“ Một học giả đến nhà một vị thiền sư tên Trương Dần xin hỏi về thiền . Thiền sư mời học giả vào nhà dùng trà trước khi đàm đạo . Thiền sư rót nước trà vào chén của vị học giả và chén trà đã đầy mà ngài cứ tiếp tục rót . Vị học giả bèn nói : “ Thưa chén trà đã đầy tràn rồi”. Thiền sư vẫn tiếp tục rót , đáp : “ Ông đến hỏi thiền mà trong đầu còn đầy dịnh kiến.”
Phải chăng có 4 trường hợp xẩy ra :
1/ Vị học giả bừng tỉnh và đốn ngộ .
2/ Vị học giả trở lại một ngày khác .
3/ Vị học giả không đến nữa và giữ im lăng .
4/ Vị học giả ra đi cảm thấy tự ái bị tổn thương rồi nghĩ cách muốn ăn thua đủ,dùng mọi mánh khoé thủ đoạn nhằm thoả mạn tự ái và phô trương kiến thức bác học của mình .
Trường hợp thứ nhất có lẽ không xẩy ra vì nếu xẩy ra thì , ngay khi nhìn thấy chén trà đầy tràn mà Thiền sư vẫn tiếp tục rót , đã ngộ và không nhắc nhở : “Thưa chén trà đã đầy rồi”. Vả lại nếu trường hợp này xẩy ra thì câu truyện này không còn được truyền tụng tới ngày nay và cho ta giá trị của bài học , bài học về một đầu óc mang thành kiến , định kiến .
Trường hợp hai , có thể xẩy ra với hai điều kiện : can đảm và chí thành.
Can đảm cởi bỏ tước vị học giả của mình , cái kiến thức đã tự mình hay người đời đánh bóng , cái kiến thức ấy rõ ràng khập khễnh , nó có thể thực có đó nhưng chỉ có phần trí mà thiếu vắng phần tâm , nó không làm nên con người toàn diện . Không thể đạt. Rõ ràng nhà học giả kia muốn biết một cái gì khác cái mình đang có.
Chí thành là điều kiện tối thiết yếu trước hết để xác tín can đảm là can đảm thật , cởi bỏ là cởi bỏ thật , muốn tìm hiểu là tìm hiểu thật , không tranh chấp , không đố kị .
Can đảm và chí thành đưa đến chí tâm dẫn đến một trí óc rộng mở sáng suốt , một tâm hồn ngay thẳng trong sáng và như vậy mới có thể sẵn sàng đón nhận , học hỏi tư tưởng mới .
Trường hợp thứ ba là trường hợp có thể xẩy ra khi người ta còn đủ lý trí và lương tri và muốn tự mình thanh tẩy để đạt được một kiến thức xâu xa , một tâm hồn không vương vấn bụi trần .
Trường hợp thứ tư là trường hợp dễ xẩy ra hơn cả , hầu như xẩy ra cho tất cả chúng ta chỉ khác nhau ở mức độ nhiều ít , dầy mỏng . Đó là trường hợp không tẩy gột được định kiến , không phá vỡ được những ràng buộc đã và đang có, nguyên nhân đích thực của nó là sự kiêu ngạo và dục vọng .
