Tuesday, March 4, 2014

Những gì sẽ xảy ra trên thế giới trong năm 2000 and beyond?

Ed- vì toà soạn đợi mỏi cổ không ai gởi bài đến nên có những bài gởi đến đã lâu bây giờ mới được lên báo. Trong trường hợp bài này, chúng ta cần nghiên cứu kỹ và đọc lại (vì đa số đã đọc từ 3 minute 7ND web site) để kiểm xem những lời tiên tri sau đây đúng được mấy trăm phần trăm. Toà soạn cũng thêm ..and beyond. như trên cho hợp tình hợp lý.

Trong ấn bản đặc biệt với chủ đề "The World in 2000", chủ bút Dudley Fishburn của tuần san The Economist, có trụ sở ở Luân Đôn Ờ Anh quốc, đã đưa ra những nhận định như sau.

Năm 2000 sẽ là năm cán cân kinh tế hoàn cầu sẽ có thay đổi. Mức độ phát triển của nền kinh tế to lớn của Hoa Kỳ sẽ bị chậm lại; trong khi kinh tế Âu Châu và Á Châu sẽ gia tăng. Tổng sản lượng kinh tế thế giới sẽ gia tăng 3.5%: một thành quả đáng kể. Một phần ba nhân loại sống ở Trung Cộng và Ấn Độ sẽ đạt được mức độ phát triển kinh tế gấp đôi so với dân chúng ở các quốc gia giầu có nhất trên thế giới. Sự kiện này có lợi cho tất cả loài người.

Năm 2000 sẽ là năm nhiều phương cách sinh hoạt cố hữu của nhân loại sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng trực tiếp và sâu đậm vì/nhờ những thành quả, phát minh của kỹ thuật truyền tin điện toán. Đa số những người sử dụng mạng lưới điện toán toàn cầu Internet sẽ không còn là dân nói tiếng Anh. Riêng trong Hoa Kỳ, tỷ lệ phụ nữ và đàn ông sử dụng Internet sẽ thành ngang nhau. Internet sẽ trở thành ngôn ngữ chung của cả thế giới. Trong lịch sử của nhân loại, chưa bao giờ có một cuộc cách mạng nào có tốc độ nhanh như Internet. Sự liên hợp giữa máy điện thoại lưu động và Internet sẽ mang lại thêm nhiều ứng dụng tin học mới lạ.

Đa số những phỏng đoán đen tối của thế kỷ 20 Ờ thí dụ như ngày tận thế của nhân loại, hay "con bọ điện toán năm 2000" Ờ đã/sẽ chẳng xảy ra. Những cuộc chiến tưởng sẽ không tránh được giữa các quốc gia cũng vậy. Có thể có những xung đột giữa một số quốc gia ở Trung Á, và/hay ở miền Tây Sa mạc Sahara sau một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập dự trù xẩy ra vào tháng Sáu. Tuy nhiên, sẽ không có chiến tranh. Nội sự kiện này thôi cũng đáng để nhân loại reo mừng.

Trong số 30 cuộc bầu cử chính yếu sẽ được tổ chức, 16 sẽ xảy ra trong những nước cách đây 25 năm đã có chế độ độc tài. Đặc biệt có 4 cuộc bầu cử rất đáng được theo dõi. Cuộc bầu cử tự do và phổ thông ở Đài Loan vào tháng Ba sẽ cho thấy luận điệu cho rằng Đông phương cần có những lề luật theo truyền thống Khổng giáo và do đó một chính quyền toàn trị - có nghĩa là tham nhũng - thật ra chỉ là chiêu bài bất lương. Ở Nga Sô, thay vì đến tháng Bẩy, dân chúng sẽ có dịp chọn lựa vị tổng thống dân cử của họ vào tháng Ba sau khi cựu tổng thống Yeltsin đột ngột từ chức. Chưa có dấu hiệu gì cho thấy những khổ đau của dân Nga sẽ sớm chấm dứt. Vào ngày mùng 2 tháng Bẩy, Mễ Tây Cơ Ờ một quốc gia có nhãn hiệu tàn ác, xáo động, và đặc quyền, đặc lợi Ờ sẽ tự đổi mới dù chỉ là từng bước nhỏ một qua một cuộc bầu cử thật sự tự do. Và rồi đến ngày mùng 7 tháng Mười Một, cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ bốn năm mới có một lần. Bao nhiêu tháng ngày điều tra, vận động với những ngân khoản tranh cử tốn kém sẽ chung kết với hai ứng cử viên coi như gần giống nhau về lập trường. Các ứng cử viên này sẽ cố mài dũa những biện pháp hứa hẹn của mình để mong hốt phiếu đa số cử tri chẳng có ý nghĩa gì. Dù kết quả như thế nào đi nữa, Hoa Kỳ may mắn đã toàn thiện được một hệ thống chính trị trong đó lãnh đạo chẳng cần phải mang theo mình những giáo điều để được thắng cử. Nên nhớ rằng ở Hoa Kỳ, dù ứng cử viên nào Ờ Cộng Hòa hay Dân Chủ Ờ đắc cử, tân tổng thống chắc chắn là một người có học thức cao. Hệ thống chính trị Hoa Kỳ thường dễ bị mang ra làm trò cười trên thế giới, nhưng chưa bao giờ tạo ra những con múa rối chính trị.

Ở nhiều nơi khác trên thế giới, tinh thần quốc gia sẽ được thể hiện một cách rất lành mạnh trong các sinh hoạt thể thao. Hãy đón xem Thế vận hội Olympics sẽ được tổ chức tại Sydney vào tháng Chín nếu bạn không được cầm cờ quốc gia đi diễn hành trong các phái đoàn lực sĩ tham dự.

Riêng cho Hoa Kỳ, nghiên cứu tổng hợp tất cả những yếu tố như khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, quân sự, tôn giáo, ý thức hệ, v.v. cho thấy siêu cường quốc đang lãnh đạo thế giới này nhờ có một hệ thống/định chế thực tiễn, thu hút và tận dụng nhân tài trên thế giới, có thể tự sửa chữa, càng ngày càng cải thiện khá hơn, nhìn xa thấy rộng, v.v. sẽ còn tiếp tục dẫn đầu thế giới không những cho năm 2000, mà có lẽ ít nhất trong 50 năm tới.

Chúng ta hãy thử phóng tầm nhìn xa hơn sau năm 2000

Những định hướng chính

Viện nghiên cứu về những định hướng -Trends Research Institute, có trụ sở ở Nữu Ước, Hoa Kỳ Ờ có liệt kê 9 định hướng chính cho thế giới trong thiên niên kỷ mới như sau.

1. Cách mạng về nhiên liệu/năng lượng: Trong vòng 10 năm tới, kỹ thuật mới sẽ chấm dứt sự lệ thuộc của nhân loại vào dầu hỏa và than đá. Nguồn năng lượng mới sẽ không phải từ ánh nắng hay gió, mà sẽ từ các phản ứng nguyên tử có năng lượng thấp (low-energy nuclear), năng lực từ hydrogen, và các máy điện từ trường.

2. Tôn giáo mới: Sự phối hợp của một số những tư tưởng Đông phương - nhất là của những dân bản xứ tiên phong - với những tôn giáo truyền thống Tây phương sẽ khai sanh ra một số tôn giáo mới, cạnh tranh với các tôn giáo chính hiện đang thịnh hành trên thế giới.

3. Thành phần gia đình mới: Gia đình sẽ có định nghĩa mới với ý nghĩa rất bao quát. Những cá nhân sinh sống trong một gia đình không những chỉ gồm bố mẹ, con cái (kể cả con nuôi), mà sẽ gồm bất cứ các cá nhân cam kết sống chung với nhau vì cùng chung ý thích hay nhu cầu. Xã hội loài người sẽ chấp nhận, cũng như các chính phủ sẽ cung cấp phương tiện để hỗ trợ những gia đình có các cặp vợ chồng đồng tính luyến ái, các gia đình chỉ có một bố hay mẹ, các hình thức sống chung tập thể (communal arrangement).

4. Kế hoạch sức khỏe toàn thể (whole-health): Một nghề chuyên môn mới sẽ ra đời: nghề của các chuyên gia lo hoạch định để tổng hợp cũng như dung hòa tất cả những mặt sống quan trọng của con người như: tài chánh, thể xác, cảm xúc, tâm linh, v.v.

5. Thế chiến với các loại khí giới có sức tàn phá rộng lớn: Ít nhất sẽ có một trận thế chiến trong thiên niên kỷ mới. Trong khi các khí giới thông thường vẫn sẽ được sử dụng bởi các quốc gia giầu có, các loại khí giới rẻ tiền, dễ mang theo, và cũng hữu hiệu như hóa học, vi trùng, và nguyên tử sẽ được mang ra sử dụng.

6. Kỷ nguyên kiến thức: Kỷ nguyên Kỹ nghệ sẽ dần dần được thay thế bằng kỷ nguyên mới đặt căn bản trên những thành quả trong các địa hạt trí thức, triết lý, và khoa học.

7. Giáo dục giả tưởng: Các phương pháp giảng dậy mới sẽ phối hợp những tuyệt hảo của thời đã qua, và những kỹ thuật giáo dục tân kỳ. Học sinh sẽ vừa cắp sách đến trường, vừa ngồi ở nhà tham dự những lớp học do hệ thống điện toán giả tưởng (virtual reality) giảng dậy.

8. Chiến Tranh Lạnh Thứ Hai: Một chủ thuyết mới sẽ xuất hiện, thách thức phương thức kinh tế tư bản/thị trường hiện đang được áp dụng khắp nơi trên thế giới theo sau sự sụp đổ của cựu Liên Sô. Sự tranh đấu kinh tế mới cũng vẫn sẽ diễn ra giữa công nhân với các đại công ty, và các chính phủ hỗ trợ các công ty.

9. Phòng tịnh tâm tôn giáo tại gia: Trong hậu bán thế kỷ thứ 20, tư gia là nơi con người trở về nghỉ ngơi sau một ngày làm việc, và di chuyển. Trong thiên niên kỷ mới, tư gia sẽ trở thành một trung tâm để các cá nhân trong gia đình có thể làm việc, học hỏi, hay thờ phụng tôn giáo. Các kỹ thuật tân kỳ của tin học/điện toán sẽ trang bi căn nhà mới với các phương tiện cần có cho các mục tiêu mới.

Một vài vấn đề mới lạ trong tương lai nhân loại

Từ hàng chục ngàn năm trước, cuộc Cách Mạng Nông Nghiệp của nhân loại đã đưa đến những thay đổi tương đối chậm. Tiếp theo, cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, bắt đầu cách đây khoảng 350 năm từ Anh quốc, đã gây nên những biến đổi nhanh hơn trong cuộc sống của con người.

Đến giữa thập niên 1950, Hoa Kỳ đã tiên phong trên con đường tạo lập ra một nền kinh tế mới, trong đó, thay vì đặt căn bản trên năng lực, kiến thức (knowledge) là tài nguyên chính. Kỷ nguyên chúng ta đang sống thuộc cuộc Cách Mạng đặt căn bản trên Kiến Thức (Knowledge-based Revolution), tạo ra những biến động nhanh cấp kỳ, và có tầm ảnh hưởng mạnh và rộng đến khắp nơi trên thế giới về mọi mặt. Lối sống mới này - có thể gọi là một nền văn minh mới, hay là một thứ "siêu văn minh" Ờ được khởi thủy từ Hoa Kỳ, với nhiều cơ sở ở nhiều nơi khác trên thế giới, từ Nhật và Tân Gia Ba, ở Trung Cộng, qua Aán Độ và Ba Tây.

Giai đoạn đầu của cuộc Cách Mạng Kiến Thức là cách mạng tin học/điện toán. Tiếp theo là sự liên hợp (fusion) giữa những sản phẩm của cách mạng tin học (digital revolution) với những kết quả của cách mạng sinh thực và sinh vật học (genetic and biological revolution).

Căn cứ vào lời ông Alvin Toffler Ờ tác giả các tác phẩm Future Shock (1970), Powershift (1990), War and Anti-War - trả lời phỏng vấn của nhật báo USA Today vào hạ tuấn tháng Giêng, năm 2000, về thế kỷ thứ 21, có ít nhất 3 vấn đề hoàn toàn mới lạ, do kỹ thuật mới tác động đến đời sống kinh tế và xã hội con người. Đó là: tiêu chuẩn làm người, chiến tranh mới, và ranh giới quốc gia.

Tiêu chuẩn làm người mới

Kết quả của những cuộc cách mạng của tin học, sinh thực và sinh vật học, sẽ buộc chúng ta phải xét lại định nghĩa truyền thống về con người. Hãy thử bắt đầu bằng di truyền học (genetics). Chỉ trong vòng một hay hai thập niên tới - chứ không cần một thế kỷ - chúng ta sẽ có thể "họa kiểu trước" (pre-design) những hài nhi tương lai bằng cách chế ra những nhân tố (genes) cấu tạo ra đứa bé theo ý chúng ta muốn. Loài người sẽ có thể thay đổi mức độ thông minh của những nhân tố. Chúng ta sẽ có thể cấy những nhân tố của con người vào các sinh vật khác, và ngược lại. Chúng ta sẽ có thể cấy những vẩy điện toán cỡ siêu (microchip) hay cả vi siêu (nano-chip) vào cơ thể con người để chữa chạy những khả năng bị hư hỏng/mất, đồng thời tạo ra khả năng mới lạ mà cơ thể con người từ khi hiện hữu trên mặt đất, chưa bao giờ có. Hiện loài người đã đang chế tạo, và sử dụng những loại vẩy điện toán nửa vô cơ, nửa hữu cơ.

