mới. Tôi ước lượng theo tỷ lệ cứ nhà thờ 5, thì chùa 2 và nhà truờng 1. Ở đâu cũng thấy nhà thờ và chùa là những kiến trúc đáng kể nhất và được ưu tiên bảo vệ nhất trong làng. Đứng xa phía sau mới là phòng Nhân Dân Công An Phường, nơi lúc nào cũng được treo cờ xí khang trang. Còn nhà trường và bệnh xá chiếm những nơi khiêm tốn nhất, thường phải khép nép đàng sau khu dân cư buôn bán. Nếu có sự đóng góp từ hải ngoại vào các công trình đó thì ưu tiên của việc thực hiện càng cần nên suy xét lại. Việc làm được và được làm, có phải là việc đáng làm khẩn yếu hay không.
Tôi không thấy một ngôi trường, bệnh xá nào được dân chúng hay chính quyền chăm sóc tu bổ như nhà thờ, chùa hay phòng công an phường ở vùng họ ở. Nhìn những công trình công cộng tốn kém đó ngươì ta phải kết luận Đạo và Đảng đã thu hút hết sức đóng góp của dân làng vào việc xây dựng cơ sở cho Đảng và cho Đạo.
Phải chăng Đảng và Đạo đã ngầm đồng thuận nhau cho rằng đời sau quan hệ hơn đời này. Hay con không học thì chỉ chịu dốt, con không có chỗ cầu nguyện họp hành thì phải xuống hỏa ngục đáng sợ hơn. Hay họ qúa lo sợ đảng la, cha buồn, sư trách đến nỗi quên luôn nhu cầu trí tuệ của chính con cái mình.
Hiện giờ con trẻ sinh ra đã thiếu thốn dinh dưỡng còn mất cả cơ hội phát triển trí tuệ. Ưu tiên trong làng nhường phần lớn tài nguyên "trang điểm" cho việc giáo dục tâm linh. Các cha, các sư và Đảng không lẽ đã cùng nhau tạo dựng ra một xã hội như thế sao. Kết quả của 20 năm vừa qua của cả nước, ngày nay thể hiện trước mắt tôi phải giải thích thế nào? Thật khó có thể bào chữa cho các người có trách nhiệm với dân chúng, con chiên và tín hữu. Còn các hội đoàn từ thiện hải ngoại có trách nhiệm gì trong việc này ?
Tôi muốn được gặp Chúa và nhờ ngài viết thêm một điều răn nữa vào kinh thánh.
"Điều răn thứ 11: Phải xem việc chăm lo dạy dỗ con cái như việc thờ phượng kính mến Chúa vậy."
Được thế kẻ hoang đàng này cũng sẽ bằng lòng quỳ xuống chân ngài.
Phạm Phan Long
Vẻ Vang Bè Bạn - Anh Tê
Cái Ni
Tôi nghe tiếng anh T. từ khi còn học ở trung học. Anh là học sinh ưu tú của trường Pétrus Ký. Anh T là học trò cưng của các thầy và đúng như lời ông Tổng giám thị Khiêm tuyên bố ở buổi lễ phát phần thưởng cuối năm, anh là mầm non của đất nước. Lúc sang đến Tân Tây Lan, chả bao giờ được diện kiến anh vì anh ở đảo bắc, tôi ở đảo nam. Lúc tôi lên đảo bắc chơi thì anh T lại đi làm xa.....Cho mãi đến năm 1980, chúng tôi đi tìm nhà hàng đặt tiệc cưới ở phố tầu Los Angeles thì tình cờ chạm trán anh T, (từ bây giờ tôi gọi là anh Tê vì đã có chị Tê), và dĩ nhiên anh chị Tê là thượng khách Ex-Kiwis duy nhất dự tiệc cưới của chúng tôi. Từ đó anh và ông xã tôi trở thành bạn tâm giao; nhất là chúng tôi lại ở cùng chung một thành phố. Từ nhà tôi đến nhà anh đi qua 5 con đường lớn. Nhà anh chị Tê ở do chính anh vẽ kiểu và xây lấy, có ocean view. Mùa hè các kiều nữ Mỹ đua nhau khoe áo tắm và đi trượt nước trước nhà anh; chả thế mà mới có một mùa hè đến làm việc phụ giúp anh, ông xã tôi đã phải thay kính cận đến 2 lần!!!
Chơi thân với anh mới thấy năng suất làm việc của anh... thần sầu. Có hôm 5 giờ sáng tỉnh giấc điệp, chị Tê tìm mãi không thấy anh, bèn điện thoại lại nhà tôi, chị hoảng hốt khi nghe ông xã tôi trả lời, giọng chị lạc hẳn đi, chị vội hỏi: "Ông xã tôi đâu anh? " Khi được biết là anh Tê vẫn còn thức thâu đêm suốt sáng để làm việc ở nhà anh Hai Néo (cấm đọc lái), và có lẽ muốn xong project sớm, anh còn phải làm thêm một ngày và thức thêm một đêm nữa! Anh Tê hăng say làm việc thế nào thì cũng hăng say...enjoy life thế ấy! Năm 1989 chúng tôi bắt đầu theo anh chị đi cắm trại. Anh chị Tê đã hoạch định bao tháng trời mới có được ngày hôm ấy. Chúng tôi đã đem lều, sleeping bags, nồi niêu, soong chảo và vali lên máy bay, bay tuốt qua tiểu bang Hoa thịnh Đốn.
Du D.C có 2 ngày và du New York một cách thật vội vàng, anh Tê trực chỉ lái xe van suốt đêm để đúng 6 giờ sáng cắm trại ở camp Nickleson, Cape Cod (Massachusetts). Chúng tôi mê trại này, trại đẹp và rất sạch sẽ. Bãi biển Chatham cát trắng mịn và không một gợn sóng, 3 cháu bé vui chơi thật thỏa thích. Thêm vào đó bãi biển có những chú sam (horseshoe crab) bò trốn trong cát làm tôi nhớ lại thuở ấu thời chạy đuổi bắt những con dã tràng xe cát ở bãi biển Nha Trang yêu dấu. Chúng tôi đi dạo thành phố du lịch này thật thoải mái. Tôi còn nhớ có hôm mua được tôm càng lớn, ngon và thật rẻ so với ở Cali, chúng tôi đã có... breakfast với lobster, luch cũng lobster và tối thì... tuyệt ! Lobster nướng với sauce mayonaise....thật đúng là " the ultimate seafood experience "!
Nhổ trại này anh Tê lại lái xe van suốt ngày đến bờ thác Niagara, bên phía Canada. Dựng trại xong thì trời vừa tối, chúng tôi đành phải đi ngủ sau một cuộc hành trình dài. Sáng hôm sau chúng tôi đã đi tour đến thác Niagara. Đứng trước cảnh trí hùng vĩ này, tôi nhớ lại Charles Dickens đã viết về Niagara falls :.....It was not until I came to Table Rock and looked, great heaven, on what a fall of bright green water, that it came upon me in its full might and majesty....Niagara was at once stamped upon my heart, an image of beauty, to remain there changeless and indelible, until its pulses cease to beat forever, certainly it's a natural wonder, mesmerizing travelers from around the world ! "....
Chúng tôi đi đủ nơi, từ Table Rock, Scenic tunnels lên Spanish Aerocar nhưng phải kể đến cảnh fantastic voyage ở trên tầu "Maid of the Mist", ai nấy sẵn sàng for an exhilarating trip. Chiếc tầu này đưa chúng tôi ra đến chân thác để nghe tiếng gầm thét oai hùng của American Falls va Horseshoe Falls. Con tầu đi gần thác đến độ hơi nước lạnh mơn trớn mặt mình một cách thật thích thú và cảnh cầu vồng đủ 7 mầu: đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím hiện ra trước mắt. Đẹp và hùng vĩ đến độ ông xã tôi phải phát ngôn :"nếu chưa đi tầu Maid of the Mist này thì kể như chưa biết thác Niagara!!!!". Năm đó chúng tôi dự 2 ngày lễ Độc Lập, July 1st ở bên Canada. Tôi không bao giờ quên được cảnh ngắm pháo bông bên bờ thác Niagara. Hơi nước của horseshoe Falls bay mù trời, tự dưng hiện ra những đợt pháo bông đua nhau khoe mầu sắc trong tiếng thác reo vang....Tôi không làm sao diễn tả được cảnh này trên giấy trắng mực đen. Tôi mong rằng các bạn có một ngày nào đó cũng đến đấy thưởng thức cảnh trí tuyệt mỹ này.
Trên đường trở về D.C., anh Tê ghé đến ngũ hồ, thời tiết mát dịu nên chúng tôi đã dừng lại picnic bên Đại hồ và anh Tê nhất định đưa chúng tôi đến Upper Lake Shipping Dock. Tại đây tôi được chứng kiến cảnh di chuyển một chiếc tầu khổng lồ ở Lower Lake lên Upper Lake. Đây là lần đầu tiên được nhìn tận mắt quang cảnh làm thế nào cho 2 mực nước của 2 hồ ngang nhau để chuyển tầu từ hồ thấp lên hồ cao hay ngược lại. Thật đúng là "hearing something 100 times is not as good as seeing it once". Chúng tôi rời thủ đô Hoa thịnh Đốn để bay về. Trên đường từ phi trường Los Angeles về nhà, lại một lần nữa pháo bông đua nhau trên bầu trời Cali...vì đúng là ngày lễ Độc lập Mỹ quốc (July 4th) ; nhưng vì tất cả đã mỏi mệt và cảnh trí không được nên thơ cho lắm nên chúng tôi.....chả ham!
Chuyến đi này tôi được học hỏi về thế thời, danh điạ của lịch sử Hoa Kỳ cà cũng được sáng mắt ra nhiều. Đi chơi với chị Tê mới biết chị có nhiều biệt tài. Chị rất chu đáo, gọn gàng và ngăn nắp. Phải đi chợ mua sắm nấu nướng, chị nghĩ đến người quanh chị, chị luôn luôn :
Điều ăn uống phải hỏi han tùy thích
Lòng người ước chim, gà, cá, thịt.
Của nên ăn dù đắt cũng mua,
Tùy người ưa thích ngọt chua
Nhưng gia vị phải mong cho đủ mùi...
Chị nấu ăn nhanh, gọn và...thật ngon. Đi cắm trại với chị hôm nào cũng được ăn cơm nóng nấu trên bếp lò gas nhỏ xíu, bữa ăn bao giờ cũng phải có đĩa salad, tô canh và một món chính....Đi với chị...chả bao giờ sợ đói, chị sắm đủ thứ đem theo...y như một cái bếp lưu động vậy. Tính tình chị thật hiền hậu, dễ mến...
Từ bạn bè, láng giềng, hàng xóm Chị ở sao cho trong ấm, ngoài êm Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm.. Chị chẳng khinh ai mà cũng chẳng hiềm oán ai Công, dung, ngôn, hạnh là tiên phàm trần...đúng chị Tê của tôi.
Chị là hoa khôi của trường Đồng Khánh. Chị thật trang nhã, mệt đến đâu mà gặp chị, thấy vẻ tươi mát của chị... là hết mệt ngay. Chả thế mà anh Tê đã một thời phải lận đận, long đong ghê lắm mới lọt vào đôi mắt bồ câu của chị! Chuyến đi đầu đời của tôi là thế. Mệt nhưng thật vui và có rất nhiều kỷ niệm. Từ đó về sau tôi đâm ra mê cuộc đời du mục này. Có những ngày lễ lớn, tôi lại thuyết phục anh chị Tê và ông xã tôi cho đi cắm trại..."local" lái xe độ chừng 3, 4 tiếng...xa hẳn những nhọc nhằn của thành phố....để thoải mái vui với thiên nhiên.
Anh Tê là người rất thơ mộng và có tấm lòng....đại bác! Năm nào anh cũng có 1 tuần lễ đi chơi riêng với bà xã và cháu Anne ở những nơi thiếu vắng dấu chân người như những hòn đảo Hạ Uy Dị... Và khi trở về anh đã "bác ái" hoạch định chương trình 9 ngày đi chơi chung với các bạn camping...Không "đại bác " sao được, dù bận rộn với công việc, anh cũng đã bỏ bao nhiêu giờ lo book trại, thuê xe van và tìm đủ những thắng cảnh đến viếng thăm. Chả thế mà anh đã điện đàm với gia đình anh Mai anh Tuấn - Diệu Hạnh hơn một năm trời mới có được ngày hạnh ngộ vào trung tuần tháng 7, 1991. Tôi rất mừng gặp lại chị Diệu Hạnh sau bao năm xa cách, chúng tôi chuyện trò không dứt. Chị là một trong số hoa hậu nổi tiếng của xứ đất lành chim đậu miền biển dài của thập niên 70. Chúng tôi nhớ lại bao kỷ niệm của một thời :
Làm hoa cho người ta hái,
Làm gái đẹp cho nhiều anh mê là...chị !!!"