Có những người giả tảng học hỏi nhưng thực sự là chất vấn dưới hình thức đối thoại. Những người này bắt đầu bằng cách trưng ra các học vị to tát , và áp chế ngay các vấn nạn mà các vị ấy , muốn đem ra nhắm bôi đen vấn đề trong cái gọi là đối thoại của các vị ấy . Đáng tiếc căn bản từ đầu đã làm mất hẳn ý nghĩa của đối thoại . Vì thế chẳng lạ gì đối tượng các vị ấy đòi đối thoại đều im lặng . Thấy vậy thay vì các vị nhận ra sự lố bịch của mình lại vỗ tay coi như chiến thắng , mang thêm một ít vinh quang . Xin nhấn mạnh ở đây không hề đề cập đến các nhà phê bình chân chính . Sự đóng góp của các nhà phê bình này là một cần thiết cho xã hội . Chỉ nói tới các vị khoái đối thoại có ẩn ý cá nhân .Đối thoại không phải là phê bình , phê bình thường mang tính chủ quan , vì thế yếu tính của phê bình đòi hỏi sự vô tư . Đối thoại càng không phải là một dàn xếp để đi đến một thoả hiệp như trong chính trị hay kinh doanh , yếu tính của một thoả hiệp , một
dàn xếp hiệu quả là thành tín . Đối thoại nhằm làm sáng tỏ một vấn đề , giải quyết triệt để một ngộ nhận đưa đến sự cảm thông , học hỏi ,hiểu biết và yêu mến nhau; yếu tính của đối thoại vì thế là phá kiến , triệt tiêu tuyệt đối định kiến . Nếu không triệt bỏ được định kiến thì thà đừng có đối thoại , nó sẽ đi ngược lại với ý nghĩa và mục tiêu chân chính của đối thoại . Đối thoại là cần thiết để nâng cao giá trị con người nhưng phải là một đối thoại chân chính , tuyệt không là đối thoại có ẩn ý , thiên kiến . Cái định kiến ghê gớm như vậy đấy . Nó không phải chỉ đẩy xa kiến thức vào sự què quặt mà còn làm tâm hồn trở thành bất lương.
Phật giáo có vạn pháp để giúp chúng sinh giải thoát . Vạn pháp rút lại chỉ có một Pháp : VÔ NGÃ . Đạt được vô ngã tướng thì đồng thời cũng đạt được vô nhân tướng , vô chúng sinh tướng , vô thọ giả tướng vậy . Phật dậy rằng : Ta là Phật đã thành , chúng sinh là Phật sẽ thành . Ngài chỉ đường đi nhưng chính mình phải tự kiên cường giải thoát khỏi ma chướng. Làm sao tự giải thoát , điều kiện đầu tiên : tẩy sạch định kiến bằng PháChấp.
Chúng ta đừng ngạc nhiên các giảng dậy về giáo lý mang nhiều ý nghĩa uyên áo hầu như đều được đặt dưới dạng dụ ngôn . Dụ ngôn thường là những câu truyện ngắn ẩn chứa ý nghĩa tinh thâm các Ngài muốn giảng dậy , tuỳ theo mức độ nhận thức mỗi người mà hiểu . Chính dụ ngôn cũng không đủ khả năng làm nhiệm vụ trọn vẹn của nó , nhưng đó là hình thức tốt nhất , hữu hiệu nhất , có khả năng làm mới lại trong vấn đề nhận thức . Tuy nhiên chính bản chất của dụ ngôn không đủ chuyên chở cái nó phải chuyên chở tới tâm trí loài người . Vì vậy Đức Phật sau bao nhiêu năm thuyết pháp , Ngài đã giáo hoá cho biết bao môn đệ , các đại sư danh tiếng ; Ngài bảo : Ta chưa từng nói gì ! Phải chăng im lặng mới là thượng sách . Cuối cùng Ngài chọn giải pháp đó đấy , nhưng đó là lúc cuối cùng sau khi các môn đệ đã đạt tới một mức độ thấm nhuần nào đó về giáo lý của Ngài . Chúng ta hẳn nhớ câu chuyện này : Đức Phật lặng thinh , giơ một cành hoa trước mặt đông đảo các môn đệ , mọi người không hiểu gì cả , chỉ có ngài MaCaHaDiếp mỉm cười hiểu được ý Ngài , diệu pháp của Ngài và Đức Phật đã truyền tâm ấn cho ngài MaCaHaDiếp làm tổ thứ hai . Cho hay chỉ có diệu tâm mới hiểu được diệu pháp. Đức Kitô trước khi chịu tử nạn , Người dẫn các môn đệ vào vười Giệt-si-ma-ni , Ngài bảo các môn đệ ngồi một chỗ rồi Ngài đi xa ra một chút , quay lưng lại và không nói gì cả , Ngài im lặng : Bài học cuối cùng cho các môn đệ . Ngài im lặng lâu đến nỗi khi Ngài quay lại , các môn đệ đều ngủ cả ! Các ông không hiểu gì . Lão tử bảo : “ Thánh nhân sống theo vô vi và giảng