Trong vòng thế kỷ trước mặt, nhân loại có thể sẽ tìm ra những bằng chứng cho thấy đờụi sống ngoài địa cầu của một loại sinh vật nào đó - khác với loài người - là có thật. Và rồi chúng ta sẽ tìm ra đời sống con người đã được mang từ đâu tới, nhờ - thí dụ như - những mảnh kim loại trên trời rơi xuống; hay ngược lại, đời sống ngoài kia có xuất xứ từ quả địa cầu, phân tán bằng các mảnh bụi không gian (dust plumes), bật ra khi những hành tinh nhỏ va vào nhau. Biết đâu đời sống, hay những cấu thể có trước, có thể tồn tại cùng một lúc trên một số thân thể khác nhau trong không gian, qua đó những bộ phận được trao đổi trong một môi sinh rộng lớn hơn cả đời sống? Nếu giả thuyết đó đúng, loài người sẽ đóng vai trò gì trong cấu trúc/hệ thống đó?

Cho đến nay, chưa có đủ lý do để chất vấn định nghĩa thế nào là "người". Nhưng nếu dân Mỹ đã đang hăng say phản ứng về khía cạnh đạo đức của vấn đề phá thai - thậm chí có người đã sẵn sàng giết người khác để áp đặt quan điểm của mình - chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta phải định nghĩa không phải khi nào một mạng sống con người bắt đầu, mà là như thế nào thì mới LÀ con người - và do đó, như thế nào thì mới là "vô nhân"? Chúng ta sẽ định nghĩa cái gì, và với ai về đề tài nhân bản? Và những hậu quả về luật lệ, đạo đức, chính trị, xã hội, và nhiều thứ liên hệ khác sẽ ra sao?

Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta phải đối phó hàng ngày với những "con người" mà cơ thể của họ không chỉ gồm có những nguyên sinh chất (plotoplasm), mà còn có những mảnh máy móc thông minh? Như vậy phải chẳng họ chỉ có một phần là người mà thôi? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu có những trục trặc kỹ thuật khiến những hài nhi được tiền họa kiểu nêu trên ra đời với những khuyết tật, hay những bộ phận có hình dạng hay khả năng khác với con người thông/bình thường? Chuyện gì sẽ xảy ra khi những người máy tự tiện (theo nghĩa không lệ thuộc vào người đã chế ra chúng) tạo ra các người máy khác, có những cử động, hoặc ngay cả những Ầ cư xử (!) càng ngày càng giống con người? Đâu sẽ là ranh giới giữa người-nguyên-chất và người-có-máy-trong-cơ-thể (humanoid)?

Sự hội tụ của những phát triển khác nhau này sẽ dễ đưa đến những khác biệt to lớn giữa những tôn giáo trên thế giới, trong đó mỗi tôn giáo sẽ quảng bá mạnh bạo định nghĩa riêng của mình về nhân bản. Chỉ cần có một tôn giáo hơi quá khích cũng có thể làm nổi giận các tôn giáo khác, có thể đưa đến bạo động. Trong lịch sử nhân loại, nhiều cuộc chiến đã xảy ra chỉ vì đủ mọi loại lý do lạ lùng hơn như thế.

Một sự đồng thuận toàn cầu về những vấn đề như đối phó với đời sống, bản sắc, và tự định nghĩa bản thân vốn đã khó có thể đạt được ngay như nếu chỉ giữa những người hiểu biết, và biết điều. Thực tế sẽ khúc mắc hơn vì giữa chúng ta lại còn có những thành phần cực đoan, và cuồng tín. Thành ra trong thế kỷ mới, nhân loại sẽ phải đối phó với sự phân hóa về đạo đức mà từ trước đến nay chưa là vấn đề cho giòng giống gọi là "con người".

Sự lu mờ của ranh giới quốc gia

Quốc gia - gồm những yếu tố cấu thành như chính phủ, chủ quyền, lãnh thổ, và người dân Ờ liệu có thể trở thành xưa cũ, không cần thiết, hay thích hợp nữa không? Liệu sẽ vẫn còn có Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một Trung Cộng, hay Pháp quốc hay không?

Quốc gia sẽ không biến mất, nhưng rõ ràng càng ngày càng mất đi ý nghĩa, và vai trò trong những sinh hoạt toàn cầu. Có những thế lực khác càng ngày càng được để ý tới trong những diễn đàn quan trọng thảo luận để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Nhiều công ty quốc tế khổng lồ đã có khá nhiều ảnh hưởng trên những sự kiện xảy ra trên thế giới hơn cả các quốc gia. Những tôn giáo nổi lên lại cũng vậy. Hồi giáo rõ ràng là một thế lực chính yếu với quyền lợi trải rộng qua nhiều ranh giới quốc gia. Thiên chúa giáo La Mã - đã đóng vai trò có tính cách quyết định đưa đến sự sụp đổ của cựu Liên Sô, đang có ảnh hưởng đáng kể đằng sau những biến chuyển xảy ra từ Đông Timor qua Croatia.

Ngoài ra còn có những tổ chức phi chính phủ (NGO Ờ non-governmental organizations) sinh sôi nẩy nở ra rất nhanh, từ Greenpeace, đến hàng ngàn các tổ chức khác, tuy chưa nổi tiếng nhưng rất năng động. Những NGO này rất giỏi sử dụng mạng lưới điện toán toàn cầu Internet, và đang càng ngày càng có thêm uy quyền. Những cuộc xuống đường xảy ra mới đây ở Seattle chống Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO Ờ World Trade Organization) mới chỉ là phát súng khai chiến giữa những NGO và những cơ quan liên chính phủ (IGO - inter-governmental organizations) như WTO, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund), Ngân Hàng Thế Giới (World Bank). Các NGO đòi hỏi được có tiếng nói trong các IGO vì các IGO từ trước đến giờ chỉ đại diện cho quyền lợi của các quốc gia, bất kể những tác động tai hại trên môi sinh, và quyền lợi đặc thù của những thành phần, tổ chức khác trên thế giới.

Trước năm 1648 và Hiệp ước Westphalia, loài người đã không có quốc gia theo ý nghĩa hiện nay. Tiền nhân của chúng ta chỉ có những thành phố, hay những lãnh địa của công tước, hoặc vương địa do một ông hoàng cai trị, hay lãnh phận thuộc sự quản trị của giáo hoàng. Hồi đó chẳng ai biết đến tình yêu nước, hay ý niệm trung thành với tổ quốc. Người dân chỉ trung thành với một vị vua, một hoàng tử, hay một tôn giáo, chứ không có trung thành với một quốc gia.

Một quốc gia trong thời đại này phải là một nước có một nền kinh tế hợp nhất, một thị trường quốc gia, và một cơ cấu chính trị rộng rãi tương xứng. Nếu không có thị trường của mình, quyền hành của quốc gia sẽ bị trống rỗng, khiến quốc gia chỉ còn là một lãnh địa.

Hiện nay, thị trường và nền kinh tế quốc gia càng ngày càng trở nên bớt tầm quan trọng. Ngược lại, những thị trường toàn cầu, và nền kinh tế thế giới càng ngày càng trở nên hệ trọng hơn. Những thị trường vùng, và vùng kinh tế liên quốc, hay ngay cả đến những thị trường địa phương, và các nền kinh tế địa phương cũng càng ngày càng có vai trò quan trọng hơn.

Đồng thời, các quốc gia đang có nhiều khó khăn kiểm soát biên giới, lưu hành tiền tệ, giải quyết các vấn đề môi sinh, và điều xử sự trao đổi những nguồn dữ kiện.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy quyền lực của các quốc gia đang sút giảm trên thế giới ngày nay, trong khi những thực thể chính trị mới Ờ hay tuy cũ, nhưng đang hồi sinh lại Ờ cạnh tranh đòi chia xẻ danh quyền. Nhân loại sẽ chứng kiến đủ mọi loại thực thể chính trị mới nổi lên Ờ một số nhờ hệ thống Internet. Có thể cũng có liên minh các quốc-gia-thành-phố liên hiệp với một nhóm NGO Ờ tất cả nối liền với nhau bằng điện tử hay Internet, với biết đâu sẽ có cả khí giới với khả năng tàn phá rộng lớn.

Hiện trên thế giới đang có những vận động chủ trương biệt lập, hay phân hóa. Thí dụ như phong trào "dấy loạn của giới giầu có". Trong quá khứ, chính sự nghèo khổ đã khiến đám đông phải đứng lên đòi hỏi quyền lợi, bằng cách nổi loạn, hay ly khai. Đến nay, những phong trào đó vẫn còn đang tiếp diễn. Ngoài ra - và ngược lại - cũng có những khu vực giầu có đòi hỏi quyền tự quyết, hay quyền được ly khai khỏi quốc gia họ đang sinh sống.

Trong đám dân sống ở miền Bắc Ý Đại Lợi - là vùng giầu có nhất nước Ờ nhiều người theo khuynh hướng ly khai không muốn chung đụng với những đồng bào nghèo khó hơn ở phía nam. Ngược lại, miền nam Ba Tây có kinh tế phát triển rất cao so với miền bắc chậm tiến. Tuy chưa đủ mạnh và quan trọng, một số dân ở miền nam muốn tách riêng miền nam ra khỏi quốc gia Ba Tây. Từ nước này qua nước khác, những khu vực giầu có không muốn tiếp tục phải đóng thêm thuế cho chính quyền trung ương để nâng đỡ các khu vực nghèo kém hơn. Một mặt đâu có ai thích đóng thuế, mặt khác ai cũng biết chẳng có gì bảo đảm tiền thuế, thay vì đến tay dân nghèo, dễ chui vào túi những giới chức tham nhũng.

Các quốc gia ở Au Châu đang đang cố gắng hợp nhất thành lập một nền kinh tế tổng hợp, và thống nhất. Nhưng Liên Hiệp Au Châu sẽ phải chấp nhận cho phép nhiều khu vực quyền tự trị, nếu liên minh này muốn tránh sự đổ máu liên tục, nhất là khi muốn thu nhận thêm các quốc gia hội viên mới. Nhìn lại quá khứ, có lẽ người Anh đã rất khôn ngoan khi giao ước một phần nào quyền tự trị cho Tô Cách Lan, Wales, và mới đây cho Ai Nhĩ Lan. Đây là một biện pháp rất thích hợp để hóa giải những khuynh hướng ly khai quyết liệt đang hiện hữu trên lục địa này.

Bất cứ ở đâu có những nền kinh tế tân tiến, các chính quyền trung ương sẽ phải chia quyền thì mới có thể giữ được vai trò còn lại. Khi các thế lực khu vực cạnh tranh với các NGO xuyên quốc gia, các tôn giáo, và các đại công ty, cùng với các thị trường tài chánh Ờ đang lấn áp các ngân hàng quốc gia trung ương - ai cũng thấy rõ là các quốc gia sẽ phải có những thỏa thuận chia quyền với những thế lực phi quốc gia mới.

Trong các sinh hoạt trên thế giói, ranh giới quốc gia sẽ càng ngày càng trở nên mờ dần.

Liệu thế giới có thể bước qua giai đoạn chuyển tiếp một cách hòa bình để tiến đến một nền văn minh mới có tên cuộc Cách Mạng dựa trên căn bản Kiến Thức, với một nền kinh tế và xã hội căn cứ vào kiến thức hay không?

Chiến tranh mới

Thật là không may, vì thế giới không thể nào có thể lột xác một cách thật sâu đậm và nhanh chóng như thế mà không phải giải quyết để vượt qua những xung đột. Lý do dễ hiểu và căn bản, vì xung đột là mặt trái của đổi thay, nên thay đổi không thể xảy ra khi không có xung đột.

Xung đột, tuy nhiên, không bắt buộc phải đưa đến bạo động. Nó có thể chỉ thể hiện thành những tranh luận chính trị trong các công ty. Xung đột còn có khi đưa đến sáng tạo, và xây dựng. Xung đột có thể có bản chất xã hội, tôn giáo, hay văn hóa trong một cộng đồng, hay một quốc gia. Dù xung đột có thể dạng nào, thiếu nó không thể đưa đến những thay đổi đáng kể. Khi tổng kết tốc độ của những đổi thay mà chúng ta đang trải qua trong kỹ thuật, kinh tế, cuộc sống gia đình, nhân khẩu/dân số học, môi sinh học, v.v. bạn sẽ có thể hoạch định ra một phương thức để đối phó với những xung đột sẽ xảy ra, và sự leo thang của nó.

Lịch sử đã có đầy những xung đột tương tự. Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ bắt đầu ở Anh, đã gây ra 50 năm xung đột chính trị giữa đám đông quần chúng với giới tiểu quí tộc địa chủ. Giai cấp thượng lưu nông nghiệp này cố giữ những quyền lực kinh tế và chính trị không bị mất vào tay nhóm người có quyền lợi thương mãi và kỹ nghệ đang nổi lên. Những xung đột đó đã diễn ra tương đối hòa bình.