Thế mới biết tài của anh Tuấn, lọt vào mắt biếc của chị đâu phải dễ. Anh Tê plan một chuyến du lịch bắc Cali thật hoàn mỹ, trên xe van loại extended chứa 3 gia đình gồm 6 người lớn và 5 trẻ em: Tường, Tiến, Anne, Đạt và Mai Lan cùng hành trang: 3 lều và...11 cái sleeping bags...sửa soạn cho cảnh ngủ rừng, ngủ bụi, màn trời chiếu đất!!! Anh TÊ đã khéo liên lạc trước nên khi đến Carmel, một thành phố được mệnh danh là honeymoon spot, chúng tôi được gia đình anh Nghệ - Vân Anh cùng 2 cháu Thu Anh và Lan Anh đón tiếp rất nồng hậu. Dưới sự hướng dẫn rất ư là hiếu khách của anh Nghệ, chúng tôi đã dừng lại rất nhiều thắng cảnh thật nên thơ và kỳ thú của miền bắc Cali...Bao giờ anh Nghệ, chị Vân Anh ghé nam Cali, nhớ cho chúng tôi đáp lễ đấy nhé. Tài lái xe của anh Tê phải liệt vào hạng nhất thế giới. Anh dám lái chiếc xe van lớn trên con đường "The crookedest street in the world ở San Francisco". Ông cảnh sát Mỹ đã lé mắt và hồi hộp đứng nhìn chiếc xe van to lớn do anh Tê điều khiển, hết né bên này, tránh bên nọ...và xuống đến nơi thật an toàn, ông ta phục lăn, suýt nưã gắn huy chương vàng cho anh. Còn anh Tuấn và ông xã tôi xuống đến nơi nhìn lên, sợ...toé khói, than tại sao mình dám đem giao tính mạng vào bàn tay anh Tê! Tôi chả ngán, được đi một phen hồi hộp như xem phim Hitchcock lại đâm ra thú vị, tôi phục anh Tê lia liạ...
Chúng tôi cắm trại, ngủ lều ở Yosemite National Park 3 ngày, 3 đêm. Sáng đi hiking, ngắm phong cảnh hưũ tình, chiều về ăn uống và tối đốt lửa trại.. cuộc sống thật thi vị. Chuyến hiking cuối cùng của cuộc hành trình dùng lại Sequoia National Park....trẻ con, người lớn đều cảm thấy thật thích thú khi nhìn tận mắt những cây redwood đồ sộ sống hơn mấy ngàn năm mà vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Buổi chia tay nào cũng có nhiều luyến tiếc cho cuộc vui quá ngắn...nhưng có lẽ chị Diệu Hạnh cảm thấy du Cali đủ lắm rồi vì theo chị...đi vacation gì mà chạy như ma đuổi thế này!
Chị bảo: "Đi là đi, là đi, đi nhiều quá trời !"
Tôi xin thưa: "Đi là đi, là đi, đi nhiều mới dzui..."
Từ đó gia đình chúng tôi may mắn được nhập hội "du hí " lành mạnh của anh Tê, nên năm nào chúng tôi cũng được anh chị gọi đi chung. Anh Tê đã cho chúng tôi những chuyến du Grand Canyon ngoạn mục. Thượng Đế đã biệt đãi tiểu bang Arizona, vẽ một bức tranh tuyệt hảo mà chả có nơi nào trên thế giới có được cảnh "đất nổi" như thế này! Chúng tôi đã theo lệnh anh Tê, đúng 5 giờ sáng lên xe anh chở đến South Rim ngắm cảnh mặt trời mọc. Ánh nắng bình minh nhạt nhoà chiếu lên những mỏm đá rọi cho ta thấy đủ mầu sắc..tuyệt đẹp. Anh Tê đã để máy ảnh tự động chụp những tấm hình kỷ niệm thật...đáng gía, tấm ảnh mà chả ai muốn xem lại vì...đã có ai có giờ...make up đâu!!!!.
Rồi đến cảnh lênh đênh trên houseboat ở lake Powell thật nên thơ. Có thể nói đây là một cái hồ đẹp và lạ nhất thế giới, chung quanh hồ ít cây xanh nhưng cảnh những tảng đá đỏ hình dáng, sắc thái dị biệt đã làm cho lake Powell đẹp một cách huyền bí, kỳ dị... Tầu càng đi, cảnh chung quanh càng đổi lạ; đến nhìn được Rainbow bridge mới thấy công trình kiến trúc của tạo hoá thật hoàn hảo. Vì đúng là ngày rằm tháng tám, chị Tê đã ngạc nhiên chúng tôi với 2 hộp bánh Trung thu chị đem theo. Chả còn bút nào tả được cảnh bên bờ lake Powell, vừa đốt lửa trại, vừa ăn bánh trung thu, vừa ngắm trăng vừa nghe chuyện cổ tích Việt Nam...thật chả còn gì thú bằng..July 4th năm ngoái anh Tê đã rủ đi Utah và rồi lái xe van lên tuốt tiểu bang Wyoming để đến Yellowstone National Park cắm trại. Chúng tôi vừa đến cổng trại thì một cơn mưa đá rơi tới tấp....Ngồi trong xe, ai nấy buồn so. Chúng tôi đành phải cắm trại trong cơn mưa, nấu ăn dưới mưa... Ăn xong mọi người mới cảm thấy cái rét của rừng sâu và hơi lạnh của nước mưa nên ai cũng vội về lều cho ấm áp.
Sáng tỉnh dậy nhìn ra thấy các lều bên cạnh tuyết phủ trắng xoá, trên các cây thông tuyết rơi không đều, chỗ trắng của tuyết, chỗ xanh của cây trông thật ngoạn mục. Chuyến du này chúng tôi được dịp mua sắm áo lạnh vì có ai ngờ bầu trời mùa hè sao có tuyết ?!! Yellowstone nổi tiếng với trăm ngàn suối nước nóng. Có những ngọn suối phun cao ngất trời, có suối chỉ xì xào to nhỏ rồi im bặt, có suối bực mình, phụt lên rồi tắt lịm...Đi đâu cũng thấy vẻ nóng bỏng của lòng đất. Đặc biệt có ngọn suối nước nóng Old Faithful Geyser đã trung thành với Thượ ng Đế hằng bao thế kỷ và là ngọn suối phun.......rất đúng giờ...Nhìn những tia nước phẫn nộ nứt từ lòng đất ấm phun lên cao ngất trời, gầm thét xé tan bầu không khí tĩnh mịch này, tôi liên tưởng đến sự trung thành, kiên gan của đàn bà Việt Nam đã vùng dậy phẫn nộ gào thét chống lại cảnh "chồng chúa vợ tôi".
Vì trại dựng ngay sát Yellowstone Lake, trong nhóm đã phát sinh rất nhiều....ngư ông và nhiều nhân tài: tài câu cá, tài làm cá, tài chiên cá, tái hấp cá, tài nướng cá và tài...ăn cá. Nghe sợ đến mọc vẩy phải không quý vị? Hơn thế nữa, chúng tôi còn có chuyên viên nấu chè. Mỗi tối chị nấu một nồi chè khác nhau, 9 ngày đi, chín món chè...ăn cứ ngọt như đường cát mát như đường phèn.... Xuất sắc nhất trong nhóm là anh trưởng ban ẩm thực. Anh mà nấu ăn thì liền bà con gái như tôi phải đi ra chỗ khác chơi ngay..; chỉ có chị Tê là được anh tuyển chọn vào phụ giúp anh!!! Đi chơi với anh Tê được cái thú là chả phải lo gì. Này nhé, sáng sớm ra khỏi lêù đã thấy anh ngồi với ly cà phê và đang nghiên cứu bản đồ để hoạch định chương trình cho một ngày vui. Chả thế mà anh còn cho chúng tôi đi hiking lên Inspiration point, về Artist point; đến Grand Titon lại được đi rafting dọc con sông Snake River ngoằn ngoèo có một không hai...Anh Tê rất khôn khéo, đã dự tính sẵn cuộc hành trình nhưng anh vẫn làm bộ trưng cầu ý kiến của mọi người. Biết ý anh, tôi chả bao giờ làm anh phật lòng. Được hỏi đến tôi chỉ thưa:
Anh làm sao, tôi làm vậy
Anh làm bậy, tôi làm theo !!!
Anh Tê có cái thú lái xe va thú ngắm chị Tê bằng kính chiếu hậu. Nhiều lần nhìn anh miệt mài với tay lái, tôi cảm thấy bất lực và bất tài, đã phải buột miệng đòi :"cho ngộ lái một chút đi, ngộ chưa được lái, ngộ lái giỏi lắm mà...." Nhưng chả bao giờ anh dám trao tay lái cho tôi, anh còn bảo " đàn bà con gái không dược lái, để đàn ông lái cho" (có thật thế không hả quý vị ???)
Con người của anh Tê thật đúng sách vở....Đọc báo thấy giá biểu tăng tiền tip đến 12% anh áp dụng 100% ngay. Thậm chí có lần vào 1 tiệm ăn tầu ở San Francisco, nhìn anh cho tip $20.00 tôi đã hỏi " sao cho nhiều thế?' anh bảo 12% mờ...Tôi trả lời 12% là ở tiệm ăn Mỹ kìa, chứ ở phố tầu làm gì tới...Anh chả để tôi yên, anh bảo : ' sao chị kỳ thị thế? Chị coi thằng dân Á châu rẻ hơn thằng Mỹ à?...Tôi trả lời:" nhìn thằng Á châu cắp nách bó đũa thế kia là đã thấy rẻ rồi ông ạ!!!( hẳn anh Mai-anh-Tuấn còn nhớ?)
Tôi có dịp phỏng vấn vài người bạn và được biết thêm về anh Tê. Đã có lần anh âu yếm nhìn chị Tê hỏi một câu mà chị phải cau mày quay đi chỗ khác..:"em là người Huế sao em không keo?" And better yet to her "you tell me what you want and I tell you what you can have !" cũng có lần anh hỏi ông xã tôi : "mày có lai Jew không ? Sao giống Jew qúa vậy? " ông xã tôi nhìn tôi hỏi ý kiến, tôi đành quay mặt đi làm như chưa hề quen biết....Anh Tê chơi môn thể thao nào cũng phải đọc sách, học thầy như nghiên cứu kỹ bằng tất cả passion và all out effort. Deadly serious and steely disciplined. One of his closest friend nhận xét về Tê là người làm gì cũng lật đật, nhanh nhẩu và....làm trật. This friend still wonders how the hell Tê managed to win the heart of a beauty queen completely out of his reach like....his wife!!! Anh Long cho biết anh Tê là người mê xe hơi nhưng vẫn chưa bao giờ cho phép mình nghĩ đến việc làm chủ một chiếc "performance car". Tuy thế năm nào anh cũng đi car show. For your information, in the same way, năm nào cũng đi Las Vegas coi show. Hope you get it! Tê là người deliver jokes that are not funny. He most likely to get himself in trouble because of his mouth. Bạn Ex-Kiwis ai cũng là gentlemen and will try to be there for friends, Tê is different, he is always there for friends. Those who know Tê think he is closest to be the perfect gentlement that exists on planet earth.
Ai nói gì về anh Tê tôi xin ghi lại để các bạn tự do.....suy tưởng. Riêng gia đình tôi rất qúy mến anh chị Tê. Cuộc sống của chúng tôi rất có ý nghĩa từ ngày thân với anh chị. Đi chơi tôi luôn luôn nhắc nhở con trai tôi là phải nghe lời và học hỏi ở bác Tê trai, bác giỏi lắm, bác biết nhiều lắm....đủ thứ trên đời! Bây giờ thì bác Tê trai là thần tượng của thằng cháu Đạt và chả phải nói, con bé Mai Lan nhà tôi lúc nào cũng ngưỡng mộ vẻ đẹp tươi mát và cách phục sức trang nhã, lịch sự của bác Tê gái. Anh Long nói kỳ này tờ 7ND có mục mới "Mục vẻ vang bè bạn", tôi mới dám viết về anh đấy anh Tê ạ. Mong anh thông cảm. Tối nay đứng ở sân quần vợt đợi ông xã tôi, chắc thế nào anh Tê cũng phải tê tái rủa thầm:
" Đêm buốt lạnh trong tim
Đứng trên sân court vắng
Rủa thầm thằng bạn đời có vợ sao....ác ôn !!"
Tôi nghe tiếng anh T. từ khi còn học ở trung học. Anh là học sinh ưu tú của trường Pétrus Ký. Anh T là học trò cưng của các thầy và đúng như lời ông Tổng giám thị Khiêm tuyên bố ở buổi lễ phát phần thưởng cuối năm, anh là mầm non của đất nước. Lúc sang đến Tân Tây Lan, chả bao giờ được diện kiến anh vì anh ở đảo bắc, tôi ở đảo nam. Lúc tôi lên đảo bắc chơi thì anh T lại đi làm xa.....Cho mãi đến năm 1980, chúng tôi đi tìm nhà hàng đặt tiệc cưới ở phố tầu Los Angeles thì tình cờ chạm trán anh T, (từ bây giờ tôi gọi là anh Tê vì đã có chị Tê), và dĩ nhiên anh chị Tê là thượng khách Ex-Kiwis duy nhất dự tiệc cưới của chúng tôi. Từ đó anh và ông xã tôi trở thành bạn tâm giao; nhất là chúng tôi lại ở cùng chung một thành phố. Từ nhà tôi đến nhà anh đi qua 5 con đường lớn. Nhà anh chị Tê ở do chính anh vẽ kiểu và xây lấy, có ocean view. Mùa hè các kiều nữ Mỹ đua nhau khoe áo tắm và đi trượt nước trước nhà anh; chả thế mà mới có một mùa hè đến làm việc phụ giúp anh, ông xã tôi đã phải thay kính cận đến 2 lần!!!