dậy bằng cách im lặng”.Vậy giữa tuyệt đối im lặng và xử dụng ngôn ngữ và nếu xử dụng ngôn ngữ , dụ ngôn là cách thể hiện hữu hiệu nhất cho một giáo lý uyên áo và sống động vậy . Dụ ngôn của đạo đôi khi chỉ có vài chữ kết như của Đức Phật : “tuổi thọ của con người chỉ dài bằng một hơi thở” hay của Đức Kitô “Gõ cửa thì cửa sẽ mở” . Hai câu này có nhiều ý nghĩa , xin nêu ra một ý : Muốn đạt đạo con người phải tự kiên cường giải thoát những vướng mắc do định kiến , là những cái gây ra sự mê muội , do bởi những kiến thức chỉ nhìn trong một thực tế cục bộ , trong một khuân phép của tin tưởng đã đóng cứng trong môi trường kể cả vô hình và hữu hình. “tuổi thọ của con người chỉ dài bằng hơi thở” đúng quá , dễ hiểu quá ,nhưng làm sao để không ngừng thở , đấy mới là vấn đề . “gõ cửa thì cửa sẽ mở”, dễ hiểu , cửa mở nhưng làm sao qua được cửa , đấy mới là vấn đề . Muốn “không ngừng thở” , muốn “qua được cửa” rõ ràng việc đầu tiên là phải triệt tiêu định kiến , gạt bỏ những ràng buộc ,sự học hỏi mới không bị vẩn đục , nhận thức mới không bị thiên lệch . Đức Phật và Đức Kitô dùng rất nhiều dụ ngôn để giao truyền giáo lý cho dân chúng và phát xuất từ 2 địa đầu của Châu Á , một bắt nguồn từ Ấn Độ , nhưng đã không phát triển ở Ấn Độ , hiện nay chỉ có khoảng 8% tín hữu . Một phát xuất từ Do Thái , nhưng không phát triển được ở Do Thái , hiện nay ở đó cũng chỉ có khoảng 8% giáo hữu . Không có Thiên Sứ nào phát triển ở chính quê huơng mình . Lý dó : Định kiến . Định kiến nó kinh khủng lắm , nó bám rễ , ăn xâu vào tận tâm , tận trí , và từ nhiều đời . Ông Thomas , một trong mười hai môn đệ của Đức Kitô , không tin Thầy ông sống lại. Trước khi tử nạn , Đức Kitô đã nói với các môn đệ : “Sau ba ngày ta sẽ sống lại” . Vậy ba ngày sau , trong khi họp ở một hang núi , người ta nói với Thomas Thầy đã sống lại , Thomas tuyên bố : “Tôi không tin , tôi chỉ tin Người sống lại khi chính mắt được thấy Người , khi chính tay tôi sờ vào thân thể Người , khi chính ngón tay tôi thọc vào vết đâm nơi sườn Người” . Ngay lúc ấy Đức Kitô hiện ra và ông này đã được toại nguyện , đã được nhìn thấy , đã được nghe tiếng nói , đã được sờ thấy , đã được thọc ngón tay vào vết thương của thầy mình .Vì thế mới có câu “Phúc cho ai không thấy mà tin” . Không thể có niềm tin đích thực nếu không gạt bỏ hẳn định kiến , nhất là định kiến hữu hình . Luận lý hữu hình là điều cần thiết phải có để nhận thức tiến bộ , nhận thức về vũ trụ và con người càng tiến bộ bao nhiêu càng cho ta nhận rõ có một Đấng Sáng Tạo , hoặc dưới bất cứ một tên gọi nào . Tiến trình nhận thức của nhân loại được phát triển căn bản nhờ ở tìm ra những định luật , thuyết lý thí dụ định luật sức đẩy của nước của Archimède , định luật trọng lực của Issac Newton , thuyết tương đối của Albert Einstein ... Nhưng những nhà bác học này không phải tạo ra những điều đó mà là các ông đã tìm ra nó . Nó đã có sẵn ở đó . Con người được trang bị tư tưởng và tự do , thể xác và tâm linh để thoả mãn khát vọng hữu hình và siêu hình của mình , hướng nhân loại đến hạnh phúc thực . Đó là ơn sủng của Thượng Đế . Trước khi có các nhà bác học lo mưu cầu đời sống trần thế , đã có các bậc thánh để hướng dẫn tâm linh ; từ bi , bác ái là căn bản của hạnh phúc .Nếu nhân loại còn triền miên đau khổ , sao lại trách Thượng Đế ?Albert Einstein bảo “Giá mà Thượng Đế khôn ngoan hơn” Neil Bhor bèn đáp lại “Đừng có dậy khôn Thượng Đế”. Phải , giá mà Thương Đế sáng tạo một vũ trụ toàn hảo dưới con mắt phàm trần , thì chỗ đứng đâu cho loài người ?. Vậy phải chăng chính cái không toàn hảo là một đặc sủng của Thượng Đế dành cho con người ?