Ở Hoa Kỳ, ngược lại, những xung đột tương tự đã nổ ra thành Cuộc Nội Chiến, trận chiến tranh có máu đổ nhiều nhất trong lịch sử nhân loại thời đó. Đó đã không chỉ là cuộc chiến để duy trì Hiệp Chủng Quốc, hay "giải phóng nô lệ" da đen, mà là chiến tranh giữa miền Bắc kỹ nghệ hóa, và miền Nam lạc hậu, sống bằng canh tác nông nghiệp, lợi dụng sức lao động của những người nô lệ da đen. Và quốc gia Hoa Kỳ đã chưa thể phát triển kỹ nghệ toàn diện cho đến khi miền Bắc thắng trận.

Nếu chúng ta hiểu thấu những xung đột trong quá khứ, kinh nghiệm đề nghị rằng khi một làn sóng mới mang lại một loại kinh tế mới, kỹ thuật mới, và một lối sống mới, xung đột sẽ xảy ra với những thành phần có quyền lợi và tâm thần cột chặt với hệ thống cũ. Khi một hệ thống của cải mới được tạo ra, và một lối sống mới ra đời, luôn luôn sẽ có kẻ thắng/lợi, người thua/thiệt.

Ngay hiện giờ còn có những người vẫn tưởng kinh tế Hoa Kỳ chỉ gồm có những dàn ráp nối những bộ phận cho các sản phẩm sản xuất hàng loạt, những ống khói khổng lồ, chính quyền trung ương, và hệ thống trợ cấp xã hội truyền thống, đồng thời đánh giá thấp tầm quan trọng của vốn tư bản vô hình. Họ sợ cuộc cách mạng tin học, sự nổi dậy của kỹ thuật sinh hóa, và nhịp sống nhanh, theo kiểu Internet, do những phát minh mới này mang lại. Nói một cách khác, những cá nhân này là những người bảo vệ lối sống kỹ nghệ tập trung ở thành phố lớn của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ, trong khi nền kinh tế và xã hội căn cứ vào kiến thức Ờ xã hội của cuộc Cách Mạng Kiến Thức Ờ đã đang bắt đầu.

Những xung đột chính trị mới sẽ khiến sự phân loại như phe hữu đối với phe tả, Cộng hòa với Dân chủ, hay Lao động với Tory trở nên mất hết ý nghĩa. Điều đáng kể là thái độ của con người về xã hội và nền kinh tế mới tạo ra bởi cuộc Cách Mạng Kiến Thức. Đó là sự va chạm giữa hai lối sống, hay hai nền văn minh, một đang tàn lụi, và một đang thành hình.

Chúng ta có thể gọi đây là "xung đột chính yếu" (master conflict) vì khi khảo sát nhiều cuộc nội chiến và xung đột xảy ra trên thế giới hôm nay, nhìn ngoài mặt cứ tưởng là vì lý do tôn giáo, hay chủng tộc, "có truyền thống không đội trời chung cả ngàn năm nay", thật ra chỉ là xung đột giữa thành thị và thôn quê, giữa bản chất Cách Mạng Nông Nghiệp và Cách Mạng Kỹ Nghệ.

Các xã hội loài người đánh trận theo cùng một kiểu cách tạo ra của cải. Khi những quốc gia kỹ nghệ hóa nền kinh tế của mình, cùng một lúc, họ cũng kỹ nghệ hóa hệ thống quân sự của họ. Thời đại sản xuất máy móc (machine production) chế tạo ra các loại súng máy (machine gun). Phương cách sản xuất hàng loạt (mass production) chế tạo ra khí giới có khả năng tàn phá hàng loạt (mass destruction).

Vì hiện nay, chúng ta đang tiến tới một nền kinh tế và một xã hội mới của cuộc Cách Mạng Kiến Thức, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Hoa Kỳ lệ thuộc tối đa vào những máy điện toán, kỹ thuật tin học, vệ tinh, các hệ thống truyền tin, và các "khí giới thông minh".

Kỹ thuật căn cứ vào kiến thức, cùng với những thay đổi liên hệ trong tổ chức, học thuyết, cơ cấu sức lực, huấn luyện, và các kích thước khác của sức mạnh quân sự đã khiến Hoa Kỳ dẫn đầu thế giới. Nhưng sự chuyển hóa ra khỏi học thuyết quân sự của cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ căn cứ vào sức mạnh hàng loạt, giao tranh theo vị trí, tấn công tiền diện, các đơn vị cơ động nặng, và những dàn khí giới truyền thống, chưa được hoàn tất. Bên trong Ngũ Giác Đài vẫn còn đang có những cạnh tranh về ngân sách, và những tranh chấp giữa những sĩ quan vẫn chỉ biết sử dụng kỹ thuật chiến tranh theo kiểu kỹ nghệ của Cách Mạng Kỹ Nghệ, chống lại kỹ thuật chiến tranh mới của cuộc Cách Mạng Kiến Thức. Kỹ thuật chiến tranh mới căn cứ vào dự phóng sức lực, điều động nhanh chóng, những đơn vị xung kích nhẹ và nhỏ, đánh sâu và chính xác, sự phối hợp giữa lục quân, hải quân, không quân, kỹ thuật không gian, cùng các yếu tố kiến thức khác.

Trên hết, tất cả những liên quả chiến tranh sử dụng kiến thức của Cách Mạng Kiến Thức vẫn chưa được điều nghiên hết Ờ kể cả ở Hoa Kỳ. Các cuộc chiến trong tương lai sẽ dễ được ngăn ngừa, thắng, hay thua tùy thuộc vào thế thượng phong, hay sự thống trị tin tức/dữ kiện. Và đó không phải chỉ là tiêu diệt bộ máy radar của kẻ địch, mà còn là tận dụng toàn diện và tối đa những kỹ thuật tin học/điện toán. Chiến tranh tin học/điện toán bao gồm nhiều mặt: từ ngụy tạo những dữ kiện chiến lược sai lạc gây hỏa mù, đến hủy diệt những hệ thống tin học chiến thuật của kẻ đối nghịch.

Chiến tranh kiến thức đồng thời cũng bao gồm sự hiểu biết về vai trò của truyền thông/dư luận hoàn cầu khi xung đột xảy ra.

Và chiến tranh tin học có nghĩa không chỉ bao gồm những tài sản/khả năng tin học của quân đội, mà còn phải bảo vệ tất cả những tài nguyên/phương tiện kinh tế và xã hội mà quân đội đó lệ thuộc vào.

***

Nhân loại sẽ đi về đâu, sinh sống ra sao trong thế giới mới? Khó có ai có thể trả lời chính xác. Tuy nhiên những ai có chuẩn bị sẵn, để có thể đối phó với những vấn đề hoàn toàn mới lạ, sẽ dễ hiểu được những biến đổi của đời sống, đồng thời có nhiều lợi thế hơn những người khác trong thế giới tương lai.

Nguyên Giao
San Diego, Hoa Ky

Dòng Sông Sinh Mệnh

Cũng như đêm cuối cùng của Ðường Tăng trằn trọc không sao ngủ được, chờ ngày mai vào yết kiến Như Lai để lên kiếp Phật, Cụ Phúc đêm nay cũng vậy. Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Cụ nằm trăn trở nghĩ đến cả mười năm trời đằng đẵng, từ khi đủ năm để hợp lệ nạp đơn đến những đêm đứa con trai đi làm về chở cụ đi học lớp luyện thi vào quốc tịch ở văn phòng USCC. Cụ nghĩ nó như con thoi giữa hai thế hệ. Trong tuần đưa cụ đi học tiếng Anh, bắt cụ phải trả lời điện thoại "hello" chứ nói "tôi nghe đây" làm sao Mỹ hiểu được. Cuối tuần đưa con đi học tiếng Việt, mắng con gọi xe " fire truck" là "xe lửa", phải nói là "xe cứu hỏa" hay "xe chữa lửa" chứ. Nhiều lúc cụ thấy phải chi mà thằng chắt đi học tiếng Anh, còn cụ đi học tiếng Việt thì mới đúng theo lý tự nhiên của trời đất.

Thoạt đầu cụ tưởng cả lớp luyện thi quốc vào quốc tịch này, đầy những cụ tuổi gần đất xa trời, học để giết thì giờ, cho bớt nỗi buồn xa xứ. Vậy mà ngày bà cụ Ngà thi rớt, cả lớp xôn xao lên như ngày Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam.

Thực ra thì bà này rớt cũng đáng đời lắm. Ðời thưở nào ông tòa hỏi tổng thống Mỹ là ai, bà cụ lại trả lời là Nguyễn văn Thiệu thì đậu làm sao được. Sinh nhật người nào trong lớp, bà cũng làm cho một cái bánh ga-tô rồi bắt các cụ vây quanh hát "happy birthday". Cụ không biết đến ngày chết thì người ta có hát "happy deathday" không, bởi vì cụ nhớ bên quê nhà những ngày kỵ giỗ mới thật là quan trọng. Con cháu tụ họp ăn uống 2, 3 ngày liền. Chứ ngày bước vào trần thế khổ ải này, người ta phải dày công tu hành để thoát ra khỏi vòng luân hồi, thì mừng rỡ ngày sinh để làm gì?

Vậy mà thời gian thấm thoát qua đi, rồi cũng đến ngày cả lớp đi thi. Các cụ sáng sớm đã ngồi đầy ra ngoài phòng đợi của sở di trú trong tòa đô sảnh thành phố. Cụ nghĩ ngày xưa đi thi Hương, thi đình cũng chỉ nhộn nhịp đến thế là cùng. Con cháu đem theo cho nào là bánh trái, nước uống, cả ghế xếp để ngả lưng, như thi vào quốc tịch đến mấy ngày trời. Bây giờ trí nhớ các cụ kém cỏi, học được tiếng Mỹ chữ nào, vài bữa lại quên hẳn đi không biết phát âm làm sao. Cho nên đi thi, cụ nào cũng viết chi chít, như xâm mình trên tay, các câu trả lời phiên âm ra tiếng việt. Thằng cháu cụ Tốc thì cứ nhắc đi, nhắc lại ngoại nhớ ngày lễ quan trọng nhất của Mỹ không phải là tết, mà là ngày Ðộc Lập. Cụ lại kéo tay áo lên lẩm bẩm kiếm chữ IN ÐỜ BÊN ÐĂNG. Bà cụ Ngà hỏi với qua " có phải là ngày Tây về nước không, cụ Phúc ? ".

Cụ thở dài, biết ông tòa muốn đánh rớt thí sinh nào thì chỉ cần bắt hát bài quốc ca Mỹ là thí sinh đó rớt ngay. Vậy mà trời phù hộ, cả lớp đậu hết. Cụ còn nhớ ngày ăn mừng tân khoa, cụ nào cũng hí hửng như những đứa trẻ con vừa lên lớp, cầm vẫy lá cờ Mỹ để chụp hình lưu niệm. Bà cụ Ngà hôm ấy đẹp hẳn ra, mặc cái váy đầm thay cái quần đen vừa congratulations, vừa high-five, vừa hug mọi ngườị Cụ thấy mọi người như trẻ ra dến cả chục tuổị Có thể là vì cái ôm nồng nàn da thịt của bà cụ Ngà làm cụ thấy trong người đổi thay như cả một mùa xuân hừng hực kéo nhau về. Có thể là vào quốc tịch mới, làm người ta tưởng như đổi thành một kiếp người khác, trở lại cái tuổi tập ăn tập noí, nên hồn nhiên như một đứa trẻ thơ.

Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc. Một phần là vì cụ cứ nghĩ đến ngày mai ở tòa đô chính, ông thị trưởng thành phố tổ chức nghi lễ tuyên thệ vào quốc tịch riêng cho cộng đồng người Việt, để đánh dấu một chặng đường gần phần tư thế kỷ tàn cuộc chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam. Ông chủ tịch mấy hôm nay hăm hở nhắc nhở bà con mặc đồ cho đẹp để lên truyền hình. Mọi người học thuộc lòng câu "I am proud to be american" để khi báo chí radio người Mỹ phỏng vấn thì tỏ ra cộng đồng người Việt mình mau hội nhập hơn các cộng đồng sắc tộc khác.

Cụ cữ nghĩ tới lúc trước cử tọa cả ngàn người, có thống đốc tiểu bang, nghị sĩ dân biểu quốc hội, quan chức các ngành, người ta gọi tên cụ lên khán đài nhận bằng công dân Mỹ, là cụ lại xốn xang trong người.

Chả vì cụ ngang bướng giữ cái tên cúng cơm của cụ Tên họ trong tờ khai sinh cụ là Dư Quí Phúc.Ỏ trại tỵ nạn, cụ đã bao nhiêu lần cãi gàn cãi bướng với mấy người thông dịch viên là tên cụ phải có dấu mới là tên của cụ Tiếng Việt một chữ có hằng chục nghĩa nếu không bỏ dấụ Thí dụ như LO có thể là lờ, lợ, lỡ, lơ, lộ, lô, lố, lồ, lỗ,lo, lọ,lò,ló, lõ.. . Vậy mà có ai nghe cụ đâu, người ta cứ điền vào tên trước họ sau.