Chơi thân với anh mới thấy năng suất làm việc của anh... thần sầu. Có hôm 5 giờ sáng tỉnh giấc điệp, chị Tê tìm mãi không thấy anh, bèn điện thoại lại nhà tôi, chị hoảng hốt khi nghe ông xã tôi trả lời, giọng chị lạc hẳn đi, chị vội hỏi: "Ông xã tôi đâu anh? " Khi được biết là anh Tê vẫn còn thức thâu đêm suốt sáng để làm việc ở nhà anh Hai Néo (cấm đọc lái), và có lẽ muốn xong project sớm, anh còn phải làm thêm một ngày và thức thêm một đêm nữa! Anh Tê hăng say làm việc thế nào thì cũng hăng say...enjoy life thế ấy! Năm 1989 chúng tôi bắt đầu theo anh chị đi cắm trại. Anh chị Tê đã hoạch định bao tháng trời mới có được ngày hôm ấy. Chúng tôi đã đem lều, sleeping bags, nồi niêu, soong chảo và vali lên máy bay, bay tuốt qua tiểu bang Hoa thịnh Đốn.
Du D.C có 2 ngày và du New York một cách thật vội vàng, anh Tê trực chỉ lái xe van suốt đêm để đúng 6 giờ sáng cắm trại ở camp Nickleson, Cape Cod (Massachusetts). Chúng tôi mê trại này, trại đẹp và rất sạch sẽ. Bãi biển Chatham cát trắng mịn và không một gợn sóng, 3 cháu bé vui chơi thật thỏa thích. Thêm vào đó bãi biển có những chú sam (horseshoe crab) bò trốn trong cát làm tôi nhớ lại thuở ấu thời chạy đuổi bắt những con dã tràng xe cát ở bãi biển Nha Trang yêu dấu. Chúng tôi đi dạo thành phố du lịch này thật thoải mái. Tôi còn nhớ có hôm mua được tôm càng lớn, ngon và thật rẻ so với ở Cali, chúng tôi đã có... breakfast với lobster, luch cũng lobster và tối thì... tuyệt ! Lobster nướng với sauce mayonaise....thật đúng là " the ultimate seafood experience "!
Nhổ trại này anh Tê lại lái xe van suốt ngày đến bờ thác Niagara, bên phía Canada. Dựng trại xong thì trời vừa tối, chúng tôi đành phải đi ngủ sau một cuộc hành trình dài. Sáng hôm sau chúng tôi đã đi tour đến thác Niagara. Đứng trước cảnh trí hùng vĩ này, tôi nhớ lại Charles Dickens đã viết về Niagara falls :.....It was not until I came to Table Rock and looked, great heaven, on what a fall of bright green water, that it came upon me in its full might and majesty....Niagara was at once stamped upon my heart, an image of beauty, to remain there changeless and indelible, until its pulses cease to beat forever, certainly it's a natural wonder, mesmerizing travelers from around the world ! "....
Chúng tôi đi đủ nơi, từ Table Rock, Scenic tunnels lên Spanish Aerocar nhưng phải kể đến cảnh fantastic voyage ở trên tầu "Maid of the Mist", ai nấy sẵn sàng for an exhilarating trip. Chiếc tầu này đưa chúng tôi ra đến chân thác để nghe tiếng gầm thét oai hùng của American Falls va Horseshoe Falls. Con tầu đi gần thác đến độ hơi nước lạnh mơn trớn mặt mình một cách thật thích thú và cảnh cầu vồng đủ 7 mầu: đỏ, cam, vàng, xanh, lam, chàm, tím hiện ra trước mắt. Đẹp và hùng vĩ đến độ ông xã tôi phải phát ngôn :"nếu chưa đi tầu Maid of the Mist này thì kể như chưa biết thác Niagara!!!!". Năm đó chúng tôi dự 2 ngày lễ Độc Lập, July 1st ở bên Canada. Tôi không bao giờ quên được cảnh ngắm pháo bông bên bờ thác Niagara. Hơi nước của horseshoe Falls bay mù trời, tự dưng hiện ra những đợt pháo bông đua nhau khoe mầu sắc trong tiếng thác reo vang....Tôi không làm sao diễn tả được cảnh này trên giấy trắng mực đen. Tôi mong rằng các bạn có một ngày nào đó cũng đến đấy thưởng thức cảnh trí tuyệt mỹ này.
Trên đường trở về D.C., anh Tê ghé đến ngũ hồ, thời tiết mát dịu nên chúng tôi đã dừng lại picnic bên Đại hồ và anh Tê nhất định đưa chúng tôi đến Upper Lake Shipping Dock. Tại đây tôi được chứng kiến cảnh di chuyển một chiếc tầu khổng lồ ở Lower Lake lên Upper Lake. Đây là lần đầu tiên được nhìn tận mắt quang cảnh làm thế nào cho 2 mực nước của 2 hồ ngang nhau để chuyển tầu từ hồ thấp lên hồ cao hay ngược lại. Thật đúng là "hearing something 100 times is not as good as seeing it once". Chúng tôi rời thủ đô Hoa thịnh Đốn để bay về. Trên đường từ phi trường Los Angeles về nhà, lại một lần nữa pháo bông đua nhau trên bầu trời Cali...vì đúng là ngày lễ Độc lập Mỹ quốc (July 4th) ; nhưng vì tất cả đã mỏi mệt và cảnh trí không được nên thơ cho lắm nên chúng tôi.....chả ham!
Chuyến đi này tôi được học hỏi về thế thời, danh điạ của lịch sử Hoa Kỳ cà cũng được sáng mắt ra nhiều. Đi chơi với chị Tê mới biết chị có nhiều biệt tài. Chị rất chu đáo, gọn gàng và ngăn nắp. Phải đi chợ mua sắm nấu nướng, chị nghĩ đến người quanh chị, chị luôn luôn :
Điều ăn uống phải hỏi han tùy thích
Lòng người ước chim, gà, cá, thịt.
Của nên ăn dù đắt cũng mua,
Tùy người ưa thích ngọt chua
Nhưng gia vị phải mong cho đủ mùi...
Chị nấu ăn nhanh, gọn và...thật ngon. Đi cắm trại với chị hôm nào cũng được ăn cơm nóng nấu trên bếp lò gas nhỏ xíu, bữa ăn bao giờ cũng phải có đĩa salad, tô canh và một món chính....Đi với chị...chả bao giờ sợ đói, chị sắm đủ thứ đem theo...y như một cái bếp lưu động vậy. Tính tình chị thật hiền hậu, dễ mến...
Từ bạn bè, láng giềng, hàng xóm Chị ở sao cho trong ấm, ngoài êm Tiếng chào, tiếng hỏi cho mềm.. Chị chẳng khinh ai mà cũng chẳng hiềm oán ai Công, dung, ngôn, hạnh là tiên phàm trần...đúng chị Tê của tôi.
Chị là hoa khôi của trường Đồng Khánh. Chị thật trang nhã, mệt đến đâu mà gặp chị, thấy vẻ tươi mát của chị... là hết mệt ngay. Chả thế mà anh Tê đã một thời phải lận đận, long đong ghê lắm mới lọt vào đôi mắt bồ câu của chị! Chuyến đi đầu đời của tôi là thế. Mệt nhưng thật vui và có rất nhiều kỷ niệm. Từ đó về sau tôi đâm ra mê cuộc đời du mục này. Có những ngày lễ lớn, tôi lại thuyết phục anh chị Tê và ông xã tôi cho đi cắm trại..."local" lái xe độ chừng 3, 4 tiếng...xa hẳn những nhọc nhằn của thành phố....để thoải mái vui với thiên nhiên.
Anh Tê là người rất thơ mộng và có tấm lòng....đại bác! Năm nào anh cũng có 1 tuần lễ đi chơi riêng với bà xã và cháu Anne ở những nơi thiếu vắng dấu chân người như những hòn đảo Hạ Uy Dị... Và khi trở về anh đã "bác ái" hoạch định chương trình 9 ngày đi chơi chung với các bạn camping...Không "đại bác " sao được, dù bận rộn với công việc, anh cũng đã bỏ bao nhiêu giờ lo book trại, thuê xe van và tìm đủ những thắng cảnh đến viếng thăm. Chả thế mà anh đã điện đàm với gia đình anh Mai anh Tuấn - Diệu Hạnh hơn một năm trời mới có được ngày hạnh ngộ vào trung tuần tháng 7, 1991. Tôi rất mừng gặp lại chị Diệu Hạnh sau bao năm xa cách, chúng tôi chuyện trò không dứt. Chị là một trong số hoa hậu nổi tiếng của xứ đất lành chim đậu miền biển dài của thập niên 70. Chúng tôi nhớ lại bao kỷ niệm của một thời :
Làm hoa cho người ta hái,
Làm gái đẹp cho nhiều anh mê là...chị !!!"
Thế mới biết tài của anh Tuấn, lọt vào mắt biếc của chị đâu phải dễ. Anh Tê plan một chuyến du lịch bắc Cali thật hoàn mỹ, trên xe van loại extended chứa 3 gia đình gồm 6 người lớn và 5 trẻ em: Tường, Tiến, Anne, Đạt và Mai Lan cùng hành trang: 3 lều và...11 cái sleeping bags...sửa soạn cho cảnh ngủ rừng, ngủ bụi, màn trời chiếu đất!!! Anh TÊ đã khéo liên lạc trước nên khi đến Carmel, một thành phố được mệnh danh là honeymoon spot, chúng tôi được gia đình anh Nghệ - Vân Anh cùng 2 cháu Thu Anh và Lan Anh đón tiếp rất nồng hậu. Dưới sự hướng dẫn rất ư là hiếu khách của anh Nghệ, chúng tôi đã dừng lại rất nhiều thắng cảnh thật nên thơ và kỳ thú của miền bắc Cali...Bao giờ anh Nghệ, chị Vân Anh ghé nam Cali, nhớ cho chúng tôi đáp lễ đấy nhé. Tài lái xe của anh Tê phải liệt vào hạng nhất thế giới. Anh dám lái chiếc xe van lớn trên con đường "The crookedest street in the world ở San Francisco". Ông cảnh sát Mỹ đã lé mắt và hồi hộp đứng nhìn chiếc xe van to lớn do anh Tê điều khiển, hết né bên này, tránh bên nọ...và xuống đến nơi thật an toàn, ông ta phục lăn, suýt nưã gắn huy chương vàng cho anh. Còn anh Tuấn và ông xã tôi xuống đến nơi nhìn lên, sợ...toé khói, than tại sao mình dám đem giao tính mạng vào bàn tay anh Tê! Tôi chả ngán, được đi một phen hồi hộp như xem phim Hitchcock lại đâm ra thú vị, tôi phục anh Tê lia liạ...
Chúng tôi cắm trại, ngủ lều ở Yosemite National Park 3 ngày, 3 đêm. Sáng đi hiking, ngắm phong cảnh hưũ tình, chiều về ăn uống và tối đốt lửa trại.. cuộc sống thật thi vị. Chuyến hiking cuối cùng của cuộc hành trình dùng lại Sequoia National Park....trẻ con, người lớn đều cảm thấy thật thích thú khi nhìn tận mắt những cây redwood đồ sộ sống hơn mấy ngàn năm mà vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.
Buổi chia tay nào cũng có nhiều luyến tiếc cho cuộc vui quá ngắn...nhưng có lẽ chị Diệu Hạnh cảm thấy du Cali đủ lắm rồi vì theo chị...đi vacation gì mà chạy như ma đuổi thế này!
Chị bảo: "Đi là đi, là đi, đi nhiều quá trời !"
Tôi xin thưa: "Đi là đi, là đi, đi nhiều mới dzui..."
Từ đó gia đình chúng tôi may mắn được nhập hội "du hí " lành mạnh của anh Tê, nên năm nào chúng tôi cũng được anh chị gọi đi chung. Anh Tê đã cho chúng tôi những chuyến du Grand Canyon ngoạn mục. Thượng Đế đã biệt đãi tiểu bang Arizona, vẽ một bức tranh tuyệt hảo mà chả có nơi nào trên thế giới có được cảnh "đất nổi" như thế này! Chúng tôi đã theo lệnh anh Tê, đúng 5 giờ sáng lên xe anh chở đến South Rim ngắm cảnh mặt trời mọc. Ánh nắng bình minh nhạt nhoà chiếu lên những mỏm đá rọi cho ta thấy đủ mầu sắc..tuyệt đẹp. Anh Tê đã để máy ảnh tự động chụp những tấm hình kỷ niệm thật...đáng gía, tấm ảnh mà chả ai muốn xem lại vì...đã có ai có giờ...make up đâu!!!!.