Ta thường nghe : “Trời có đức hiếu sanh” , kinh thánh nói : “Thiên Chúa là nhân lành”. Có khác gì nhau ? Vậy mà chỉ vì một tên gọi khác nhau , một danh từ khác nhau mà có người lấy làm bất mãn , bực dọc . Định kiến kỳ quái thế đấy .
Phải chăng vì con người đã không nhận thức đích thực được đạo từ bi , bác ái ? Đời sống trần thế , của cải , danh vọng , quyền thế , nhục thể đã lôi cuốn con người đi xa vào đường lạc đạo , đội lốt tu hành , giả đạo đức . Các bậc thánh nhân có ai đòi phải ăn ngon mặc đẹp nhà cao cửa rộng ? Trong suốt đời tại trần thế Đức Kitô chỉ sống bằng vài miếng bánh và mấy con cá , lại thường là thiếu hụt .Ngài không bao giờ đòi hỏi phải xây đền thờ cho to lớn mà chỉ đòi hỏi ở đó phải được trang nghiêm tôn kính . Bài học đầu tiên Đức Phật giảng dậy là diệt dục : Tham , sân , si.
Bằng nhận thức , bằng cảm nghiệm Thượng Đế vẫn hiện diện , nhưng con người , chính mình phải gánh vác , trách nhiệm , phải tự kiên cường và sẽ luôn được nâng đỡ che chở . Muốn thế phải dứt bỏ vọng niệm , định kiến . “Có một người mù từ khi mới sanh , xin Đức Kitô chữa khỏi mù loà cho anh ta . Chúa Giêsu , lấy đất bùn bôi vào mắt anh ta và bảo anh ta ra suối Siloac mà rửa . Và người mù được sáng mắt” . Người mù này đã mù từ lúc mới sanh , tức là anh đã mang định kiến từ trước khi anh sinh ra từ giòng dõi gia đình anh ta , một giả giáo chẳng hạn . Khi Đức Giêsu giúp mở mắt anh , đích thân anh phải tham dự tích cực vào việc đó . Trên đường ra suối Siloac , mắt anh vẫn mù , anh phải đến đó tự rửa mắt mình , mắt anh mới sáng được. Nếu tự mình không phá bỏ định kiến thì không ai giúp mình được.
Ngày xưa tiểu tăng Pháp Hiền ngộ đạo nhờ một tiếng quát của của tổ Tỳ-na-đà-lưu-chi : “Tại sao phải có tên” . Tiểu tăng thức ngộ về cái định kiến “phải có tên” đạt ngay được “không” và đã được truyền tâm ấn trở thành tổ Pháp Hiền .
Đức Kitô đưa ra một kết luận trong một dụ ngôn khác : “ Ngươi không thấy cái đà trong con mắt ngươi , sao ngươi muốn tìm kiếm cái rác trong mắt người khác.”Nếu không tự mình làm “mất cái đà” trong con mắt mình , làm sao có được nhận thức chân chính .
Tôi chắp nhặt một vài cánh hoa thơm san sẻ cùng các bạn thưởng lãm , bông hoa còn quá sơ sài , ước mong bạn đọc thêm vào nhiều cánh hoa khác cho thành một bông hoa nhiều cánh hơn , đậm đà hơn.
Trương thế Khôi.
No comments:
Post a Comment