Cho đến hôm cụ còn nhớ mãi ngày nhà thờ First Bapstist bảo trợ gia đình cụ đến thành phố này. Hôm ấy chủ nhật, nhà thờ đông đảo chật cứng đến nỗi người ta phải đứng lan ra ngoài hành lang. Ông mục sư trịnh trọng giới thiệu gia đình cụ mới dịnh cự Cứ mỗi lần tả cảnh gian khổ gia đình cụ trải qua, cả nhà thờ lại xướng lên Alleluja có nghĩa là ngợi khen chúa. Cuối cùng ông mục sư nói dõng dạc giới thiệu cụ Please welcome, Mr. Phuc Du. Cái giọng ông oang oang lên "Phuc Du !" Cả nhà thờ đang xôn xao bỗng im lặng như chiếc xe lủa thắng gấp lại rồi lấy trớn lao tới cười nghiêng, cười ngửa. Ông mục sư ngơ ngác sửa lại gọng kiến, nhìn xuống tờ giấy viết tay rồi đọc lại tên cụ lần nữa Phuc Du. Lần này đến phiên ông mục sư gấp người lại làm đôi, cười sặc sụa nước mắt nước mũi chảy ra. Cụ Phúc chân ướt chân ráo, tưởng đó là phong tục địa phương chào đón mình đứng bụm hai tay đưa lên trán bái tứ hướng để cảm ơn sự ưu ái của nhà thờ.

Sau này ông mục sư cho người đến đề nghị cụ đổi tên gọi để lấy lại sự nghiêm trang. Một là cụ lấy hẳn tên Mỹ như John, Peter, Larrỵ.. cho dễ gọi Hoặc phiên âm tên cụ tiếng Việt Ông Phúc Dư ra tiếng Mỹ là Mr. Foot Joy.

Cụ bực lắm, tên cụ từ Việt Nam là Quí Phúc, nghĩa là ơn phước quí báu của trời phật ban cho, sang đến đây thì lại thành Túc Hân , là bàn chân hân hoan. Cụ bỏ xứ sở ra đi, mất hết chỉ còn một cái tên Việt là cái di sản gốc gác của cụ mà đành phải mất luôn sao. Từ đó cụ không đi nhà thờ Tin Lành nữa, nhưng tên cụ thì cứ tạm thời giữ vậỵ Cụ đi tỵ nạn vài bữa, khi nào quốc gia trở lại chế độ Cộng Hòa thì cụ lại dắt các con cháu về. Thà làm cụ Phúc nước Việt, hơn làm cụ Túc nước Huê Kỳ.

Thế mà đêm nay cụ lại trằn trọc...

Ngày mai cụ tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ. Thế mà cụ Phúc lại trằn trọc đêm nay không sao ngủ được. Cũng bởi vì mấy hôm trước các cụ tân khoa bàn về chuyện tiếp tân mừng ngày nhập tịch Mỹ. Bế tắc từ đầu chỉ vì các cụ phải chọn món ăn cho buổi tiệc. Món ăn nào đãi khách vừa thích hợp với quốc tịch mới, vừa có bản sắc dân tộc.

Ông Hai Bò lên tiếng ngay. Ông này tên việt nam là Cao Văn Tự, trong giấy tờ viết là Tu Cao. Mỹ đọc là "two cows" nghĩa là hai con bò. Từ đó có tên Hai Bò. Vốn là dân thông dịch viên cho Mỹ ở căn cứ Long Bình, sang bên này ông bán bảo hiểm nhân thọ. Cụ nào mà được ông kéo riêng ra góc phòng đều sợ run lên như tử thần đến, vì ông Hai Bò cứ thúc dục luôn "cụ thử nghĩ coi cụ còn sống được bao lâu, trời gọi ai người nấy dạ. Thú chết để da, người ta chết để tiếng.

Mấy cụ qua đây ăn phút tem thì có tiếng gì mà để, chi bằng mua cái bảo hiểm nhân thọ, đến khi chết để lại cả bạc triệu cho người ta xây một cái chùa hay nhà thờ có phải là tên tuổi mình khắc vào bia đá nghìn năm, bất tử với đời không". Tưởng ông dọa chết thì cóc ai thèm mua, thế mà từ ngày cụ Hanh mua cái bảo hiểm nhân thọ đầu tiên, Hai Bò bỗng đắt khách như tôm tươi.

Chả vì cụ Hanh mới đoàn tụ gia đình vài năm naỵ Mấy đứa con qua từ năm 75, nhà cao cửa rộng, ngày cụ đến phi trường không thấy đứa nào ra đón. Thằng Tư thì đùn cho chị Ba, vợ thằng Bảy thì nói nhà nó có lầu cao, sợ ổng già đi chỏng gọng, té bể đầu. Hôm ấy, cụ Hanh lủi thủi đi với bà Mỹ USCC về ở cái phòng trong khu housing Mỹ đen. Hôm nghe Hai Bò dụ mua bảo hiểm nhân thọ, lại chịu lấy bằng phút-tem, cụ Hanh mua ngay. Vài hôm tin đồn cụ có cái bảo hiểm bạc triệu, mấy đứa con bỗng có hiếu ra, tranh nhau mời cụ về nhà ở. Chồng con Năm Thúy đánh lộn với thằng Tư chỉ vì tội không để cho nó báo hiếu nuôi ông già vợ Ngày nào cụ muốn ăn thức gì, đám con rối rít đi mua về ăn không hết. Có điều hơi lạ là không đứa nào mua sâm cao-ly để cụ uống cho khoẻ người, sống thọ thêm ra. Thỉnh thoảng trái gió trở trời, cụ mới ho hen cảm cúm nằm trên giương vài ngày là cả nhà xúm lại bàn chuyện làm cái di chúc sao cho hợp lệ với thủ tục tiểu bang, để lãnh tiền bảo hiểm mà không phải đóng nhiều thuế.

Thấy cụ Hanh chỉ mua cái bảo hiểm nhân thọ mà được con cái hậu đãi, đi học mặc áo vest, cầm phone tay thì các cụ ngộ ra rằng tội gì ở xứ cờ hoa này mà không làm triệu phú. Sống trên đời mà không mua bảo hiểm nhân thọ, xuống âm phủ biết có hay không, bèn ùn ùn theo năn nỉ Hai Bò để được giá rẻ. Chết được bonus một cái hòm cẩm lai của nhà táng xác tặng quảng cáo. Hai Bò bỗng dưng trở thành ân nhân của hội bô lão, nên khi Hai Bò nói bất cứ cái gì, mọi người đều lắng nghe.

Hai Bò trịnh trọng xoa hai tay vào nhau. "Cái tradition của người Mỹ từ trước đến nay, party mà có tính cách dân tộc là phải có barbecue. Barbecue là chữ ghép bởi hai chữ barbarian and cuisine có nghĩa là cách nấu ăn mọi rợ. Ám chỉ một sinh hoạt văn hóa bán khai của người da đỏ. Họ mới là người Mỹ chính hiệu con nai vàng. Tuy những người da trắng đến đây, dùng võ lực cướp hết đất đai của người da đỏ để lập nên Hiệp Chủng Quốc, người Mỹ luôn luôn nhắc nhở con cháu họ ông tổ Mỹ là người da đỏ bằng cách ăn barbecue. Do đó chúng ta trở thành công dân Mỹ, uống nước nhớ nguồn, drinking water remembering origin hole. Tôi xin đề nghị món ăn barbecue"

Cụ Can't Do đứng lên khua tay phản đối. Tên thật cụ là Ðỗ Thành Cẩn. Viết theo lối Mỹ tên họ tên lẫn tên đệm là Can T. Do. Bà cô dậy Anh ngữ thấy cụ không bao giờ làm homework, đọc luôn là "Can't Do". Cụ là người duy nhất không mua bảo hiểm của Hai Bò vì bà xã cụ còn sồn sồn. Cụ chỉ sợ có bảo hiểm nhân thọ thì nhiều khi chết sớm vì lâu nay cụ Can't Do không còn hăng hái trong chuyện phòng the, mà vợ cụ còn xuân xanh lắm. Ngày xưa bán bánh cuốn ngoài chợ Thị Nghè, vợ cụ ngồi xổm nhiều nên cái bàn mông mẩy ra tròn trịa to như hai cái lồng bàn.

Ở việt nam thì cái quần đen với cái áo bà ba che hết đi, qua Mỹ mặc cái quần jean vào nó lồ lộ, khêu gợi làm sao. Thế mà cụ Can't Do lại cứ cố tình phớt lờ như thể cụ là một nhà hiền triết đạo mạọ Ngày nào cụ cũng tập Tai Chi cho cứng gân cứng cốt, mà hễ cứ gần vợ cả người cụ rủ nhau mềm ra như bún. Lần nào vợ cụ cũng thở dài thườn thượt, bảo cụ chết quách cho xong. Nói vậy thì cụ mua bảo hiểm nhân thọ để làm quái gì. Nghe Hai Bò trình bày món ăn barbecue, cụ Can't Do gạt phắt đi.

"Miếng thịt Barbecue là biểu tượng cái đầu óc thực dân, kỳ thị của người da trắng. Họ coi sự chinh phục những người bản xứ da đỏ là một chiến thắng vĩ đại trong lịch sử Hoa Kỳ. Món barbecue của người Mỹ thường là do các đấng mày râu đứng nướng để biểu lộ hùng tính và cương vị thủ lãnh của phái nam, nhắc nhở chúng ta hình ảnh các chiến sĩ xẻo thịt rồi xóc vào gươm mà nướng để khao thưởng sau các trận mạc. Nước mỹ là nơi melting pot, hợp chủng quốc. Món ăn tiêu biểu phải là hamburger, món thịt bằm hầm bà lằng. Người Mỹ ăn hamburger còn để nhắc nhở con cháu họ về cuộc chiến Nam Bắc phân tranh tương tàn của họ Tôi xin đề nghị món thịt bằm hamburger".

Bà Loan To, tên việt nam là Tô thị Ánh Loan, Mỹ đọc là Lon To, đưọc dịp đứng lên phát biểu. Bà này có chồng Mỹ da đen Frank Quaker, hoả đầu quân của lính bộ binh Mỹ tham chiến thời ông Thiệu. Nên tên bà có thêm họ Mỹ là Loan To Quaker. Mấy cụ trong lớp thì việt nam hoá tên bà là Loan To Quá-Cỡ. Bà Loan To phát biểu "dạ tui không biết nhiều về lịch sử Mỹ, chỉ biết ngày đầu tiên về nhà chồng được ông xã tôi cho ăn món Hot Dog. Tui thấy hot dog mới là biểu tượng đúng cho chức vị siêu cường quốc, hùng mạnh của nước Mỹ. Tui xin đề nghị Hot Dog, mà size loại Jumbo à nghen ".

Bà cụ Ngà ngồi bên đắc ý hùa theo "cũng là bò mà thịt bò Mỹ nó khác thịt bò Việt Nam chị ạ. Ðể cả tuần trong tủ lạnh, bỏ ra nó cứ đỏ ửng lên. Còn thịt bò Việt Nam mình để từ sáng đến trưa nó tái hẳn đi như thịt trâu ấy".

Các cụ ông lấm lét nhìn nhau không biết bà cụ Ngà đang bàn về văn hóa của những miếng thịt hay nói xéo qua về những đồ gia dụng hàng ngày của các cụ ông.

Cụ Quýnh trưởng ban tổ chức thấy mọi người nhao nhao lên, nên theo tinh thần dân chủ của Mỹ đề nghị là sẽ có cả ba món barbecue, hamburger và hot dog. Ông Hai Bò lại có thêm ý kiến để có tinh thần Mỹ Việt đề huề, các món ăn trong thực đơn phải dịch ra tiếng việt. Cụ Quýnh sẽ cho ghi bên cạnh là barbecue ( thịt nướng kiểu mọi ), hamburger (thịt bằm dập ), hot dog (thịt chó nóng ).

Ðã gần nửa đêm mà Cụ Phúc chưa thấy ai lên tiếng về phần món ăn việt nam. Có thể là vì người việt mình ở Tây phương trong những xã hội tự do nhất hoàn cầu lại cảm thấy mình như côi cút, lạc lối, xa lạ cả với chính tình tự quê hương của mình. Từ xưa đến nay cụ vẫn tự hào về bản sắc văn hóa riêng biệt của người Việt. Ra ngoại quốc cụ thấy rằng cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là Việt tính, nay chỉ còn lại chẳng bao nhiêu là Việt, mà tính cũng chẳng còn là bao; cái mà xưa nay ta vẫn tưởng là của ta, ngờ đâu chỉ là cái đàn cha, đàn chú, đàn anh của ta vay mượn từ lâu của ngoại nhân. Với cái hoang mang đo, cụ nghĩ đến câu văn hào Paul Valry "Muốn biết văn hóa của giống dân nào thì cứ nhìn vào sinh hoạt hàng ngày của giống dân đó". Cụ nghĩ nếu đãi khách bằng một món ăn có bản sắc dân tộc, biểu tượng cho người Việt thì phải chọn là món ăn gì.

Không gì Pháp bằng crêpe, không gì Mỹ bằng hamburger, không gì Ý bằng pizza, không gì Ðức bằng bratwurst, không gì Mễ bằng taco, không gì Nhật bằng sushi. Còn Việt nam là phở ư ?

Ở bên này Cụ thấy hầu hết những đám cưới, đám hỏi người ta giữ đủ phong tục nghi lễ cổ truyền mà có đám nào đãi ăn phở đâu mà gọi là món ăn dân tộc? Hay là tại sao mình không tổ chức tiếp tân tại nhà hàng Tàu cho tiện. Chỉ có thế thôi mà giông bảo nổi lên trong phòng hội chỉ vì sự khủng hoảng về hiện tượng bám víu thê thảm vào cái tính đồng nhất riêng biệt của hành trang ý thức và tình cảm quê cha đất tổ.