Rồi đến cảnh lênh đênh trên houseboat ở lake Powell thật nên thơ. Có thể nói đây là một cái hồ đẹp và lạ nhất thế giới, chung quanh hồ ít cây xanh nhưng cảnh những tảng đá đỏ hình dáng, sắc thái dị biệt đã làm cho lake Powell đẹp một cách huyền bí, kỳ dị... Tầu càng đi, cảnh chung quanh càng đổi lạ; đến nhìn được Rainbow bridge mới thấy công trình kiến trúc của tạo hoá thật hoàn hảo. Vì đúng là ngày rằm tháng tám, chị Tê đã ngạc nhiên chúng tôi với 2 hộp bánh Trung thu chị đem theo. Chả còn bút nào tả được cảnh bên bờ lake Powell, vừa đốt lửa trại, vừa ăn bánh trung thu, vừa ngắm trăng vừa nghe chuyện cổ tích Việt Nam...thật chả còn gì thú bằng..July 4th năm ngoái anh Tê đã rủ đi Utah và rồi lái xe van lên tuốt tiểu bang Wyoming để đến Yellowstone National Park cắm trại. Chúng tôi vừa đến cổng trại thì một cơn mưa đá rơi tới tấp....Ngồi trong xe, ai nấy buồn so. Chúng tôi đành phải cắm trại trong cơn mưa, nấu ăn dưới mưa... Ăn xong mọi người mới cảm thấy cái rét của rừng sâu và hơi lạnh của nước mưa nên ai cũng vội về lều cho ấm áp.
Sáng tỉnh dậy nhìn ra thấy các lều bên cạnh tuyết phủ trắng xoá, trên các cây thông tuyết rơi không đều, chỗ trắng của tuyết, chỗ xanh của cây trông thật ngoạn mục. Chuyến du này chúng tôi được dịp mua sắm áo lạnh vì có ai ngờ bầu trời mùa hè sao có tuyết ?!! Yellowstone nổi tiếng với trăm ngàn suối nước nóng. Có những ngọn suối phun cao ngất trời, có suối chỉ xì xào to nhỏ rồi im bặt, có suối bực mình, phụt lên rồi tắt lịm...Đi đâu cũng thấy vẻ nóng bỏng của lòng đất. Đặc biệt có ngọn suối nước nóng Old Faithful Geyser đã trung thành với Thượ ng Đế hằng bao thế kỷ và là ngọn suối phun.......rất đúng giờ...Nhìn những tia nước phẫn nộ nứt từ lòng đất ấm phun lên cao ngất trời, gầm thét xé tan bầu không khí tĩnh mịch này, tôi liên tưởng đến sự trung thành, kiên gan của đàn bà Việt Nam đã vùng dậy phẫn nộ gào thét chống lại cảnh "chồng chúa vợ tôi".
Vì trại dựng ngay sát Yellowstone Lake, trong nhóm đã phát sinh rất nhiều....ngư ông và nhiều nhân tài: tài câu cá, tài làm cá, tài chiên cá, tái hấp cá, tài nướng cá và tài...ăn cá. Nghe sợ đến mọc vẩy phải không quý vị? Hơn thế nữa, chúng tôi còn có chuyên viên nấu chè. Mỗi tối chị nấu một nồi chè khác nhau, 9 ngày đi, chín món chè...ăn cứ ngọt như đường cát mát như đường phèn.... Xuất sắc nhất trong nhóm là anh trưởng ban ẩm thực. Anh mà nấu ăn thì liền bà con gái như tôi phải đi ra chỗ khác chơi ngay..; chỉ có chị Tê là được anh tuyển chọn vào phụ giúp anh!!! Đi chơi với anh Tê được cái thú là chả phải lo gì. Này nhé, sáng sớm ra khỏi lêù đã thấy anh ngồi với ly cà phê và đang nghiên cứu bản đồ để hoạch định chương trình cho một ngày vui. Chả thế mà anh còn cho chúng tôi đi hiking lên Inspiration point, về Artist point; đến Grand Titon lại được đi rafting dọc con sông Snake River ngoằn ngoèo có một không hai...Anh Tê rất khôn khéo, đã dự tính sẵn cuộc hành trình nhưng anh vẫn làm bộ trưng cầu ý kiến của mọi người. Biết ý anh, tôi chả bao giờ làm anh phật lòng. Được hỏi đến tôi chỉ thưa:
Anh làm sao, tôi làm vậy
Anh làm bậy, tôi làm theo !!!
Anh Tê có cái thú lái xe va thú ngắm chị Tê bằng kính chiếu hậu. Nhiều lần nhìn anh miệt mài với tay lái, tôi cảm thấy bất lực và bất tài, đã phải buột miệng đòi :"cho ngộ lái một chút đi, ngộ chưa được lái, ngộ lái giỏi lắm mà...." Nhưng chả bao giờ anh dám trao tay lái cho tôi, anh còn bảo " đàn bà con gái không dược lái, để đàn ông lái cho" (có thật thế không hả quý vị ???)
Con người của anh Tê thật đúng sách vở....Đọc báo thấy giá biểu tăng tiền tip đến 12% anh áp dụng 100% ngay. Thậm chí có lần vào 1 tiệm ăn tầu ở San Francisco, nhìn anh cho tip $20.00 tôi đã hỏi " sao cho nhiều thế?' anh bảo 12% mờ...Tôi trả lời 12% là ở tiệm ăn Mỹ kìa, chứ ở phố tầu làm gì tới...Anh chả để tôi yên, anh bảo : ' sao chị kỳ thị thế? Chị coi thằng dân Á châu rẻ hơn thằng Mỹ à?...Tôi trả lời:" nhìn thằng Á châu cắp nách bó đũa thế kia là đã thấy rẻ rồi ông ạ!!!( hẳn anh Mai-anh-Tuấn còn nhớ?)
Tôi có dịp phỏng vấn vài người bạn và được biết thêm về anh Tê. Đã có lần anh âu yếm nhìn chị Tê hỏi một câu mà chị phải cau mày quay đi chỗ khác..:"em là người Huế sao em không keo?" And better yet to her "you tell me what you want and I tell you what you can have !" cũng có lần anh hỏi ông xã tôi : "mày có lai Jew không ? Sao giống Jew qúa vậy? " ông xã tôi nhìn tôi hỏi ý kiến, tôi đành quay mặt đi làm như chưa hề quen biết....Anh Tê chơi môn thể thao nào cũng phải đọc sách, học thầy như nghiên cứu kỹ bằng tất cả passion và all out effort. Deadly serious and steely disciplined. One of his closest friend nhận xét về Tê là người làm gì cũng lật đật, nhanh nhẩu và....làm trật. This friend still wonders how the hell Tê managed to win the heart of a beauty queen completely out of his reach like....his wife!!! Anh Long cho biết anh Tê là người mê xe hơi nhưng vẫn chưa bao giờ cho phép mình nghĩ đến việc làm chủ một chiếc "performance car". Tuy thế năm nào anh cũng đi car show. For your information, in the same way, năm nào cũng đi Las Vegas coi show. Hope you get it! Tê là người deliver jokes that are not funny. He most likely to get himself in trouble because of his mouth. Bạn Ex-Kiwis ai cũng là gentlemen and will try to be there for friends, Tê is different, he is always there for friends. Those who know Tê think he is closest to be the perfect gentlement that exists on planet earth.
Ai nói gì về anh Tê tôi xin ghi lại để các bạn tự do.....suy tưởng. Riêng gia đình tôi rất qúy mến anh chị Tê. Cuộc sống của chúng tôi rất có ý nghĩa từ ngày thân với anh chị. Đi chơi tôi luôn luôn nhắc nhở con trai tôi là phải nghe lời và học hỏi ở bác Tê trai, bác giỏi lắm, bác biết nhiều lắm....đủ thứ trên đời! Bây giờ thì bác Tê trai là thần tượng của thằng cháu Đạt và chả phải nói, con bé Mai Lan nhà tôi lúc nào cũng ngưỡng mộ vẻ đẹp tươi mát và cách phục sức trang nhã, lịch sự của bác Tê gái. Anh Long nói kỳ này tờ 7ND có mục mới "Mục vẻ vang bè bạn", tôi mới dám viết về anh đấy anh Tê ạ. Mong anh thông cảm. Tối nay đứng ở sân quần vợt đợi ông xã tôi, chắc thế nào anh Tê cũng phải tê tái rủa thầm:
" Đêm buốt lạnh trong tim
Đứng trên sân court vắng
Rủa thầm thằng bạn đời có vợ sao....ác ôn !!"
Vài Suy Tư Và Đề Nghị Trước Hiện Tình Đất Nước
Phạm Phan Long
Vấn Đề Trước Mắt Của Chúng Ta
Trong vòng mười năm qua một số biến đổi đặc biệt về chính trị, kinh tế, và tư tưởng đã dồn dập xảy ra trên khắp thế giới. Những biến chuyển này có tính cách "cội rễ, trọn vẹn và toàn diện" vượt ngoài sự tưởng tượng của người quan sát và thoát tầm kiềm toả của người trong cuộc. Gần đây, đã có chuyên viên và doanh nhân về nước nghi ên cứu cơ hội và đầu tư. Các đài phát thanh và báo chí Hoa Kỳ thường có các bài về kinh tế Việt Nam. Ngay 7ND từ năm 1993 đã có loan tin về những hoạt động của Ex-Kiwis thành hình trong nước, cộng theo là lời kêu gọi bạn bè hợp tác đầu tư kinh doanh với nhau trong các dự án đó. Việc quảng bá phong trào này trên 7ND đã làm một vài thân hữu dè dặt cho rằng đây không phản ảnh một ý hướng chung của các bạn trong 7ND. Và gần đây, Hội Chuyên Gia Việt Nam bên Mỹ lại ra một khuyến cáo chống đối các hoạt động của chuyên gia vào việc trong nước. Đây cũng chưa hẳn là ý hướng của các chuyên viên VN hải ngoại nói chung. Các sự kiện này buộc chúng ta phải suy nghĩ về vai trò mình.
Số vốn liếng hiểu biết chuyên môn của hơn 120 người chúng ta, từng người tuy còn hạn hẹp, nhưng nếu đem cộng hết lại là đã có trên 24 thế kỷ kinh nghiệm chuyên môn (120 người x 20 năm = 2400 năm). Kho tàng này xưa nay vốn thầm lặng. Chúng ta thường nghĩ mình là chuyên viên không dính vào chính trị. Nhưng chính trị lại là sức mạnh ghê gớm nhất đã xếp đặt cả cuộc đời chúng ta. Chúng ta đã sống quá nửa đời người, có lẽ không cần và không nên giữ im lặng nữa mà bây giờ cần lên tiếng nói, cùng nhau mở khoá kho tàng ta có, phân tích hiện trạng và tương lai đất nước để mỗi người tự chọn một hướng đi hợp lý cho nửa quãng đời còn lại. Tại sao vậy? Vì với số vốn trí tuệ, với các mảnh giấy trong tay nhìn nhận thế thật, chúng ta đã mang một vị thế có trách nhiệm nào đó trong xã hội. Và vì mang tấm thân thế đó, chúng ta cũng âm thầm khoác nhẹ lên vai một điều kỳ vọng gì đó, không thành văn nhưng cũng khá rõ ràng. Bằng chứng là lâu lâu "nó" lại nổi dậy thúc đẩy trong lòng ta góp sức với ai và làm một việc gì. Có lẽ "nó" đó là tình tự quê hương tiềm tàng không cho phép ta mãi yên trong thầm lặng. Hà Sĩ Phu, đã viết: "Chúng ta ... phải đứng ra giữa nơi sáng sủa, nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình...".
Vậy đối với chúng ta, những cựu sinh viên du học tại Tân Tay Lan, việc về nước hoạt động và kinh doanh có làm tốt đẹp cho đất nước thật không? Đây là một câu hỏi lớn để tranh luận sôi nổi ngay trong gia đình và giữa những bạn bè thân thiết nhất và đây là câu hỏi then chốt đáng đặt thành vấn đề nhất để qua 7ND chúng ta cùng nhau đem ra mổ xẻ cặn kẽ một lần. Một câu hỏi làm một số người cẩn thận rất ngại ngùng, có tránh né với người khác được nhưng không tránh né được trong lòng mình và với các bạn thân mình.
Với những biến chuyển đang xảy ra cho Việt Nam, tương lai của 72 triệu người Việt, trong đó có họ hàng thân thuộc và bạn bè chúng ta rồi sẽ đi về đâu? Hoa Kỳ hết cấm vận và sẽ mau chóng đi tới bang giao, những dự án chuyên môn về kinh tế, thương mại và kỹ nghệ ngày càng to lớn đang nẩy mầm, trổi dậy và vươn lên trên mặt đất quê hương. Chúng ta, những người chuyên viên sẽ không thể đứng bên lề của lịch sử mãi như xưa nữa. Chúng ta sẽ có lúc đứng truớc sự lựa chọn trong các cơ hội đó. Chọn thế đứng bên ngoài sát bên những bạn bè chân ướt tay ráo mới thoát ra khỏi nước và không nhúng tay vào, hay lao mình nhảy thẳng vào thế cuộc tìm cơ hội và đem kiến thức ra thi thố như một số các bạn trong chúng ta đã và đang lần lượt trở về? Nói trắng ra là hợp tác với chế độ hay không? Các trường phái hai bên chống và thuận này giải thích về mình với những lý luận tiêu biểu như sau:
Phái chống: Không muốn mình trở thành công cụ hậu thuẫn xây dựng cho một chế độ đang biến đất nước thành tư sản riêng của một nhóm người, những người trong trường phái thứ nhất này không muốn bán linh hồn và tim óc cho một chế độ như thế bất cứ với giá nào. Họ không thể làm công việc ngược lương tri, phản dân chủ ngay trên mồ hôi đồng bào nghèo khổ và trên tấm lưng mảnh đất quê hương. Họ tin rằng chế độ hiện tại sẽ suy sụp và sụp nhanh hơn nếu chế độ tại Việt Nam bị cô lập kinh tế lâu thêm chút nữa.