Trời đã quá đêm. Ánh trăng còn lại một chút trên khung cửa ẩm uớt hơi sương. Cụ Phúc vẫn còn nằm tran trở không sao ngủ được ...

DSM
(Chôm từ somewhere by NLB)

Hữu Thể Tự Hư Vô

Truyện ngắn Nguyễn Kỳ Phong
Gởi Phạm Kim Thủy

Tôi đến thăm Hạnh vào một buổi tối thứ năm, khi trời bắt đầu chuyển mưa. Những cơn mưa rào bất thường của đầu xuân. Ban đầu Hạnh ngần ngại, không muốn tôi đến -- nhất là vào tối thứ năm - nhưng khi nghe tôi năn nỉ, nói là tôi chỉ đến kiếm một chút gì đó để ăn rồi về, nàng miễn cưỡng nhận lờị Buổi chiều khi về đến nhà, nhìn vào đống nồi, chén trong bếp, và cái tủ lạnh trống trơn,

đói, nhưng tôi không muốn làm cơm (phải đi chợ, tìm chỗ đậu xe, xếp hàng trả tiền, làm cơm rồi ăn một mình ... thà nhịn đói còn hơn. Tôi khẳng định). Nhớ đến Hạnh, tôi gọi nàng. Hơn một tháng rồi, tôi chỉ liên lạc bằng điện thoại chứ chưa gặp nàng.

Từ ngoài, qua khung cửa sổ, tôi thấy Hạnh ngồi bất động coi TV. Tối thứ năm là một tối không thể nào nàng không coi TV. Ðó là đêm đài truyền hình có những vở kịch xã hội nàng rất mệ Nàng không muốn tôi đến thăm nàng tối nay vì tôi vẫn chọc nàng về những vở bi hài kịch "xà bông bột" -- soap opera - đó. Có lần tôi thấy nàng khóc về một vở kịch đã làm cho nàng xúc động. Tôi nhìn nàng, không hiểu tại sao lại có được một người dễ xúc động như vậỵ "Ðó chỉ là một vở kịch. Hơn nữa, tình cảm chỉ là một sự diễn xuất của một thái độ đối với một người, ở một hoàn cảnh đặc biệt nào đó ... Tại sao em dễ xúc động như vậỷ", tôi nói với Hạnh. Và nàng giận tôị Không cho tôi gần khi nàng "thưởng thức" những vở kịch đó. Có lẽ đó cũng là một trong những lý do đã làm cho chúng tôi không còn yêu nhau -- như là đôi vợ chồng.

Tôi và Hạnh đã ly dị nhau gần hai năm, sau khi lấy nhau hơn bốn năm. Ðó là một cuộc ly dị rất êm đẹp: không con, không có nhiều tài sản để tranh giành, và nhất là không có lỗi lầm nào để oán trách nhaụ "Incompatibility" -- không hợp nhau -- đó là lý do chánh mà tôi và Hạnh đã ưng thuận đề trên tờ ly dị.

Tôi và Hạnh vẫn gặp nhau thường xuyên trong thời gian ly thân và sau khi đã ly dị, để thăm hỏi, giúp nhaụ Nàng lấy cái nhà, tôi lấy cái xe và một ít tiền. Tôi mướn một căn phòng ở gần nhà Hạnh để có thể lui tới khi nàng cần tôi (thay bình điện, bình nước xe của nàng vào mùa đông, kiểm soát cái máy lạnh vào mùa hè, và những việc khác có dính dáng tới "dầu mỡ!"). Và nàng cũng đến thăm tôi, thỉnh thoảng nấu cho tôi một tuần đồ ăn. Không giống như lúc còn lấy nhau, chúng tôi ít cãi vã nhau hơn. "Mình hợp với nhau như là bạn hơn là vợ chồng", Hạnh nới với tôi nhiều lần sau khi đã thôi nhaụ Tôi cũng nghĩ như vậỵ Tôi quá trừu tượng để Hạnh yêu tôi như một người chồng được. Nhưng chính Hạnh biết điều đó từ khi quen nhaụ Và ở nàng, tôi cũng thấy một cái gì đó rất ủy mị về tình cảm, ngay cả trong thái độ hằng ngày của nàng.

... Những tối thứ năm, mùa xuân, và có mưa như đêm nay, Hạnh thường ngồi xem kịch trên truyền hình, hít mũi sụt sùị Tay cầm khăn giấỵ Mới nhìn khó biết được nàng đang khóc hay là đang xổ mũi (vì nàng bị dị ứng với phấn hoa của mùa xuân). Trong đêm, tiếng hít mũi, tiếng động của mưa rào từng cơn, và sự im lặng tuyệt đối của nàng, làm cho người ngồi kế bên thấy như bị kẹt, không thoát được trong cái thế giới tình cảm đang được diễn xuất trên màn ảnh. Và nàng rất im lặng khi xem mấy vở kịch.

Sau bữa ăn, tôi pha một ly cà phê cho tôi và một ly sữa nóng cho Hạnh, đến ngồi gần nàng. "Saỏ Em chọn được loại xà bông nào chưả", tôi hỏi nàng sau vở kịch (tôi vẫn thường chọc Hạnh như vậy, sau khi đã giải thích cho nàng biết lý do tại sao người ta gọi đó là soap opera: Trước đây, những hãng xà bông thường mua trọn quảng cáo trên chương trình nầy để thu hút những bà, cô nội trợ, thế nên trong suốt vở kịch chỉ toàn là quảng cáo xà bông!).

"Buồn quá anh ơi!" Không để ý đến câu pha trò của tôi, Hạnh nói.

"Vở kịch?" Tôi hỏi.

"Ờ, vở kịch. Vở kịch đó làm em buồn."

"Vở kịch nó "nói" ra làm saỏ" Tôi cố gắng không chọc nàng.

"Về chuyện một đôi vợ chồng khi ly dị rồi mới biết được cả hai vẫn còn yêu nhaụ Và khi xa rồi, họ mới thấy được cái hiện hữu của nhau. Nhưng cả hai không nói ra vì sợ người kia không giao cảm được ý nghĩ của mình."

"Em vẫn còn yêu anh?" Tôi ngạc nhiên và hỏi nàng một cách rất thành thật.

"Không, em buồn vì em muốn nói với anh là sẽ lấy chồng vào tháng tám nầỵ Tự nhiên em thấy buồn khi nghĩ về anh. Những ý nghĩ này chưa bao giờ đến với em trước đâỵ Có lẽ em sẽ không còn có anh được nữạ Dù rằng, "có anh" ở đây không nằm trong nghĩa như một người chồng hay như tình nhân, mà như là một người bạn. Nhưng anh lại không phải là một người bạn trong một ý nghĩ thông thường. Mình có một quen thuộc nào đó làm cho em gần anh hơn. Chỉ khi mất nhau rồi mình mới thấy cái hiện hữu của nhaụ Anh hiểu không anh?" Hạnh ngồi nhìn ra cửa sổ, nói với tôi với một giọng rất nhỏ.

Tôi ngồi yên lặng bên Hạnh. Việc Hạnh đi lấy chồng bất ngờ cũng làm tôi bị xúc động một chút. Tôi mất Hạnh như một người vợ sau khi ly dị; tôi sẽ mất nàng như một người bạn khi nàng lấy chồng. Rồi tôi sẽ không còn ghé qua nhà nàng để "kiếm cái gì ăn rồi về". Tôi sẽ không còn chọc nàng về những "vở-kịch-xà-bông-bột" đã làm cho nàng khóc thút&127;thít. Cái buồn sẽ hiện rõ hơn khi nàng vắng mặt trong đời sống của tôị Tôi rất ngạc nhiên về những ý nghĩ mà Hạnh nói với tôị Chưa bao giờ nàng "triết lý" như vậy!

Tôi nhìn nàng, trong lòng dâng lên một tình cảm thật thấm thía của tôi đối với nàng trong giây phút đó. Ðây là một tình cảm thật lạ, tôi chưa bao giờ kinh nghiệm một tình cảm như vậỵ Dù trong suốt thời gian lấy nhau.

"Anh tặng em cái gì khi em đi lấy chồng?" Hạnh hỏi đùa, hình như để phá sự yên lặng. Qua làn giấy mỏng của cái khăn nàng đang giữ chặt trên mũi, giọng nàng khàn khàn như một người sắp khóc.

Tôi không trả lời, nhích người ngồi gần Hạnh hơn. Bàn tay của nàng thật lạnh khi tôi nắm.

Có một thời gian lúc quen nhau, tôi đã nói cho Hạnh nghe nhiều về những ý nghĩ của tôi về tình yêu, về sự ly dị, về những liên hệ của những đôi tình nhân. Không nhất thiết là chỉ về liên hệ của tôi với Hạnh, tôi nói về liên hệ của nam và nữ một cách tổng quát. Tôi nói với Hạnh, tình yêu, đối với tôi, chỉ là một khách thể. Và mình không bao giờ thành công trong việc nắm giữ một khách thể. Tôi muốn nói, mình không yêu một tình yêu, mình yêu một ngườị Bất cứ một người nào, miễn họ làm cho mình yêu được. Sự khác biệt giữa yêu-một-tình-yêu, và yêu-một-người, tôi nói với Hạnh, là khi yêu một tình yêu, mình thần tượng hóa chính tình cảm của người đó. Yêu-một-người thì giai đoạn, là muốn thỏa mãn; yêu-một-tình-yêu thì vĩnh cửu, là những đam mê (điều đó giải thích tuổi nào người ta cũng biết yêu). Ly dị là một sự phủ nhận một thần tượng tình cảm. Ðơn giản như vậỵ

Hạnh có vẻ không đồng ý với tôi về những lý thuyết tình cảm mà tôi đã nói cho nàng nghẹ Nàng đồng ý với tôi về điểm mình yêu một người chứ mình không yêu tình yêụ Nhưng, nàng hỏi tôi hai điều: Thứ nhất, khi-yêu-một-người, mình muốn thỏa mãn người đó. Nhưng làm sao biết được người đó thỏa mãn? Thứ hai, "Mình có thể ly dị -- phủ nhận tình cảm của một người - nhưng có thể nào mình phủ nhận sự hiện hữu của người đó? Có thể nào mình nhìn người đó đi khỏi đời mình, và không bao giờ buồn? Chúng tôi chưa bao giờ kết thúc tranh luận về cái "lý thuyết" nầỵ

Có lúc tôi bỏ đi rất xa, rất lâụ Tôi không giận Hạnh gì hết. Ngược lại, tôi vẫn nhớ Hạnh và giữ liên lạc thường xuyên. Tôi không phủ nhận tình cảm của tôi đối với Hạnh trong thời gian đó. Tôi chỉ phủ nhận một sự thương nhớ của hai người tình nhân.

Rồi tôi lấy Hạnh, không thần tượng hóa một tình yêu, chỉ thần tượng hóa một ngườị Cả tôi và Hạnh không đặt lại vấn đề của những gì tôi nghĩ về tình yêụ Tôi lấy Hạnh vì Hạnh làm cho tôi yêu nàng. Ðôi vợ chồng thần tượng hóa lẫn nhau cho đến khi không còn được nữạ Và chúng tôi thật lịch sự với nhau khi ly dị. Lịch sự hơn là lần đầu tiên tôi mời, và Hạnh nhận, một bản nhạc tình. Chúng tôi không có vẻ gì buồn trong đời sống riêng tư của mỗi đứa sau khi ly dị.

"Tại sao kỳ vậy anh? Em không buồn khi nghĩ về anh trước đây. Tự nhiên em buồn khi biết không còn gần anh được. Dù rằng em chắc chắn - ít ra là em đang chắc chắn -- người chồng mới sẽ làm cho em vuỉ" Hạnh hỏi.

"Ðó là cái hữu thể tự hư vô, em hiểu không?" Tôi nói với nàng để thấy nàng nhìn tôi như một cái gì rất trừu tượng.

Ly dị là một phủ nhận tình cảm như tôi đã nghĩ. Nhưng phủ nhận - nghĩa là không có - và không có thật là hai hoàn cảnh khác nhaụ Hoàn cảnh trước có thể không làm tôi buồn; hoàn cảnh thứ nhì làm tôi buồn thật. Không gần Hạnh được nữa sẽ là sự thật. Hạnh có ý nghĩa khi nàng vắng bóng. Tôi ngồi đó, nói cho Hạnh nghe về những đêm thứ năm, có mưa xuân như vầy, và tôi không còn được gần nàng nữạ Tôi nói với nàng tôi sẽ nhớ những đêm như đêm nay, và thú nhận với nàng tôi là một diễn viên đóng vai tình cảm rất dở.

Tôi không giả bộ được là tôi không buồn khi mất nàng. Tôi ngồi thật gần Hạnh, nghe tiếng mưa đập vào khung cửa kính tạo ra những âm thanh hỗn độn, rời rạc. Nhưng cái hỗn độn rất hòa điệu với tình cảm của tôi đang có. Trong đêm, tưởng chừng như chỉ có tôi và những tiếng động của mưa (vì chắc

chắn tôi sẽ mất Hạnh), và không còn ai nữa.

"Anh, em muốn nói anh nghe chuyện nầy."

"Nói."

"Lúc mới quen nhau, anh có nói với em về hai trạng thái của tình yêu. Yêu-một-tình-yêu và yêu-một-ngườị Ðối với anh, anh chỉ tin vào chuyện yêu-một-người. Anh thần tượng hóa tình cảm vào một người nào đó để yêu họ. Em nghĩ anh sai rồi. Trong trạng thái tình yêu mà anh tin tưởng, thứ nhất, anh quên là chính tình cảm của anh cũng tham dự vào sự liên hệ, thứ hai, anh không thần tượng hóa một người rồi sau đó anh yêu họ; anh yêu, rồi anh mới thần tượng hóa một ngườị Cái thứ tự này rất quan trọng: vì ở thứ tự đầu tiên, anh chấp nhận một khách thể mà không quan tâm gì đến chính tình cảm của anh. Và đó là một thất bạị Cũng như nếu anh nghĩ tại vì con người biết khóc thành ra họ là một động vật tình cảm.

Không, chính con người là một động vật tình cảm nên họ mới biết khóc. Cái lý thuyết yêu-một-người, yêu một thân xác, là trật, là một sự thất bạị Trong lối yêu nầy, qua dục vọng, qua những đòi hỏi của thân xác, anh - và cũng chính ở em -- muốn ôm một người, muốn thỏa mãn và được thỏa mãn.

Nhưng khi dục vọng đã được thỏa mãn rồi, trong giây phút đó, chỉ có một mình mình kinh nghiệm được cái thỏa mãn, chứ không bao giờ cái thỏa mãn ở đối tượng mà mình muốn thỏa mãn. Ðó là một thất bạị Ðó là một thất-bại-nguyên-thủy của lối yêu-một-người như anh nóị Anh hiểu không? Anh hiểu không?"

Bây giờ Hạnh mới nói cho tôi nghe. Tôi muốn hỏi tại sao nàng không nói điều nầy từ lâu nay, nhưng thôi. Quá trễ cho một liên hệ. Tôi đã sai lầm. Tôi chỉ nghĩ đến cái khách thể tình cảm nhưng còn cái chủ thể tình cảm từ chính tôi thì saỏ Hay là tình yêu là một thất bạỉ Hoàn toàn? Dù yêu cách nào đi nữa. Yêu một tình yêu hay yêu một người.

"Anh về," tôi nói với nàng khi những tiếng mưa bắt đầu nghe rõ hơn.

"Ờ, anh về. Trời mưa như vầy mà anh không có áo mưa, dù gì hết saỏ" Nàng cằn nhằn với giọng của một người vợ.

"Hay là em cho anh mượn áo mưa của em?" Không đợi tôi trả lời, nàng nói tiếp.

Tôi nhìn Hạnh khi nghe nàng nói câu đó. Nàng cũng nhìn tôi. Trong một tích tắc của thời gian, giữa hai cái nhìn, tôi xúc động, tôi biết rằng nàng đang tội nghiệp cho tôi sẽ bị ướt mưa. Không, nàng không muốn cho mình mượn áo mưa. Nàng chỉ lỡ lời, nàng không muốn tôi trở lại đây nữa, tôi nói với chính mình.

"Hôn em, và đọc cho em một câu thơ để em ngủ ngon trong một đêm mưa như vầy, đi anh". Hạnh nói, khi tôi đứng ngoài cánh cửa.

"Em ngủ ngon. Mong em và ông chồng tương lai hòa thuận. "Xin ngủ giấc mi xanh vào yến tiệc. Khi mùa trăng công chúa mộng hoang đường". Tôi vòng tay, xiết mạnh đôi vai khi đọc cho nàng nghe hai câu của một nhà thơ mà nàng thích.

"Anh cũng ngủ ngon. Chạy thật nhanh ra xe để khỏi bị mưa ướt." Nàng nói.

Tôi không cần phải phủ nhận một tình cảm, tôi không còn một tình cảm nữa để phủ nhận. Tôi không cần phải thần tượng hóa một tình cảm, tình cảm nầy tự nó là một thần tượng rồi. Từ bậc thềm nhà Hạnh ra xe, tồi không nghe lời nàng, chạy thật nhanh để khỏi bị ướt mưa. Tôi muốn đi thật chậm, để những hạt mưa có đủ thì giờ thấm vào áo, quần của tôi. Ðể cho da thịt tôi thấy được cái lạnh của một cơn mưa rào đầu xuân. Tiếng nổ máy xe nghe sụt sùi như muốn khóc.



Paris…

Ed- This article was submitted by a young 2nd generation Mitchong after her trip to Paris.

The city of romance; the city of lights; haute culture; shopping; monuments. That’s the sort of association most people make with Paris. To me, it’s a real place, with real people living their lives like you and me. That doesn’t mean that it’s not a beautiful or magical place. If anyone is stunned by its beauty and ambience, it’s me.

Furthermore, what adds to the magic is that Paris is never the same no matter how many times you visit it. Maybe it’s partly because you can never visit all the little areas that make up this city as well as the famous monuments, but also because of the the tendency to forget their existence all together. I can testify to the lure of the Eiffel Tower and the wide long stretch of the Champs-Elysees. However, like people say, it’s the everyday things that you’ve experienced that makes a place memorial. Sadly, I don’t have this secret key to the city yet. So, for what it’s worth (it’s a treasure to me) here’s what my travels to Paris have revealed to me.

On my first trip to Paris, everything was rather un-real. At an age of 14, I had the flexibility of being able to settle anywhere and the shelter of the adults so it was like I was still at home. The buildings did seem bigger, the food different, and there were also Mickey and the rest of Disneyland to dream over. Magic. But it wasn’t the gripping kind that freeze you to the spot, hoping for an ounce more. It was the pulling-coin-from-behind-the-ear kind. The magic wears out because you are so familiar with the trick. The people seemed no different from kiwis, the streets, the shopping, common things that you can do anywhere.

My second trip to Paris was definitely the most memorable. It was from this journey that I gained most of my insights into the life of a Parisian rather than that of a tourist. Firstly after the build up from years of studying French at school, Paris no longer corresponded to the place I had visited all those years ago. From the books we studied I realised there were still so many places I’d never got around to seeing, all the language that I’d never noticed people spoke, all the walks I’d never taken, all the day-to-day things I’d never experienced. Well my second trip was an attempt to rectify all of the above.

In 1998, I was mesmerised by Paris. I could appreciate its beauty and its tight hold on me made me itch to go back the moment I got home again. I was almost living and breathing like a Parisian despite all the touristy things I did, like standing in front of "every stone buildings" all over town and taking a tourist-type photo. However, it felt like I was living there thanks to my routine of French Class every morning. It’s hard to feel like a vacationing tourist when you have to get up at 7am to gobble down breakfast of croissants and fruit salad. Hurrying along in the cold to get to the local metro station, crowd with all the other people trying to get somewhere and hurrying up the stairs so you’re not late for class. The long walk along the moving walkway from Montparnasse to change to the metro line heading for Porte Orleans, huddling in your coat, even baguettes for lunch became an everyday occurrence.

Next stop, "Porte D’Italie". I would always remember the "Poulet Frites" there (a hot baguette stuffed with chicken, chips and sauce). When I told everyone what I was having for dinner every night, they were shocked and thought I was starving myself or something, but far from it, it was one of the nicest and most fulfilling sandwich I’ve ever tasted. And we went so often, the man selling there knew our orders before we’d spoken a word and even asked us to write. Try a "sandwich grec" when you go past a sandwich shop, too bad I can’t recommend my shop to you, the last time I went back the shop was sadly closed or moved. So, how can you still feel like a tourist through all this? I’m not complaining about the days I’ve spent like this, in fact I’m thankful for the eyes to Paris it gave me.

After all the hustle and bustle of routine classes, there would be time to see and experience all those things we’d only read about in the textbooks in the classroom. What’s a trip without some play time? The sights were simply magnificent to the point of being indescribable. How would you describe colours to someone who has never seen it? How would you tell someone what music sounds like to someone who’s always been deaf? It’s the same with travel anywhere, I think, no matter how hard I try describe what I’d seen and done, I can’t retell the same "ambience" and exhilaration I felt at the time.

For someone who is not a fan of walking to track along the streets of Paris from 12-7pm every day without any sign of sore-feet or passing of the time, that would perhaps tell you how captivating Paris really is. What I wrote back home about my trip, and what I missed most on coming back to Palmerston North, was the view. Not only the historic places like the Louvre and the ultra-modern architecture of the Centre Pompidou, but the "ordinary" apartment building that lines the street and even the different metro station decorations. I loved that so much about Paris, nothing is really "ordinary".

But of course, you can’t just go to Paris and not do any touristy things. Paris is Eden for art lovers. My French teacher told us that the Musee de Louvre was once a palace. The countless halls, golden doors, and painted ceilings certainly didn’t hide any of the former glamour of the place. Room after room of art, sculptures, and artifacts from every corners of the globe. The paintings were not Monet or Van Gogh but of a more classical era where the painting stretched along the entire wall. Imagine your room, times it by at least 10 to get the size of one of the show room in the Louvre, then times it by several hundred to really comprehend how big this place was. Of the two times that I went there, it took an hour just to find my way out of the labrinth of artworks.

If you want to see the more contemporary and famous pieces, let me save you the time of searching, they’re mostly in the Musee D’Orsay. Maybe that’s why the security was so much stricter than that of the Louvre. Every three steps there would be a sign about not using flash, at every observation point there would be an "assistant" and in every room a camera strategically placed in a at least 2 of the 4 corners. All the same the visit was worth it; the old train station, characterised by a large gold gilted clock, housed a remarkably large collection of famous paintings.

I guess if you want to talk about history, nothing brings back the past quite like the catacomes. Imagine being surrounded by skeletons after skeletons for endless kilometres underground. The entrance was something out of an Indiana Jones movies: two pillars standing guard either sides of the gateway, dimly lit lights, warning for those who dare enter and a low-ceiling path disappearing into the darkness. The air of sombreness was hardly surprising and yet it did not dissolve the touristic nature of my visit. It was unnerving, sure. But, the feeling, that each one of those set of skeletons couldn’t have belong to a living person, removed the apprehension I had. Amazingly, after a while, the skeletons became less and less real. How else was I supposed to interpret the fact that all the skeletons were sorted and arranged in such perfect interior design? I certainly couldn’t see living people in all the skulls stacked in perfect cylinder columns. The most memorable feature to me was the many plaques of philosophy lining the walls. I wished I had the time to read all of them and record each one. And be advised to bring a torch, the light there are not 100Watts

Another sombre place is the Cathedrale de Notre Dame. Standing proudly by the river side, each view of the cathedral is unique. The front façade is carved up with hundreds of saintly figures. Unfortunately, the first time I was there, most of this was under-restoration, and the second time too for that matter. One thing you have to accept about Paris is that, although its beauty is immersed in age, it means that no matter when you visit Paris at least 1/4 of its monuments will be under-restoration. Anyway, the interior of the Notre Dame, beyond the big heavy doors, was made up of tall rose glass windows, racks of wish candles, strong columns straddled the main block of seats for prayer and a deep altar towards the far end. The atmosphere was one for prayers, and be warn if you are a softy like me, you would end up almost wishing you were religious enough to stand where you were.

Disneyland. Need I say more? The freedom to be a kid again is heavenly and I couldn’t help but smile at the adults lining up for ride and the crowd scrambling for the best position to see the parade. There is a child in all of us and this place gives the rare chance to forget about all the rules of growing up. All the time that I went to Paris I would visit Disneyland and though most of the rides were the same, no two visits were alike. The first time, it was autumn and the weather was delightfully sunny. The second time, it poured cats and dogs the minute we got to the gates. The third, the fog was so thick and cold you could freeze on the spot. And yet, through all weather, there were always queues and other people in the same boat, and all having so much fun that they can’t bare to leave. Sure I knew the characters roaming Disneyland weren’t real but seeing the looks on little kids’ face, whoever cares? Even big kids chase after characters for their mindless scribbled "signatures". But hey, how well can Mickey right when his hand so so bloated? The souvenirs were like nothing you would see in the proper light of day. Hat with Pooh’s ears and Chipmunk faces, and Mickey mouse hands. When you’re a big kid and fan of Disney like me, it’s a dream.

I guess shopping is an integral part of any visit, especially for those over-priced items they call souvenirs. Shopping in Paris in much more than that, but can you afford it. Other shopping was great too, from the sumptuous LaFayette to Sephora on the Champs-Elysees, it was glamour all the way. But only best for "la leche-vitrine" (window shopping) if you are a broke student like me. It never hurt to look.

For me, it’s sad to admit this but, I’m a souvenir freak. One thing I learnt is although most souvenir shops are the same, there is always a best place to buy depending on what you’re after. I know this for a fact, because I have walked into so many shops in most of the tourist areas are Paris. I guess that’s one benefit of being an indecisive person. All in all, shopping for souvenir is like an expedition in itself. . Postcards at 10 for 10F are not cheap, Eiffel tower keyrings at 10F aren’t either. A hint to all the souvenir-shop-aholic out there, there’s a little shop next to the Louvre that overall has the best prices I’ve seen. It’s runned by a little old lady and has most of your souvenirs need. If you want more unique souvenirs than you have to work for them. There are things like 3-D models of all the monuments that you can build, or monuments coins to collect by visiting all the places. Of course I’m up to my ears with little collections like these.