Phái thuận: Những người thuộc trường phái thứ hai dựa vào nhận định thực tế rằng "không có mợ chợ vẫn đông", mình không làm sẽ có kẻ khác hăm hở làm và còn làm bậy. Họ tin rằng vẫn có thể hợp tác vào các dự án tại Việt Nam trong bất đồng chính trị với chế độ. Họ thấy 20 năm qua đã chỉ thiệt thòi cho người dân trong nước, nhà nước lại chẳng thiệt hại gì còn mạnh hơn. Họ tin vào tài năng bản lãnh mình, vào sự liên hệ mật thiết có được sẽ đưa đến cơ hội gây ảnh hưởng thúc đẩy sự thay đổi. Họ tin sẽ có thay đổi.
Vài bậc tiền bối đã góp ý kiến cho rằng người hai phe trên đối nghịch nhau nhưng thực ra đều là những tâm hồn nhiệt huyết và cùng có lòng mong ước tối hậu là mang tiến bộ về cho dân tộc. Có những trường phái "hư chiêu" khác nằm lẫn trong hai phe trên nhưng không phải thực chất vì dân tộc: Đó là phe thứ ba gồm những người tiếp tục dùng trường phái thứ nhất vì quen tính chống đối chế độ. Họ không còn nhìn thấy những thay đổi mạnh mẽ trước mắt và không nhận xét về thay đổi linh động của kẻ họ vẫn thù hay bạn họ vẫn tin. Ngược lại cũng có phe thứ tư là những người ngoài nước về hợp tác để kiếm tiền cho riêng mình, họ cộng tác với những người trong nước để xây dựng chế độ, họ đều khoác vào người chiếc áo hấp dẫn của trường phái thứ hai. Người tiền bối này cho rằng mục đích của những nhóm cực đoan đó là lợi ích cho riêng họ và thật nguy hiểm cho đất nước. Viết ra vấn đề hóc búa này trên 7ND và những cao kiến trên để các bạn suy tư và nếu có thể, mong được thật nhiều "feedback" của các bạn khắp nơi gởi về để chúng ta cùng chia sẻ và suy nghĩ với nhau. Những câu hỏi căn bản sau đây của chúng ta sẽ phải đối diện trong lòng mình:
1. Vai trò chúng ta bây giờ là gì? 2. Chúng ta nên tham gia vào thế cuộc này hay không? 3. Nếu có thì khi nào và trong những điều kiện gì? 4. Lấy những tiêu chuẩn nào để phân biệt việc nên làm và không nên làm?
Tôi tin rằng trong nhóm 7ND chúng ta có những ngôi sao với ánh sáng soi toả được những vấn đề đất nước nhưng chưa muốn xuất hiện ra trước bầu trời. Bầu trời Việt Nam bây giờ còn âm u lạnh lẽo, xin những vì sao dù to nhỏ cũng hãy hiện ra đem ánh sáng làm hy vọng cho những đôi mắt mệt mỏi vẫn mong chờ.
Vài Đề Nghị Thay Đổi Cho Việt Nam
Với các bạn 7ND: Suy tư trên đã thúc đẩy tôi liều lĩnh viết ra đây những đề nghị thay đổi nho nhỏ cho Việt Nam. Có biết bao nhiêu đề nghị cần thiết khác, nhưng tôi đã chỉ chọn lọc để viết ra đây những đề nghị ít tốn kém, nhưng thực tế và gần gũi với đời sống và việc làm người dân trong nước nhất. Xin các bạn bổ túc và nới rộng các đề nghị nơi đây.
Với nhà cầm quyền trong nước: Nếu nhà cầm quyền thực tin vào "đổi mới" như đang nói về đổi mới, thì sau đây là vài thay đổi làm ngay được, để tạo điều kiện phát triển trí tuệ, và tạo thêm trường sở đáp ứng những nhu cầu giáo dục và y tế cấp thiết ở VN ngay bây giờ.
1. Bãi bỏ chính sách cấm nhập cảnh các máy vi tính cũ: Nhà nước tới nay vẫn còn duy trì việc cấm đoán nhập cảnh các máy vi tính cũ. Việc cấm đoán này thật không thể nói gì hơn ngoài cất lên hai tiếng "than ôi". Việc cởi trói cho trí tuệ trong bối cảnh hiện đại thật không gì mãnh liệt và hiệu quả bằng cho du nhập kỹ thuật vi tính và nhu liệu về nước. Cần có máy tính tràn ngập các trường sở, đặt lên hết các bàn giấy, bày ra khắp các lớp học từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Nên cho máy móc và nhu liệu bất kể cũ mới về nước, cũ lại càng rẻ được biết bao nhiêu lần. Và nên miễn thuế hoàn toàn nữa mới phải. Nhà nước sẽ có lợi trước và lợi vô cùng. Vì dân biết dùng máy vi tính rồi dân sẽ làm việc cho ai? Nếu không phải là đem chính những hiểu biết đó góp tăng gia năng suất các xí nghiệp tư doanh mà nhà nước đang khuyến khích. Và ngay cả quốc doanh, c hính nhà nước cũng đang khao khát một mầu nhiệm tiến bộ để khỏi còn lo việc bao cấp kinh niên. Mầu nhiệm của làn gió điện toán này đã thổi qua các xã hội tư bản đưa họ bước sang kỷ nguyên tin học. Hãy đón chào những máy móc và nhu liệu mới và cũ cho hoàn toàn tự do du nhập về nước để phát triển kỹ thuật và dân trí. Đây là một cơ hội rất hiếm hoi mà lịch sử văn minh hiện đại mở ra một con đường cho các nước đang mở mang nhảy vọt theo đà các nước tân tiến. Những kẻ lên đường đi trước có thể tiến bộ nhanh với vận tốc của những hạt âm điện tử. Tại sao không cho dân gian được học hỏi tham gia vào một kỹ thuật văn minh sinh tử của thế hệ này?
2. Bãi bỏ hoàn toàn việc kiểm duyệt báo chí, sách vở, tài liệu: Việc kiểm duyệt này còn giữ lại thêm ngày nào là cản tiến bộ và cũng là "cho không" phe chống đối bên ngoài một chính nghĩa to lớn thêm ngày đó. Hãy cho phép tự do về nước không kìm chế các tất cả tài liệu khoa học, kỹ thuật, kể cả chính trị và kinh tế để chính các đảng viên và cán bộ học hỏi. Có quyền lực lại có thêm sách vở bên mình càng làm chế độ vững mạnh hơn thêm. Nhà cầm quyền đã can đảm cho đô la nhập nội không hạn chế và đã thành công trong chính sách tiền tệ cấp tiến này. Cả dân chúng cũng được dễ thở hơn. Tiền là thứ vũ khí đa dạng vừa dọa dẫm vừa mua chuộc được nên nguy hiểm đáng ngại hơn sách vở gấp bao nhiêu lần. Bây giờ nhà nước đã hài lòng với "đổi mới" tiền tệ đó. Thì bước kế tiếp nên cởi mở là cho báo chí, sách vở, tư tưởng hoàn toàn tự do tràn ngập quê hương. Đây là việc thay đổi chính sách can đảm và giá trị đáng đem ra thử nghiệm.
3. Cho phép nhà thờ và chùa mở lớp dạy học: Mở mang dân trí là một trong những thiên mệnh của minh quân. Sự nghèo khó ngân quỹ quốc gia không cho phép nhà nước xây cất trường sở, đào tạo giáo chức và in phát giáo khoa thự Trường sở giáo chức thực ra đã có ngay trên khắp đất nước, nếu cho phép các tôn giáo tự do dùng cơ sở tôn giáo làm trường học và truyền giáo. Để nhà nước độc quyền việc giáo dục và không tròn bổn phận là kìm hãm trí tuệ dân gian, là ôm khư một "khuyết tật" lớn nữa để người ngoài chỉ trích và con trẻ trong nước thiệt thòi. Biết kết hợp với các cơ sở tôn giáo làm việc văn hoá giáo dục xã hội là hàn gắn lại nghi kỵ, và là cách trả lời hiệu quả nhất trước sự tố cáo đàn áp tôn giáo trong nước. Đây thật là một điều điều nên làm ngay?
4. Cởi mở hoàn toàn trong việc thu dụng nhân viên tư: Nhà nước nên đứng hoàn toàn bên ngoài không can dự vào việc thu dụng nhân viên của các xí nghiệp doanh thương tư. Việc họ làm đòi hỏi những kiến thức chuyên môn để làm công việc doanh thương riêng biệt của họ. Họ biết hơn nhà nước về những công việc họ phải làm. Nhất là làm bằng đồng tiền của họ và kiếm lời đóng thuế cho nhà bước, nên việc họ chọn lựa nhân tài vào trong các công việc của họ nên để hoàn toàn theo ý muốn lựa chọn khôn ngoan tự do của họ. Nếu không có một đội ngũ nhân viên thống nhất và hoà nhịp, đầu óc tay chân sẽ bất nhất, công ty họ sẽ giảm mất sức mạnh sản suất về phẩm và lượng, họ không thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Lúc đó nhân công có rẻ mạt, sản phẩm cũng thành đắt. Một doanh nhân đứng đắn và cẩn thận sẽ không bao giờ làm công việc kinh doanh liều lĩnh với bó buộc nhân sự như thế được. Cho phép thu dụng nhân viên tự do là tạo điều kiện dễ dàng để hấp dẫn cho doanh nhân đứng đắn và cẩn thận đầu tư vào kinh tế trong nước. Có thế mới hy vọng đẻ ra được những đầu tư vững chắc giá trị và lâu dài?
5. Đánh thuế xa xỉ phẩm gây quỹ làm nhà thương công cộng: Đánh thuế thuốc lá, rượu, văn nghệ phẩm, vũ trường, xe du lịch tối đa, tới mức để giá thị trường ngay trong nước cũng lên ngang hàng với hải ngoại trong vùng để gây ngân quỹ dành hết cho việc xây dựng cơ sở y tế. Chuyện buôn lậu sẽ theo mức lời cao hấp dẫn đó mà tăng lên nữa, nhưng xã hội tư bản còn kiềm toả được tệ đoan này huống gì một nền kinh tế chỉ huy bởi nhà nước và công an, việc này chế ngự được. Nếu hậu quả tăng thuế mang lại sự thất thu, công chúng bớt tiêu thụ, bên ngoài giảm bớt du lịch, đó chẳng là những dấu vết thay đổi lành mạnh của một xã hội đáng khen hay sao?
6. Tận lực trọng dụng chất xám vào các chức năng cần chất xám: Phó thác các quyền quyết định lãnh đạo tối hậu về ngân quỹ, chi tiêu, nhân sự, kế hoạch vào những bộ óc kinh nghiệm hiểu biết chuyên môn tinh anh nhất đang có sẵn trong nước. Tìm kiếm và ưu đãi sử dụng họ vào những công việc chuyên môn của họ. Hãy xét lại từng người trong toán nhân lực đang có và vai trò từng vị để đặt những bộ óc ưu việt nhất của đất nước hoặc ít nhất là trong cơ quan lên vị thế dẫn đường. Chuyển những người đang ở vị trí lãnh đạo không đủ khả năng và kiến thức sang vị trí cố vấn. Bảo đảm lợi tức hợp lý cho người bị thay thế, đồng thời thẳng tay trừng trị những người chống đối, phe đảng, tham quyền cố vị, và gây khó khăn cho người thay thế.
Vài lời kết luận
Vài thay đổi trên sớm muộn gì cũng có ngày đến với dân tộc dù nhà nước hôm nay có chủ xướng hay không cũng thế. Áp lực tiến bộ bên trong và đòi hỏi thay đổi bên ngoài n gày càng nặng hơn lên. Nếu nhà nước can đảm đối diện vấn đề và thực hiện sớm những thay đổi đó sẽ có công lớn với đất nước và đồng thời củng cố sự vững mạnh cho chính chế độ trước hết. Những điều kể ra lại cần phải làm ngay vì cả thế giới sẽ không hiểu tại sao nhà nước nói về đổi mới mà không làm vài việc đổi mới có ý nghiã này. Nhất là những đổi mới này không tốn kém công của, và chắc không đe dọa được một chế độ đã thống nhất được đất nước và nằm vững trên quyền lực 20 năm nay. Những đề nghị nói trên tiềm tàng bên trong có những yếu tố ngấm ngầm có thể làm nhà nước lo ngại về việc mất ảnh hưỏng. Nếu những người cầm quyền còn có lo niềm lo ngại thế thật thì tất cả những đề nghị trong bài này nên tạm gác đi và thay bằng một đề nghị tiên khởi là làm sao dẹp bỏ chính tính lo ngại đó đi. Nếu cần phải thay thế những người hay nhóm người nắm quyền mà không nhận lãnh trách nhiệm đi đôi với các quyền hành đó. Niềm lo ngại của họ, nghĩ kỹ sẽ thấy, làm cản bước tiến của chính họ trước lịch sử và tiến bộ của đất nước trước cuộc diện thế giới.