Maybe one more monuments before I leave my escapades. The Eiffel Tower, most people says you can’t miss it, if it’s the only thing you actually do in Paris. The lights at night makes it looks like gold at in year 2000, at 6pm each night, the remnant of white lights used in the New Year’s display will be turned on for a fraction of a moment. For the lazy and those who can afford it, take the lift (on the left side of the tower). It’s a much easier ascent but at 45F a ride to the 2nd platform, not something you would want to do too often. For the more athletic, willing to put in the effort people, try the climb on the right. I’ve done both and on a wet freezing day, you don’t want to walk up the stairs but otherwise, it’s really recommended. I loved walking up the stairs. It was pretty high and not to mention endless, but one step at a time and I eventually made it. You can appreciate more of the view and it’s quite safe with all the metal railing and fencing. Looking down over the city is quite wonderful, but if you just want the view from the tope, it’s properly cheaper to climb other towers that are not so well known like the Sacre-Coeurs (all stairs I’m afraid). If you’re fortunate enough to be on the tower towards night time when the lights are on, the intricate details of the railing highlighted by golden light, the walk down the stairs is a sight to behold.

Definitely worth a visit, and the more you try to emerse in the culture and everyday life, the more you will enjoy it.

TDT – 2nd Generation Mitchong

Earliest known history of Vietnam for young 2nd generation Mitchongs

Legendary kingdoms

According to the most authoritative legends, the history of the Vietnamese people begins with King De Minh, a descendant of a divine Chinese ruler who was also the legendary father of Chinese agriculture. De Minh and an immortal fairy of the mountains produced Kinh Duong, ruler of the Land of Red Demons, who married the daughter of the Dragon Lord of the Sea. Their son, Lac Long Quan ("Dragon Lord of Lac"), is regarded as the first authentic Vietnamese king. To make peace with the Chinese, Lac Long Quan married Au Co, a Chinese immortal, who bore him 100 eggs, from which sprang 100 sons. Later, the king and queen separated; Au Co moved with 50 of her sons into the mountains, and Lac Long Quan kept the other 50 sons and continued to rule over the lowlands. Lac Long Quan's eldest son succeeded him as the first of the Hung (or Hong Bang) kings (vuong), and he is regarded as the real founder of the Vietnamese nation and of the first Vietnamese dynasty.

This legend and other related legends, most of which received their literary form only after AD 1200, describe in mythical terms the fusion, conflicts, and separation of peoples from the north and south and of peoples from the mountains and the coastal lowlands. The legends show the immortals as mountain dwellers, while the people along the coast are represented by the dragon lords--a division found in many legends throughout Southeast Asia. The retreat of Au Co and 50 of her sons into the mountains may well be a mythical record of a separation among the proto-Vietnamese in the Red River delta: those who left the lowlands could be the ancestors of the Muong, who still live in the hills surrounding the delta and who are the only ethnic minority of Vietnam closely related in language and customs to the Vietnamese.

According to legend, the Hung dynasty had 18 kings, each of whom ruled for about 150 years. Their country, called Van Lang ("Land of the Tattooed Men"), is said to have included not only the Red River delta but also much of southern China. The last of the Hung kings was overthrown in 258 or 257 BC by a neighboring warlord, Thuc Phan, who invaded and conquered Van Lang, united it with his kingdom, and called the new state Au Lac, which he then ruled under the name An Duong. Au Lac existed only until 207 BC, when it was incorporated by a former Chinese general, Trieu Da (Chao T'o in Chinese), into the kingdom of Nam Viet (Nan Yüeh in Chinese).

Nam Viet

This kingdom covered much of southern China and was ruled by Trieu Da from his capital near the present site of Canton. Its population consisted chiefly of the Viet who had earlier been driven by the Chinese from their kingdoms south of the Yangtze River. Trieu Da, after throwing off Chinese sovereignty and killing all officials loyal to the Chinese emperor, adopted the customs of the Viet and made himself the ruler of a vast non-Chinese empire. After it had incorporated Au Lac, Nam Viet included not only the Red River delta but also the coastal lands as far south as modern-day Da Nang. The end of Au Lac in 207 BC marks the end of legendary history and the beginning of Vietnamese history, as recorded in Chinese historical annals.

After almost 100 years of diplomatic and military duels between the Han Chinese empire and Trieu Da and his successors, Nam Viet was conquered (111 BC) by the Chinese under the Han emperor Wu-ti. Thus, the territories occupied by the ancestors of the Vietnamese fell under Chinese rule. Nam Viet became the Chinese province Giao Chi (later Giao Chau), which was divided into nine military districts. The three southernmost of these covered the northern half of what is now Vietnam.

Early society

When China extended its rule over Vietnam, the people of the Red River delta were in transition from the Bronze to the Iron Age, although some stone implements were also still in use. These ancestors of the Vietnamese were already experienced at cultivating rice. They had learned how to irrigate their rice fields by using the tides that backed up the rivers. Plows and water buffalo were still unknown (the land was prepared for cultivation with polished stone hoes), but the proto-Vietnamese are thought to have been able to produce two rice crops annually. They supplemented their diet by fishing and hunting. Their weapons were mainly bows and arrows; the bronze heads of their arrows often were dipped in poison to facilitate killing such larger animals as elephants, whose tusks were traded for iron from China.

The social organization of the early Vietnamese, before Chinese rule, was hierarchical, forming a kind of feudal society that until the mid-20th century existed among the Tai and Muong minority populations of northern Vietnam. Power was held by tribal chiefs at the head of one or several communities. These chiefs were civil, religious, and military leaders, and their power was hereditary; they were large landowners who kept the mass of the people in virtual serfdom. At the head of this aristocracy stood the king, probably the most powerful of the tribal chiefs.

Religion was characterized by the kind of animistic beliefs in supernatural beings and spirits that are common among preliterate agricultural and hunting peoples. Some of the spirits were those of dangerous animals, while others were of deceased important persons who needed to be propitiated. A great religious festival, almost a carnival, was held at the beginning of spring and was marked by abandon and promiscuity.

In all these respects, the inhabitants of the Red River delta, prior to their subjugation by the Chinese, showed numerous affinities with most of the people of mainland and island Southeast Asia. It was not until several centuries after the imposition of Chinese rule that the Vietnamese developed more distinct ethnic characteristics.

(part of article found on the net)

Hà Nội và Sàigòn qua đôi kính râm

Vào trung tuần tháng 11 vừa rồi tôi được dịp về tham quan Việt Nam. Ở Sàigòn 2 ngày 3 đêm rồi bay ra Hànội cho đến đúng giáp một tuần rồi trở về Sydney. Có lẽ đây là chuyến đi thứ 6 của tôi về Việt Nam kể từ chuyến đầu tiên vào giữa năm 1990, và cũng là chuyến đi kế tiếp sau chuyến đi kỳ trước vào năm 1995. Kỳ này tôi tháp tùng một đoàn nhỏ 6 người trong đó có Chủ tịch Phòng Thương Mại Việt Úc và 5 thương gia Úc đi tìm thị trường cho ngành may mặc tại Việt Nam. Tóm tắt kết quả các thương gia này đều tìm được chỗ đặt hàng hay ký kết hợp đồng đối tác liên doanh với một vài cơ sở kinh doanh (công và tư) tại VN. Sự có mặt của tôi trong đoàn chỉ lấy lệ mà thôi bởi thật sự theo dự tính ban đầu có đến trên 15 thương gia Úc tham gia chuyến đi, nên cần nhiều người theo để trợ giúp - trong đó dự trù sẽ có anh Duyệt, anh Kiếm - nhưng vào giờ chót đa số đều viện lẽ này hay lẽ nọ rút tên. Lỡ bộ tôi cũng đi theo luôn nên có ít nhiều thì giờ cho riêng mình. Lần về Vietnam kỳ này của tôi cách kỳ trước đến 4 năm nên chắc chắn nhận thấy có nhiều thay đổi - nhất là thay đổi trong cảm nghĩ của mình đối với quê hương xưa cũ. Nếu viết lại nhận xét và cảm tưởng của một chuyến đi người ta có thể viết liên tục theo thứ tự thời gian, hoặc nếu không theo thứ tự đó, có thể ghi lại những điểm mốc quan trọng theo từng tiết mục khác biệt của chuyến đi rồi thêm thắt vài nhận xét vào đó cho đầy trang. Tôi xin lựa phương cách sau và nhớ đâu viết đó.

Hoà mình với nhân dân: Nhớ có một lần về VN lúc đi shopping một mình ở đường Lê Lợi tôi bị móc túi hết mấy chục ngàn đồng VN. Lúc đó khoảng 2-3 giờ trưa, sau khi mua được một số quần áo đánh tennis ở vỉa hè đường Lê Lợi, tôi tản bộ về phía Nhà Hát thành phố và băng qua đường Pasteur. Tự nhiên tôi thấy bên kia đường môt anh chàng đi cà thọt bắt đầu xuống đường băng ngược về phía tôi. Vừa lúc đó anh chàng ta đụng vào tôi một cái. Tôi tránh không kịp và lẫm bẫm một hai tiếng xin lỗi. Sau đó chừng mười phút lúc tôi cần đút tay vào túi áo lấy tiền mua đồ khác cũng ở vỉa hè đường Lê Lợi nhưng mạn trên gần Khách sạn REX, tôi mới khám phá ra là tiền bị mất cắp mất rồi và thủ phạm chắc chắn không ai khác hơn là anh chàng đụng tôi khi nảy. Cũng may tôi đã đề phòng trước bằng cách chia tiền ra làm 4-5 phần và để vào 2 túi áo phía trước và 3 túi quần nên mặc dù bị 'móc túi' tôi vẫn còn tiền đi xích lô về nhà. Sau lần bị 'mugged' đó tôi tự nhủ là phải 'hòa mình với nhân dân' và phải đi đứng ăn nói như người địa phương. Tuyệt đối nên tránh nói 'cám ơn' (thank you), xin lỗi (sorry), hoặc OK như một phản xạ trong đời sống hàng ngày tại Úc. Bởi vì nói như vậy nó 'không giống ai hết' tại VN, và người địa phương dễ nhận ra mình là 'Việt kiều'. Trong kỳ này tôi tình cờ khám phá ra môt lối 'hoà mình' mới mẻ nữa. Số là trong mấy ngày đầu tôi bị đau mắt. Sáng ngày hôm sau tôi nghĩ ra rằng mình cần một gọng lắp kính râm - kẹp vào cặp kính cận thị sẵn có để tránh nắng chói đầu mùa lạnh ở Sàigòn. Quá dễ, tôi chỉ cần băng qua đường trước mặt Khách sạn New World, nơi tôi checked in chiều hôm trước, bước vào một tiệm kính và mua một gọng kính râm có kẹp rất đẹp, kẹp vào phía trước của cặp kính cận thị tôi hằng mang bao nhiêu năm. Trong giây phút đầu mang kính râm sau gần ba mươi năm không mang nó tôi thấy là lạ, có vẻ hơi xấc và 'thanh niên' quá. Thế nhưng tôi để ý hình như không có ai để ý gì nên sau đó tôi thường xuyên kẹp nó vào kính cận kể cả lúc nói chuyện với mấy người thương gia Úc đi cùng chuyến, và nhất là đối với người Việt trong nước. Tôi nhanh chóng khám phá rằng với cặp kính râm tôi hội nhập dễ dàng với người 'địa phương', trả giá khi mua hàng rất dễ và có lẽ tránh bị 'mugged' ở chốn đông người. Nhiều người địa phương cứ lầm tôi là 'công an hình sự' nữa là khác: 'Trông bác cháu cứ tưởng bác là công an hình sự đấy' (!!).

Nước suối: Tới phi trường Tân Sơn Nhất chúng tôi được làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng và có Anh Dũng đại diện Sở Thương Mại Thành Phố đem xe mini-bus ra đón. Xe chạy xuyên qua đường phố ngang qua bộ Tổng Tham Mưu cũ (nay là Doanh trại Bộ Ðội) tôi để ý Sàigòn bây giờ có rất nhiều nursery bán chậu kiểng và cây kiểng um tùm không kém gì ở các nước Tây Phương, và đặc biệt họ gầy và bán nhiều loại bonsai rất đẹp. Ngay tại phi trường Nội Bài ở Departure Lounge cũng có bán mấy chậu bonsai nho nhỏ rất xinh cỡ chừng US$5.00 một chậu. So với bonsai bán tại Úc nó cũng còn rẻ vì cây có vẻ được gầy nhiều năm hơn là bonsai cùng giá đó tại Úc.