Riêng đề nghị về việc trọng dụng nhân tài lại càng không có lý do gì trì trệ. Công việc khoa học kỹ thuật cần những bộ óc khoa học kỹ thuật để thực hiện. Một chế độ xây dựng trên khoa học xã hội nếu không thúc đẩy trí tuệ tinh anh nhất của mình tìm hiểu, diều khiển và sửa đổi bằng những băn khoăn khoa học chuyên môn hợp lý thì chế độ còn gì để nói về đổi mới? Nếu ngay trong lòng chế độ, có những bộ óc biết băn khoăn mà tiếng nói khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giáo dục của họ vẫn như thầm lặng, bằng chứng là những sơ hở khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giáo dục hiển nhiên dẫy đầy trước mắt, thì chế độ này làm sao hóa giải niềm dè dặt trong lòng những bộ óc khác ở hải ngoại.
Trí thức trong nước đã sống chết hy sinh ở lại trong nước, họ có đầy đủ kiến thức và học vấn trong tay, cho tới nay không làm được việc hay chưa làm được việc đáng kể , thì trí thức hải ngoại nếu suy luận một chút, sẽ phải tự hoài nghi chính mình sẽ làm được việc gì không với một chế độ mà bạn bè mình đã bó tay trong nước? Trí thức có suy tư như thế sẽ vô cùng dè dặt không dám trở về hợp tác trong tình cảnh đó. Về việc đầu tư cũng thế, trước những khó khăn và điều kiện hoạt động vô lý bó chặt tay chân và đầu óc doanh nhân còn tiềm tàng trong nước, thì những doanh nhân khôn ngoan, đứng đắn và cẩn thận nhất sẽ không dám hợp tác đầu tự Vậy những doanh nhân hoan hỉ hợp tác bất chấp những vô lý còn tiềm ẩn đó có thiếu cẩn thận không? Nguy hại hơn nữa nếu chính sách lập ra chỉ có những doanh nhân này hợp tác mà thôi, rồi đẻ ra nhiều doanh nhân khác giống như họ cùng nhau làm kinh tế thì đất nước mai sau sẽ ra sao?
Mission Viejo
Vấn Đề Trước Mắt Của Chúng Ta
Trong vòng mười năm qua một số biến đổi đặc biệt về chính trị, kinh tế, và tư tưởng đã dồn dập xảy ra trên khắp thế giới. Những biến chuyển này có tính cách "cội rễ, trọn vẹn và toàn diện" vượt ngoài sự tưởng tượng của người quan sát và thoát tầm kiềm toả của người trong cuộc. Gần đây, đã có chuyên viên và doanh nhân về nước nghi ên cứu cơ hội và đầu tư. Các đài phát thanh và báo chí Hoa Kỳ thường có các bài về kinh tế Việt Nam. Ngay 7ND từ năm 1993 đã có loan tin về những hoạt động của Ex-Kiwis thành hình trong nước, cộng theo là lời kêu gọi bạn bè hợp tác đầu tư kinh doanh với nhau trong các dự án đó. Việc quảng bá phong trào này trên 7ND đã làm một vài thân hữu dè dặt cho rằng đây không phản ảnh một ý hướng chung của các bạn trong 7ND. Và gần đây, Hội Chuyên Gia Việt Nam bên Mỹ lại ra một khuyến cáo chống đối các hoạt động của chuyên gia vào việc trong nước. Đây cũng chưa hẳn là ý hướng của các chuyên viên VN hải ngoại nói chung. Các sự kiện này buộc chúng ta phải suy nghĩ về vai trò mình.
Số vốn liếng hiểu biết chuyên môn của hơn 120 người chúng ta, từng người tuy còn hạn hẹp, nhưng nếu đem cộng hết lại là đã có trên 24 thế kỷ kinh nghiệm chuyên môn (120 người x 20 năm = 2400 năm). Kho tàng này xưa nay vốn thầm lặng. Chúng ta thường nghĩ mình là chuyên viên không dính vào chính trị. Nhưng chính trị lại là sức mạnh ghê gớm nhất đã xếp đặt cả cuộc đời chúng ta. Chúng ta đã sống quá nửa đời người, có lẽ không cần và không nên giữ im lặng nữa mà bây giờ cần lên tiếng nói, cùng nhau mở khoá kho tàng ta có, phân tích hiện trạng và tương lai đất nước để mỗi người tự chọn một hướng đi hợp lý cho nửa quãng đời còn lại. Tại sao vậy? Vì với số vốn trí tuệ, với các mảnh giấy trong tay nhìn nhận thế thật, chúng ta đã mang một vị thế có trách nhiệm nào đó trong xã hội. Và vì mang tấm thân thế đó, chúng ta cũng âm thầm khoác nhẹ lên vai một điều kỳ vọng gì đó, không thành văn nhưng cũng khá rõ ràng. Bằng chứng là lâu lâu "nó" lại nổi dậy thúc đẩy trong lòng ta góp sức với ai và làm một việc gì. Có lẽ "nó" đó là tình tự quê hương tiềm tàng không cho phép ta mãi yên trong thầm lặng. Hà Sĩ Phu, đã viết: "Chúng ta ... phải đứng ra giữa nơi sáng sủa, nghiêm túc nói rõ ý kiến của mình...".
Vậy đối với chúng ta, những cựu sinh viên du học tại Tân Tay Lan, việc về nước hoạt động và kinh doanh có làm tốt đẹp cho đất nước thật không? Đây là một câu hỏi lớn để tranh luận sôi nổi ngay trong gia đình và giữa những bạn bè thân thiết nhất và đây là câu hỏi then chốt đáng đặt thành vấn đề nhất để qua 7ND chúng ta cùng nhau đem ra mổ xẻ cặn kẽ một lần. Một câu hỏi làm một số người cẩn thận rất ngại ngùng, có tránh né với người khác được nhưng không tránh né được trong lòng mình và với các bạn thân mình.
Với những biến chuyển đang xảy ra cho Việt Nam, tương lai của 72 triệu người Việt, trong đó có họ hàng thân thuộc và bạn bè chúng ta rồi sẽ đi về đâu? Hoa Kỳ hết cấm vận và sẽ mau chóng đi tới bang giao, những dự án chuyên môn về kinh tế, thương mại và kỹ nghệ ngày càng to lớn đang nẩy mầm, trổi dậy và vươn lên trên mặt đất quê hương. Chúng ta, những người chuyên viên sẽ không thể đứng bên lề của lịch sử mãi như xưa nữa. Chúng ta sẽ có lúc đứng truớc sự lựa chọn trong các cơ hội đó. Chọn thế đứng bên ngoài sát bên những bạn bè chân ướt tay ráo mới thoát ra khỏi nước và không nhúng tay vào, hay lao mình nhảy thẳng vào thế cuộc tìm cơ hội và đem kiến thức ra thi thố như một số các bạn trong chúng ta đã và đang lần lượt trở về? Nói trắng ra là hợp tác với chế độ hay không? Các trường phái hai bên chống và thuận này giải thích về mình với những lý luận tiêu biểu như sau:
Phái chống: Không muốn mình trở thành công cụ hậu thuẫn xây dựng cho một chế độ đang biến đất nước thành tư sản riêng của một nhóm người, những người trong trường phái thứ nhất này không muốn bán linh hồn và tim óc cho một chế độ như thế bất cứ với giá nào. Họ không thể làm công việc ngược lương tri, phản dân chủ ngay trên mồ hôi đồng bào nghèo khổ và trên tấm lưng mảnh đất quê hương. Họ tin rằng chế độ hiện tại sẽ suy sụp và sụp nhanh hơn nếu chế độ tại Việt Nam bị cô lập kinh tế lâu thêm chút nữa.
Phái thuận: Những người thuộc trường phái thứ hai dựa vào nhận định thực tế rằng "không có mợ chợ vẫn đông", mình không làm sẽ có kẻ khác hăm hở làm và còn làm bậy. Họ tin rằng vẫn có thể hợp tác vào các dự án tại Việt Nam trong bất đồng chính trị với chế độ. Họ thấy 20 năm qua đã chỉ thiệt thòi cho người dân trong nước, nhà nước lại chẳng thiệt hại gì còn mạnh hơn. Họ tin vào tài năng bản lãnh mình, vào sự liên hệ mật thiết có được sẽ đưa đến cơ hội gây ảnh hưởng thúc đẩy sự thay đổi. Họ tin sẽ có thay đổi.
Vài bậc tiền bối đã góp ý kiến cho rằng người hai phe trên đối nghịch nhau nhưng thực ra đều là những tâm hồn nhiệt huyết và cùng có lòng mong ước tối hậu là mang tiến bộ về cho dân tộc. Có những trường phái "hư chiêu" khác nằm lẫn trong hai phe trên nhưng không phải thực chất vì dân tộc: Đó là phe thứ ba gồm những người tiếp tục dùng trường phái thứ nhất vì quen tính chống đối chế độ. Họ không còn nhìn thấy những thay đổi mạnh mẽ trước mắt và không nhận xét về thay đổi linh động của kẻ họ vẫn thù hay bạn họ vẫn tin. Ngược lại cũng có phe thứ tư là những người ngoài nước về hợp tác để kiếm tiền cho riêng mình, họ cộng tác với những người trong nước để xây dựng chế độ, họ đều khoác vào người chiếc áo hấp dẫn của trường phái thứ hai. Người tiền bối này cho rằng mục đích của những nhóm cực đoan đó là lợi ích cho riêng họ và thật nguy hiểm cho đất nước. Viết ra vấn đề hóc búa này trên 7ND và những cao kiến trên để các bạn suy tư và nếu có thể, mong được thật nhiều "feedback" của các bạn khắp nơi gởi về để chúng ta cùng chia sẻ và suy nghĩ với nhau. Những câu hỏi căn bản sau đây của chúng ta sẽ phải đối diện trong lòng mình:
1. Vai trò chúng ta bây giờ là gì? 2. Chúng ta nên tham gia vào thế cuộc này hay không? 3. Nếu có thì khi nào và trong những điều kiện gì? 4. Lấy những tiêu chuẩn nào để phân biệt việc nên làm và không nên làm?
Tôi tin rằng trong nhóm 7ND chúng ta có những ngôi sao với ánh sáng soi toả được những vấn đề đất nước nhưng chưa muốn xuất hiện ra trước bầu trời. Bầu trời Việt Nam bây giờ còn âm u lạnh lẽo, xin những vì sao dù to nhỏ cũng hãy hiện ra đem ánh sáng làm hy vọng cho những đôi mắt mệt mỏi vẫn mong chờ.
Vài Đề Nghị Thay Đổi Cho Việt Nam
Với các bạn 7ND: Suy tư trên đã thúc đẩy tôi liều lĩnh viết ra đây những đề nghị thay đổi nho nhỏ cho Việt Nam. Có biết bao nhiêu đề nghị cần thiết khác, nhưng tôi đã chỉ chọn lọc để viết ra đây những đề nghị ít tốn kém, nhưng thực tế và gần gũi với đời sống và việc làm người dân trong nước nhất. Xin các bạn bổ túc và nới rộng các đề nghị nơi đây.
Với nhà cầm quyền trong nước: Nếu nhà cầm quyền thực tin vào "đổi mới" như đang nói về đổi mới, thì sau đây là vài thay đổi làm ngay được, để tạo điều kiện phát triển trí tuệ, và tạo thêm trường sở đáp ứng những nhu cầu giáo dục và y tế cấp thiết ở VN ngay bây giờ.
1. Bãi bỏ chính sách cấm nhập cảnh các máy vi tính cũ: Nhà nước tới nay vẫn còn duy trì việc cấm đoán nhập cảnh các máy vi tính cũ. Việc cấm đoán này thật không thể nói gì hơn ngoài cất lên hai tiếng "than ôi". Việc cởi trói cho trí tuệ trong bối cảnh hiện đại thật không gì mãnh liệt và hiệu quả bằng cho du nhập kỹ thuật vi tính và nhu liệu về nước. Cần có máy tính tràn ngập các trường sở, đặt lên hết các bàn giấy, bày ra khắp các lớp học từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau. Nên cho máy móc và nhu liệu bất kể cũ mới về nước, cũ lại càng rẻ được biết bao nhiêu lần. Và nên miễn thuế hoàn toàn nữa mới phải. Nhà nước sẽ có lợi trước và lợi vô cùng. Vì dân biết dùng máy vi tính rồi dân sẽ làm việc cho ai? Nếu không phải là đem chính những hiểu biết đó góp tăng gia năng suất các xí nghiệp tư doanh mà nhà nước đang khuyến khích. Và ngay cả quốc doanh, c hính nhà nước cũng đang khao khát một mầu nhiệm tiến bộ để khỏi còn lo việc bao cấp kinh niên. Mầu nhiệm của làn gió điện toán này đã thổi qua các xã hội tư bản đưa họ bước sang kỷ nguyên tin học. Hãy đón chào những máy móc và nhu liệu mới và cũ cho hoàn toàn tự do du nhập về nước để phát triển kỹ thuật và dân trí. Đây là một cơ hội rất hiếm hoi mà lịch sử văn minh hiện đại mở ra một con đường cho các nước đang mở mang nhảy vọt theo đà các nước tân tiến. Những kẻ lên đường đi trước có thể tiến bộ nhanh với vận tốc của những hạt âm điện tử. Tại sao không cho dân gian được học hỏi tham gia vào một kỹ thuật văn minh sinh tử của thế hệ này?
2. Bãi bỏ hoàn toàn việc kiểm duyệt báo chí, sách vở, tài liệu: Việc kiểm duyệt này còn giữ lại thêm ngày nào là cản tiến bộ và cũng là "cho không" phe chống đối bên ngoài một chính nghĩa to lớn thêm ngày đó. Hãy cho phép tự do về nước không kìm chế các tất cả tài liệu khoa học, kỹ thuật, kể cả chính trị và kinh tế để chính các đảng viên và cán bộ học hỏi. Có quyền lực lại có thêm sách vở bên mình càng làm chế độ vững mạnh hơn thêm. Nhà cầm quyền đã can đảm cho đô la nhập nội không hạn chế và đã thành công trong chính sách tiền tệ cấp tiến này. Cả dân chúng cũng được dễ thở hơn. Tiền là thứ vũ khí đa dạng vừa dọa dẫm vừa mua chuộc được nên nguy hiểm đáng ngại hơn sách vở gấp bao nhiêu lần. Bây giờ nhà nước đã hài lòng với "đổi mới" tiền tệ đó. Thì bước kế tiếp nên cởi mở là cho báo chí, sách vở, tư tưởng hoàn toàn tự do tràn ngập quê hương. Đây là việc thay đổi chính sách can đảm và giá trị đáng đem ra thử nghiệm.
3. Cho phép nhà thờ và chùa mở lớp dạy học: Mở mang dân trí là một trong những thiên mệnh của minh quân. Sự nghèo khó ngân quỹ quốc gia không cho phép nhà nước xây cất trường sở, đào tạo giáo chức và in phát giáo khoa thự Trường sở giáo chức thực ra đã có ngay trên khắp đất nước, nếu cho phép các tôn giáo tự do dùng cơ sở tôn giáo làm trường học và truyền giáo. Để nhà nước độc quyền việc giáo dục và không tròn bổn phận là kìm hãm trí tuệ dân gian, là ôm khư một "khuyết tật" lớn nữa để người ngoài chỉ trích và con trẻ trong nước thiệt thòi. Biết kết hợp với các cơ sở tôn giáo làm việc văn hoá giáo dục xã hội là hàn gắn lại nghi kỵ, và là cách trả lời hiệu quả nhất trước sự tố cáo đàn áp tôn giáo trong nước. Đây thật là một điều điều nên làm ngay?
4. Cởi mở hoàn toàn trong việc thu dụng nhân viên tư: Nhà nước nên đứng hoàn toàn bên ngoài không can dự vào việc thu dụng nhân viên của các xí nghiệp doanh thương tư. Việc họ làm đòi hỏi những kiến thức chuyên môn để làm công việc doanh thương riêng biệt của họ. Họ biết hơn nhà nước về những công việc họ phải làm. Nhất là làm bằng đồng tiền của họ và kiếm lời đóng thuế cho nhà bước, nên việc họ chọn lựa nhân tài vào trong các công việc của họ nên để hoàn toàn theo ý muốn lựa chọn khôn ngoan tự do của họ. Nếu không có một đội ngũ nhân viên thống nhất và hoà nhịp, đầu óc tay chân sẽ bất nhất, công ty họ sẽ giảm mất sức mạnh sản suất về phẩm và lượng, họ không thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế. Lúc đó nhân công có rẻ mạt, sản phẩm cũng thành đắt. Một doanh nhân đứng đắn và cẩn thận sẽ không bao giờ làm công việc kinh doanh liều lĩnh với bó buộc nhân sự như thế được. Cho phép thu dụng nhân viên tự do là tạo điều kiện dễ dàng để hấp dẫn cho doanh nhân đứng đắn và cẩn thận đầu tư vào kinh tế trong nước. Có thế mới hy vọng đẻ ra được những đầu tư vững chắc giá trị và lâu dài?
5. Đánh thuế xa xỉ phẩm gây quỹ làm nhà thương công cộng: Đánh thuế thuốc lá, rượu, văn nghệ phẩm, vũ trường, xe du lịch tối đa, tới mức để giá thị trường ngay trong nước cũng lên ngang hàng với hải ngoại trong vùng để gây ngân quỹ dành hết cho việc xây dựng cơ sở y tế. Chuyện buôn lậu sẽ theo mức lời cao hấp dẫn đó mà tăng lên nữa, nhưng xã hội tư bản còn kiềm toả được tệ đoan này huống gì một nền kinh tế chỉ huy bởi nhà nước và công an, việc này chế ngự được. Nếu hậu quả tăng thuế mang lại sự thất thu, công chúng bớt tiêu thụ, bên ngoài giảm bớt du lịch, đó chẳng là những dấu vết thay đổi lành mạnh của một xã hội đáng khen hay sao?
6. Tận lực trọng dụng chất xám vào các chức năng cần chất xám: Phó thác các quyền quyết định lãnh đạo tối hậu về ngân quỹ, chi tiêu, nhân sự, kế hoạch vào những bộ óc kinh nghiệm hiểu biết chuyên môn tinh anh nhất đang có sẵn trong nước. Tìm kiếm và ưu đãi sử dụng họ vào những công việc chuyên môn của họ. Hãy xét lại từng người trong toán nhân lực đang có và vai trò từng vị để đặt những bộ óc ưu việt nhất của đất nước hoặc ít nhất là trong cơ quan lên vị thế dẫn đường. Chuyển những người đang ở vị trí lãnh đạo không đủ khả năng và kiến thức sang vị trí cố vấn. Bảo đảm lợi tức hợp lý cho người bị thay thế, đồng thời thẳng tay trừng trị những người chống đối, phe đảng, tham quyền cố vị, và gây khó khăn cho người thay thế.
Vài lời kết luận
Vài thay đổi trên sớm muộn gì cũng có ngày đến với dân tộc dù nhà nước hôm nay có chủ xướng hay không cũng thế. Áp lực tiến bộ bên trong và đòi hỏi thay đổi bên ngoài n gày càng nặng hơn lên. Nếu nhà nước can đảm đối diện vấn đề và thực hiện sớm những thay đổi đó sẽ có công lớn với đất nước và đồng thời củng cố sự vững mạnh cho chính chế độ trước hết. Những điều kể ra lại cần phải làm ngay vì cả thế giới sẽ không hiểu tại sao nhà nước nói về đổi mới mà không làm vài việc đổi mới có ý nghiã này. Nhất là những đổi mới này không tốn kém công của, và chắc không đe dọa được một chế độ đã thống nhất được đất nước và nằm vững trên quyền lực 20 năm nay. Những đề nghị nói trên tiềm tàng bên trong có những yếu tố ngấm ngầm có thể làm nhà nước lo ngại về việc mất ảnh hưỏng. Nếu những người cầm quyền còn có lo niềm lo ngại thế thật thì tất cả những đề nghị trong bài này nên tạm gác đi và thay bằng một đề nghị tiên khởi là làm sao dẹp bỏ chính tính lo ngại đó đi. Nếu cần phải thay thế những người hay nhóm người nắm quyền mà không nhận lãnh trách nhiệm đi đôi với các quyền hành đó. Niềm lo ngại của họ, nghĩ kỹ sẽ thấy, làm cản bước tiến của chính họ trước lịch sử và tiến bộ của đất nước trước cuộc diện thế giới.
Riêng đề nghị về việc trọng dụng nhân tài lại càng không có lý do gì trì trệ. Công việc khoa học kỹ thuật cần những bộ óc khoa học kỹ thuật để thực hiện. Một chế độ xây dựng trên khoa học xã hội nếu không thúc đẩy trí tuệ tinh anh nhất của mình tìm hiểu, diều khiển và sửa đổi bằng những băn khoăn khoa học chuyên môn hợp lý thì chế độ còn gì để nói về đổi mới? Nếu ngay trong lòng chế độ, có những bộ óc biết băn khoăn mà tiếng nói khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giáo dục của họ vẫn như thầm lặng, bằng chứng là những sơ hở khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giáo dục hiển nhiên dẫy đầy trước mắt, thì chế độ này làm sao hóa giải niềm dè dặt trong lòng những bộ óc khác ở hải ngoại.
Trí thức trong nước đã sống chết hy sinh ở lại trong nước, họ có đầy đủ kiến thức và học vấn trong tay, cho tới nay không làm được việc hay chưa làm được việc đáng kể , thì trí thức hải ngoại nếu suy luận một chút, sẽ phải tự hoài nghi chính mình sẽ làm được việc gì không với một chế độ mà bạn bè mình đã bó tay trong nước? Trí thức có suy tư như thế sẽ vô cùng dè dặt không dám trở về hợp tác trong tình cảnh đó. Về việc đầu tư cũng thế, trước những khó khăn và điều kiện hoạt động vô lý bó chặt tay chân và đầu óc doanh nhân còn tiềm tàng trong nước, thì những doanh nhân khôn ngoan, đứng đắn và cẩn thận nhất sẽ không dám hợp tác đầu tự Vậy những doanh nhân hoan hỉ hợp tác bất chấp những vô lý còn tiềm ẩn đó có thiếu cẩn thận không? Nguy hại hơn nữa nếu chính sách lập ra chỉ có những doanh nhân này hợp tác mà thôi, rồi đẻ ra nhiều doanh nhân khác giống như họ cùng nhau làm kinh tế thì đất nước mai sau sẽ ra sao?
Mission Viejo
Còn ngại ngùng gì ?
Bắc Cái Auckland
Một buổi tối, các ông trong làng họp lại về khuya thì thầm bàn nhau về việc mụ Tú Bà, cả làng ai cũng biết, đã vui vẻ đến tặng hội làng một số tiền lớn để giúp tổ chức lễ làng. Một lúc sau các ông hăng máu lên bàn nhăng xích chó chưa có nhận hay không chưa ngã ngũ ra sao. Bà Tiên Chỉ bước ra nói nhỏ vào tai ông Tiên Chỉ : " Tiền đó của các ông cả đấy còn ngại ngùng gì !"
Một buổi tối, các ông trong làng họp lại về khuya thì thầm bàn nhau về việc mụ Tú Bà, cả làng ai cũng biết, đã vui vẻ đến tặng hội làng một số tiền lớn để giúp tổ chức lễ làng. Một lúc sau các ông hăng máu lên bàn nhăng xích chó chưa có nhận hay không chưa ngã ngũ ra sao. Bà Tiên Chỉ bước ra nói nhỏ vào tai ông Tiên Chỉ : " Tiền đó của các ông cả đấy còn ngại ngùng gì !"
Đi Tìm Dấu Vết Trí Thức - Khoa Bảng - Kẻ Sĩ
Như Phong
1. Những câu hỏi chưa được trả lời dứt khoát: Dân Việt từ đâu đến? Có chữ viết riêng của mình không? Nếu có, từ bao giờ ? Thời các vua Hùng có chữ viết chưa ? Có phải Tích Quang và Sĩ Nhiếp là những quan cai trị người Hán đầu tiên đã phổ cập Hán học vào xã hội Việt?
2. Từ thế kỷ XI dưới triều đại Lý, nước Đại Việt đã có chính sách giáo dục và đào tạo rất chu đáo. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên, trong đó có Đền Văn học (Văn Miếu). Văn tự chính thức là Hán tự. Ba dòng tư tưởng Nho (Khổng), Thích (Phật) và Đạo (Lão) được hội nhập hài hòa và Việt hóa. Triều đại Trần phát triển chính sách giáo dục đào tạo của đời Lý lên một bước với mẫu người Văn Võ Song Toàn (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) - Triều đại Lê với bộ luật Hồng Đức đưa xã hội Việt tới đỉnh cao "Tam Giáo Đồng Tôn" của sĩ phu Bắc Hà.
3. Cần nghiên cứu hệ thống giáo dục đào tạo ở cả hai khu vực công lập và khu vực tư thục; chính sách của triều đình (nhà nước) về việc tuyển lựa, sử dụng và đãi ngộ nhân tài (thi cử và quan lại); sự tự do lựa chọn chỗ đứng của người trí thức trong xã hội và thái độ đối với triều đình qua các biến chuyển dưới 3 triều đại Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI tới XVI). Việc nghiên cứu này giúp ta có một quan niệm đúng hơn và rộng rãi hơn khi cần phải đặt ra vấn đề phân biệt giới khoa bảng và kẻ sĩ trong những thời kỳ kế tiếp.
4. Từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh (Trịnh/Nguyễn) và cuộc mở mang về phía Nam, giới Sĩ phu bắt đầu phân hóa. Sự xuất hiện lừng lẫy rồi tắt của triều đại Tây Sơn càng làm đảo lộn các giá trị. Triều đại Nguyễn bắt đầu từ Gia Long tới Tự Đức đã "nô dịch hóa trí thức" bằng cách sao chép chính sách giáo dục đào tạo của triều đình Thanh (Ch'ing) của Trung Quốc. Giáo điều của phái Tống Nho được dùng như khuôn vàng thước ngọc để tuyển lựa người có học dùng làm quan lại chỉ biết trung thành với triều đình. Tinh thần "hoài Lê" trong phần còn lại của giới "Sĩ phu Bắc Hà" cho thấy phản ứng của giới trí thức "đường ngoài" đối với Kinh đô mặc dầu cùng chung một gốc là Nho.
5. Nền đô hộ của Đế quốc Pháp được đặt vững ở ba miền Nam, Trung và Bắc từ cuối thế kỷ XIX và đầu XX đã đào tạo hai lớp trí thức mới Lớp Pháp-Hán với trường Thông Ngôn và trường Hậu Bổ (cuối thế kỷ XIX và cuối thập niên 10 của thế kỷ XX). Trường Thông Ngôn đào tạo các viên chức trung cấp giúp việc cho các quan chức người Pháp tại các công sở hành chánh và chuyên nghiệp. Trường Hậu Bổ tuyển lựa những học viên là những người đã thi đậu Cử Nhân Hán học trong các kỳ thi cuối cùng của triều Nguyễn để đào tạo quan lại (mandarin & public servant) cho ngành cai trị ở Trung kỳ và Bắc kỳ.
6. Cuối thập niên 20 của thế kỷ này, nền Hán học ở Việt nam bị đào thải. Nền học chính (instruction) gọi là Pháp-Bản xứ, sau đổi là Pháp Đông Dương gồm bốn cấp: sơ học (3 năm), tiểu học (3 năm), trung học (4 năm), cao đẳng (3-4 năm). Tốt nghiệp trung học được thi tuyển làm thư ký hành chánh (ông phán) hoặc giáo viên. Cao đẳng có sáu trường: Pháp chính (luật và cai trị),Y dược, Công chánh, Thú y, Canh nông, Thủy lâm và Sư phạm. Xã hội thời đó coi các sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng trên đây là giới trí thức mới của Việt nam. Tiêu chuẩn đặt ra cho việc dựng vợ gả chồng trong giới thượng lưu thời thập niên 30: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (không tốt nghiệp cao đẳng không thành vợ chồng).
7. Thập niên 30, các trường cao đẳng được nâng lên cấp đại học: khoa Y (Bác sĩ), Dược ( Dược sĩ), Luật (Cử nhân), Nông Lâm (Kỹ sư). Gián đoạn từ 1945 đến 1950, tiếp tục tới 1954 là chấm dứt thời kỳ do Pháp đào tạo.
8. Việt Nam chia hai. Miền Bắc: hệ thống giáo dục đào tạo kiểu Đại học Nhân dân, tiêu chuẫn Hồng và Chuyên, theo kiểu mẩu Trung Quốc, chuyển dần theo Liên Xô từ năm 1965. Miền Nam: Việt Tính ngày càng nổi trong giáo dục đào tạo các khoa xã hội nhân văn; ảnh hưởng Pháp và Mỹ trong khoa học và kỹ thuật. Đặc điểm mới: Tôn giáo (Phật và Thiên Chúa giáo) tham gia giáo dục đào tạo. Trí thức miền Nam nhất là giới trẻ nhiều phen can đảm tỏ thái độ đối với nhà cầm quyền, điều mà trí thức miền Bắc không dám nghĩ tới.
9. 1975-1994: Giao lưu trí thức Bắc (cộng sản) và Nam (không cộng sản) đã làm nổi bật tính ưu việt của trí thức miền Nam. Sau "đổi mới tư duy", nhất là sau sự tan rã của Liên Xô, chính sách giáo dục đào tạo của Hà Nội chuyển hướng mong bắt kịp tiêu chuẩn của trí thức Sài Gòn của thời 1965: Từ năm học 95-95, học trình trở lại là Tiểu học, Trung học 1, Trung học 2; bằng cấp gọi là Tốt nghiệp Tiểu học, Trung học 1, Tú tài; Đại học là Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ, Thạc sĩ. Phó Tiến sĩ, bỏ. Trường Đại học Luật Khoa mở lại, Công chức trung cấp trở lên bắt buộc phải đi học luật và học thêm ít nhất một sinh ngữ.
10. Hai triệu người Việt di tản đi khắp thế giới. Tính đa dạng của trí thức hải ngoại: thế hệ 70, 50, 30 tuổi, nơi định cư và các trường phái; trí tuệ không biên giới; Việt Tính và nhu cầu hội nhập xã hội mới; tình hoài hương với ước mong đóng góp tái thiết và phát triển..
** Chú thích của Toà Soạn: Nếu muốn tìm hiểu thêm về quan điểm của chữ Đạo ở bài này, các bạn hãy tìm đọc thêm các tài liệu sau đây : 1. The Wisdom of Laotse by Lin Yutang. 2. The Tao of Physics by Fritjof Kaparạ 3. Lão Tử của Thu Giang Nguyễn Huy Cần
Vài Ghi Nhận Thay Vì Kết Luận
Giới trí thức ngày hôm nay là hậu duệ của giới trí thức và không trí thức của nhiều thời đại trước. Trí thức của một thời đại là sản phẩm của chính sách giáo dục đào tạo thời đại đó. Địa vị của trí thức trong xã hội được đánh giá theo tiêu chuẩn mà xã hội đó đòi hỏi. Người khoa bảng không tất nhiên là Kẻ Sĩ và ngược lại. Giới trí thức không đồng nghĩa với Sĩ Phu. Kẻ Sĩ tự đặt ra cho mình một kỷ luật nội tâm để tùy việc tùy thời, tùy đối tượng mà ứng xử với ý hướng vì người hơn vì mình, và sẵn sàng vì Nghĩa Lớn mà coi nhẹ mạng sống của chính mình. Kỷ luật nội tâm này, Kẻ Sĩ coi là Đạo (path). Đạo khả Đạo phi thường Đạo.** Qua thời gian và không gian Đạo của Kẻ Sĩ dường như không thay đổi bao nhiêu theo hướng Chân, Thiện, Mỹ.
1. Những câu hỏi chưa được trả lời dứt khoát: Dân Việt từ đâu đến? Có chữ viết riêng của mình không? Nếu có, từ bao giờ ? Thời các vua Hùng có chữ viết chưa ? Có phải Tích Quang và Sĩ Nhiếp là những quan cai trị người Hán đầu tiên đã phổ cập Hán học vào xã hội Việt?
2. Từ thế kỷ XI dưới triều đại Lý, nước Đại Việt đã có chính sách giáo dục và đào tạo rất chu đáo. Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên, trong đó có Đền Văn học (Văn Miếu). Văn tự chính thức là Hán tự. Ba dòng tư tưởng Nho (Khổng), Thích (Phật) và Đạo (Lão) được hội nhập hài hòa và Việt hóa. Triều đại Trần phát triển chính sách giáo dục đào tạo của đời Lý lên một bước với mẫu người Văn Võ Song Toàn (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn) - Triều đại Lê với bộ luật Hồng Đức đưa xã hội Việt tới đỉnh cao "Tam Giáo Đồng Tôn" của sĩ phu Bắc Hà.
3. Cần nghiên cứu hệ thống giáo dục đào tạo ở cả hai khu vực công lập và khu vực tư thục; chính sách của triều đình (nhà nước) về việc tuyển lựa, sử dụng và đãi ngộ nhân tài (thi cử và quan lại); sự tự do lựa chọn chỗ đứng của người trí thức trong xã hội và thái độ đối với triều đình qua các biến chuyển dưới 3 triều đại Lý, Trần, Lê (thế kỷ XI tới XVI). Việc nghiên cứu này giúp ta có một quan niệm đúng hơn và rộng rãi hơn khi cần phải đặt ra vấn đề phân biệt giới khoa bảng và kẻ sĩ trong những thời kỳ kế tiếp.
4. Từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh (Trịnh/Nguyễn) và cuộc mở mang về phía Nam, giới Sĩ phu bắt đầu phân hóa. Sự xuất hiện lừng lẫy rồi tắt của triều đại Tây Sơn càng làm đảo lộn các giá trị. Triều đại Nguyễn bắt đầu từ Gia Long tới Tự Đức đã "nô dịch hóa trí thức" bằng cách sao chép chính sách giáo dục đào tạo của triều đình Thanh (Ch'ing) của Trung Quốc. Giáo điều của phái Tống Nho được dùng như khuôn vàng thước ngọc để tuyển lựa người có học dùng làm quan lại chỉ biết trung thành với triều đình. Tinh thần "hoài Lê" trong phần còn lại của giới "Sĩ phu Bắc Hà" cho thấy phản ứng của giới trí thức "đường ngoài" đối với Kinh đô mặc dầu cùng chung một gốc là Nho.
5. Nền đô hộ của Đế quốc Pháp được đặt vững ở ba miền Nam, Trung và Bắc từ cuối thế kỷ XIX và đầu XX đã đào tạo hai lớp trí thức mới Lớp Pháp-Hán với trường Thông Ngôn và trường Hậu Bổ (cuối thế kỷ XIX và cuối thập niên 10 của thế kỷ XX). Trường Thông Ngôn đào tạo các viên chức trung cấp giúp việc cho các quan chức người Pháp tại các công sở hành chánh và chuyên nghiệp. Trường Hậu Bổ tuyển lựa những học viên là những người đã thi đậu Cử Nhân Hán học trong các kỳ thi cuối cùng của triều Nguyễn để đào tạo quan lại (mandarin & public servant) cho ngành cai trị ở Trung kỳ và Bắc kỳ.
6. Cuối thập niên 20 của thế kỷ này, nền Hán học ở Việt nam bị đào thải. Nền học chính (instruction) gọi là Pháp-Bản xứ, sau đổi là Pháp Đông Dương gồm bốn cấp: sơ học (3 năm), tiểu học (3 năm), trung học (4 năm), cao đẳng (3-4 năm). Tốt nghiệp trung học được thi tuyển làm thư ký hành chánh (ông phán) hoặc giáo viên. Cao đẳng có sáu trường: Pháp chính (luật và cai trị),Y dược, Công chánh, Thú y, Canh nông, Thủy lâm và Sư phạm. Xã hội thời đó coi các sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng trên đây là giới trí thức mới của Việt nam. Tiêu chuẩn đặt ra cho việc dựng vợ gả chồng trong giới thượng lưu thời thập niên 30: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (không tốt nghiệp cao đẳng không thành vợ chồng).
7. Thập niên 30, các trường cao đẳng được nâng lên cấp đại học: khoa Y (Bác sĩ), Dược ( Dược sĩ), Luật (Cử nhân), Nông Lâm (Kỹ sư). Gián đoạn từ 1945 đến 1950, tiếp tục tới 1954 là chấm dứt thời kỳ do Pháp đào tạo.
8. Việt Nam chia hai. Miền Bắc: hệ thống giáo dục đào tạo kiểu Đại học Nhân dân, tiêu chuẫn Hồng và Chuyên, theo kiểu mẩu Trung Quốc, chuyển dần theo Liên Xô từ năm 1965. Miền Nam: Việt Tính ngày càng nổi trong giáo dục đào tạo các khoa xã hội nhân văn; ảnh hưởng Pháp và Mỹ trong khoa học và kỹ thuật. Đặc điểm mới: Tôn giáo (Phật và Thiên Chúa giáo) tham gia giáo dục đào tạo. Trí thức miền Nam nhất là giới trẻ nhiều phen can đảm tỏ thái độ đối với nhà cầm quyền, điều mà trí thức miền Bắc không dám nghĩ tới.
9. 1975-1994: Giao lưu trí thức Bắc (cộng sản) và Nam (không cộng sản) đã làm nổi bật tính ưu việt của trí thức miền Nam. Sau "đổi mới tư duy", nhất là sau sự tan rã của Liên Xô, chính sách giáo dục đào tạo của Hà Nội chuyển hướng mong bắt kịp tiêu chuẩn của trí thức Sài Gòn của thời 1965: Từ năm học 95-95, học trình trở lại là Tiểu học, Trung học 1, Trung học 2; bằng cấp gọi là Tốt nghiệp Tiểu học, Trung học 1, Tú tài; Đại học là Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ, Thạc sĩ. Phó Tiến sĩ, bỏ. Trường Đại học Luật Khoa mở lại, Công chức trung cấp trở lên bắt buộc phải đi học luật và học thêm ít nhất một sinh ngữ.
10. Hai triệu người Việt di tản đi khắp thế giới. Tính đa dạng của trí thức hải ngoại: thế hệ 70, 50, 30 tuổi, nơi định cư và các trường phái; trí tuệ không biên giới; Việt Tính và nhu cầu hội nhập xã hội mới; tình hoài hương với ước mong đóng góp tái thiết và phát triển..
** Chú thích của Toà Soạn: Nếu muốn tìm hiểu thêm về quan điểm của chữ Đạo ở bài này, các bạn hãy tìm đọc thêm các tài liệu sau đây : 1. The Wisdom of Laotse by Lin Yutang. 2. The Tao of Physics by Fritjof Kaparạ 3. Lão Tử của Thu Giang Nguyễn Huy Cần
Vài Ghi Nhận Thay Vì Kết Luận
Giới trí thức ngày hôm nay là hậu duệ của giới trí thức và không trí thức của nhiều thời đại trước. Trí thức của một thời đại là sản phẩm của chính sách giáo dục đào tạo thời đại đó. Địa vị của trí thức trong xã hội được đánh giá theo tiêu chuẩn mà xã hội đó đòi hỏi. Người khoa bảng không tất nhiên là Kẻ Sĩ và ngược lại. Giới trí thức không đồng nghĩa với Sĩ Phu. Kẻ Sĩ tự đặt ra cho mình một kỷ luật nội tâm để tùy việc tùy thời, tùy đối tượng mà ứng xử với ý hướng vì người hơn vì mình, và sẵn sàng vì Nghĩa Lớn mà coi nhẹ mạng sống của chính mình. Kỷ luật nội tâm này, Kẻ Sĩ coi là Đạo (path). Đạo khả Đạo phi thường Đạo.** Qua thời gian và không gian Đạo của Kẻ Sĩ dường như không thay đổi bao nhiêu theo hướng Chân, Thiện, Mỹ.
Subscribe to:
Posts (Atom)