Chúng tôi đến phi trường vào khoảng 4 giờ chiều. Xe mini-bus trước hết đưa chúng tôi về Sở Thương Mại của Thành Phố để 'làm việc' trước khi đưa về Khách Sạn để check-in.. Ðiểm cần nói là chương trình đi, đặt mua vé máy bay, dành chỗ ở khách sạn, xin visa đều do Skybus Mekong của anh Lê Thẳng Tiến lo hết. Sở Thương Mại là một Toà building cũ nằm ở góc đường Nguyễn Du và Ðồng Khởi (Tự Do cũ). Tôi chợt nhớ tại building này vào khoảng trên 40 năm trước Thầy tôi có dẫn tôi vào khuôn viên của building (lúc đó hình như là Bộ Tài Chánh) để nghe ông Trần Văn Lắm đọc diễn văn chào mừng phái đoàn đồng bào Thượng (bây giờ gọi là Dân Tộc ít người) về thăm viếng Sàigòn. Thời gian sao cứ trôi nhanh vùn vụt! Xe chạy thẳng vào khuôn viên và đậu ngay trước cửa của Sở Thương Mại. Chúng tôi được mời vào phòng tiếp tân và chừng đôi ba phút sau ông Phó Chủ Tịch Sở Thương Mại cùng những người phụ tá - nam có nữ có - ra nồng nhiệt bắt tay mọi người. Sau khi ngồi xuống bàn dài tôi chợt để ý trước mặt mỗi người đều có một chai plastic nhỏ chừng 600ml chứa nước suối. Hai bên chào mừng, giới thiệu và đàm phán với nhau qua những tuần nước suối lạnh thay vì trà nóng như người ta thường tiếp đón khách như ngày trước. Sau đó tôi để ý đến sự thịnh hành của nước suối tại Việt Nam. Ở ngoài đường hay ở tiệm ăn đâu đâu cũng có bán những chai nước suối đủ cở đủ hiệu, trong đó có một hiệu đóng chai qua liên doanh với hãng Vittel của Pháp. Trong tủ lạnh của phòng ngủ ở khách sạn mỗi ngày họ để vào hai chai nước suối và móc vào cổ chai tấm giấy đề 'compliment of the Hotel' không có tính tiền. Hơi tiếc nhà nước Việt Nam không có phát hành tiền đồng xu (coins), chứ nếu có việc mua bán nước uống có lẽ sẽ mạnh mẽ hơn nhiều qua sự tiếp ứng của các máy tự động bán nước ngọt, nước suối. Ở Sydney bây giờ các máy vending machine tại các nơi công cộng chất chứa nước suối đến gần phân nửa tủ chứa. Cách đây vài chục năm không ai có thể tưởng tượng là nước suối, nước lọc lại thịnh hành đến như vậy.

Mua Phần Mềm: Mua phần mềm tức là mua CD in lậu, copy lậu - bây giờ hình như Made in Vietnam. Thường khi tôi đi Singapore hay Hongkong hay Trung Quốc, con tôi ưa nhờ tôi mua software in lậu tại mấy xứ này. Thất vọng nhất là mua tại Thượng Hải bởi đa số software copies của họ đều đã chuyển sang tiếng Tàu nên đối với con tôi có cũng như không. Và thích nhất là mua ở Hongkong bởi ở đó tôi có quen với em trai của một người bạn, có cửa hàng bán đồ computer gần ngay khu vực bán hàng phần mềm. Ở Sàigòn Software CD được bày bán nhiều nhất ở chung quanh các trường trung học và đại học. Tôi chỉ đến hai chỗ: Một chỗ ở đường Huỳnh Thúc Kháng - Chợ Cũ, gần trường Cao Thắng, và một chỗ khác ở đường Bùi Thị Xuân hay Tôn Thất Tùng, gần trường Nguyễn Bá Tòng, và một số trường dân lập chuyên về điện toán hoặc Anh ngữ ở chung quanh khu vực. Ðến 90% các phần mềm con tôi yêu cầu mua dùm cho nó đều có bán tại Sàigòn. Thật là lạ. Ngay cả các CD cho những phim mới chiếu gần đây tại Úc như Eyes Wide Shut, Titanic, Shakespeare in Love, v.v. đều có bán CD phụ đề chữ Việt đàng hoàng. Tiệm nào tiệm nấy đều rất đông khách sinh viên học sinh. Hèn gì Việt Nam trong năm 1999 này đã đoạt 4 giải đầu trong một kỳ thi tranh đua quốc tế về computer cho thanh thiếu niên thuộc 76 quốc gia trên thế giới. Nghe nói 4 em sinh viên đoạt giải đó đã được hãng Microsoft của ông Bill Gates cấp học bổng dài dài cho tới khi thành tài rồi sẽ được bốc đi Mỹ (!!).

Tôi cũng để ý mấy người Sở Thương Mại gửi đến để ăn sáng với chúng tôi tại Hotel rồi sau đó đi theo thông dịch đều nói tiếng Anh rất lưu loát, và cũng có sense of humor, thường chêm vào câu chuyện một đôi câu khôi hài bằng tiếng Anh lúc ngồi trên xe đi đến các hãng xưởng. Một anh đã từng tu nghiệp lấy MBA ở Canada. Một anh khác cũng có MBA qua việc du học 'tại chỗ' với các trường đại học hàm thụ nước ngoài. Cũng do tin tức của mấy anh đó chúng tôi mới biết là ở Vietnam bây giờ weekend được nghỉ luôn cả thứ Bảy và Chúa Nhật như nước ngoài. Các hãng tư nếu muốn tham gia weekend trọn vẫn phải trả lương cho nhân viên 6 ngày như xưa. Nhà nước khuyến khích người dân tiêu xài thả cửa bởi hiện có nạn giảm phát (deflation) trong nước.

Vùng cong oằn của thời gian: Sau buổi gặp gỡ xã giao ở Sở Thương Mại chúng tôi được đưa về check-in ở khách sạn New World. Lúc đó vào khoảng 5 giờ 30 chiều. Tôi điện thoại cho bà chị hẹn chiều ngày hôm sau sẽ lẻn về thăm nhà, rồi đi ra ngoài dạo một vòng ngã sáu Sàigòn. Phố xá tấp nập nhất là ăn uống ở khu chung quanh khách sạn. Nhiều hiệu ăn mới mẻ bán thức ăn Nhật (có vẻ thịnh hành ở Việt Nam hơn xưa rất nhiều), và Hàn quốc. Tôi tấp vào một quán cóc bên đường thử một tô phở với dụng ý sẽ so sánh với phở nước ngoài và phở Hànội mấy ngày sau. Tô phở ở Vietnam rất nhỏ so với tô mì tô phở ở nước ngoài, nên đối với tôi cũng chẳng ảnh hưởng gì với việc phải ăn tối buffet ở khách sạn vào khoảng 8 giờ tối bữa đó. Buffet chắc do đầu bếp Tây có bằng cấp nước ngoài hay sao mà các món ăn nấu rất chuẩn. Thêm vào đó tại phòng ăn họ có để một chiếc xe mì hủ tiếu kiểu hồi xưa của người Hoa với tranh khắc trên kiếng xe những mẩu truyện Tàu như Tam Quốc Chí. Ai muốn ăn phở hay bún thang (tùy bữa) thì đến chiếc xe này sẽ được một cô chiêu đãi làm cho một bát rất nhanh. Phòng ăn và khách sạn, trái với tin đồn đại, rất tấp nập đông người. Tại lobby của khách sạn tối tối có hoà nhạc cổ truyền dân tộc hay nhạc Hoa, dùng những nhạc cụ cổ truyền trong đó có nhạc cụ do nhiều khúc tre gắn lại với nhau của người dân tộc phía Bắc. Người chơi nhạc chụm lòng bàn tay lại và vỗ tay trước miệng của từng khúc ống tre đó. Những lúc ban nhạc dừng chơi, người nước ngoài nào đi ngang đó thường hay đứng lại thử vỗ vỗ vài cái cho vui. Cạnh đó có phòng coffee, tối tối có một hai nghệ sĩ người Âu Châu đến ca hát bên cạnh đàn piano.

Tối đó tôi bật radio trong phòng, vặn volume nho nhỏ để nghe nhạc dễ ngủ. Cái băng nhạc kéo chừng 1-2 giờ rồi lặp lại từ đầu. Ðó là những bản nhạc đa số có trước 1965 rất nhẹ nhàng và rất cũ, như Crazy Love, Diana của Paul Anka, the Young Ones của Cliff Richard, v.v. Nghe nhạc một khoảng khá lâu và trong lúc chập chờn với giấc ngủ tôi có cảm tưởng như lạc vào vùng cong oằn của thời gian, không biết hiện giờ là năm 1965 hay 1975 hay là sắp sửa kết thúc một thế kỷ và bước vào một thiên niên kỷ mới. Tôi không biết rõ mình sắp sửa xong trung học hay chưa hay là đang đi vào tuổi lão. Cũng trong giấc mơ chập chờn đó tôi thấy mình bước vào nhà. Thật rất lạ là cái nhà đó vừa có hình ảnh của nhà Thầy Mẹ tôi ở Bàn Cờ và vừa pha trộn với phòng khách nhà tôi ở tại Sydney. Rất may là một hai đêm sau họ đổi băng nhạc mà đa số là nhạc kích động trong đó có một hai bản nhạc mới bây giờ (thường nghe các ca sĩ giúp vui Vietnam hò hét ở các tiệc cưới) như Cup of Life (Go go go go go ale ale ale) nên tôi nhanh chóng ra khỏi cái vùng cong oằn thời gian đó để chuẩn bị đi Hànội.

Mua Sách: Lần nào về Việt Nam tôi cũng đi lùng mò các tiệm sách. Có lần tôi nhờ một người bà con chở xe Honda đi lùng quyển Hơn Nửa Ðời Hư của cụ Vương Hồng Sển ở mấy tiệm sách solde bởi sách ở Vietnam in ra rất ít. Bình quân mỗi cuốn sách xuất bản chỉ in ra chừng 5000 quyển khiêm nhượng cho một dân số trên dưới 78 triệu. Thành ra quyển nào quyển nấy chỉ thấy chưng bày ở các tiệm sách lớn chừng 2-3 tháng rồi bán hết sạch. Người mua trễ phải chạy ra tiệm bán sách cũ. Lần này tôi cũng dành 1-2 giờ đi rảo mấy tiệm sách lớn ở đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi và Tự Do (cũ). Sách Việt Nam bây giờ ấn loát rất đẹp và có rất nhiều quyển nghiên cứu và tiểu thuyết, truyện ngắn mới rất hay. Nhất là giá rẻ so với sách Việt in ở Mỹ. Mấy sách chuyên về Mác Xít Lê Nin nít dần dà biến đi đâu mất. Tôi lựa được gần 20 quyển sách định mua, nhưng phải trả lại đến 8, 9 quyển bởi sợ nặng quá cân lượng hành lý và cũng không có tay khuân về khách sạn. Thử liệt kê một vài quyển sách tôi đã mua tại Sàigòn và mấy ngày sau tại Hànội:

Kim Dung giữa đời tôi, Quyển 3 (bởi quyển 1 và 2 đã bán hết rồi) của Vũ Ðức Sao Biển: Rất hay cho những người đã từng mê đọc Kim Dung. Tác giả từng là sinh viên ban Hán văn Ðại Học Văn Khoa Sàigòn. Hiện nay ở Vietnam có nhiều bản dịch mới của các pho truyện Kim Dung cũ và theo tác giả, đa số đều dịch rubbish (có một số được dịch và in tại Ðà Nẳng) thua xa các ông Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn, và . . . .chính tác giả. Tác giả cũng trích cho đăng một hai hồi trong các bộ Hiệp Khách Hành và Tiếu Ngạo Giang Hồ do tác giả mới dịch lại.
Oan Khuất AQ, cũng của Vũ Ðức Sao Biển. Trong quyển khảo luận ngắn này tác giả thuật lại và nhận xét về xã hội Trung Hoa qua các nhân vật tiểu thuyết lịch sử xuyên qua các thời đại từ Chiến Quốc đến Nhà Thanh. Bài cuối chú trọng đến nhân vật AQ của văn hào Lỗ Tấn, tiêu biểu cho người dân thấp cổ bé miệng ở Trung Quốc qua các thời đại.
Bảo Ðại - Vua cuối cùng của Triều Nguyễn, của Phan Thứ Lang. Ðiểm ngạc nhiên là quyển sách được viết với một cái nhìn tương đối hơi khách quan. Quyển sách được nghiên cứu hơi kỹ, xử dụng các sách báo cũ và phỏng vấn các người bạn hoặc hầu cận cũ còn sống sót của vị vua cuối cùng. Quyển sách hoàn toàn đề cao các đức tính của Hoàng hậu Nam Phương và có lẽ là quyển sách đầu tiên thuật lại các cuộc đời tình ái của cựu hoàng.
Trần Lệ Xuân của Lý Nhân. Khác với quyển 'Bảo Ðại' ở trên quyển 'Bà Nhu' nghiên cứu tư liệu không được sâu sắc, và lạc đề hơi nhiều trong những đoạn dề cập đến ông Diệm ông Nhu.
Bảy Viễn - Thủ lãnh Bình Xuyên của Nguyên Hùng. Lịch sử pha trộn với phóng tác tiểu thuyết. Nhiều sự kiện bị bóp hơi méo mó một chút nhưng đọc rất hấp dẫn.
Những Truyện Hay Cực Ngắn của 100 tác giả khác nhau. Chưa đọc nhưng bà xã đọc rồi cho rằng khá hay, nhất là lối hành văn mới mẻ cuả các người viết.
Sử Trung Quốc, (trọn bộ 3 quyển) tác phẩm cuối cùng của cụ Nguyễn Hiến Lê. Mới đọc gần hết quyển 1, để ý cụ Nguyễn Hiến Lê chú trọng nhiều đến việc phát triển tư tưởng và văn minh của Trung Quốc hơn là các sự kiện, diễn biến lịch sử. Ðiểm để ý nhất là tác giả có nhắc đến một triết gia nước Sở thời Chiến quốc tên Hứa Hành hiện thức được một thể chế chính trị y hệt như chế độ cộng sản mà Karl Marx cho lăng xê vào trên 2000 năm sau. Hưá Hành 'chủ trương mọi người hoàn toàn bình đẳng, dù vua chuá cũng phải cày ruộng lấy mà ăn, và mọi hàng hoá ở chợ chỉ có một giá thôi. . . Mạnh Tử cho như vậy là làm loạn thiên hạ. . .'
Thầy Tôi, của nhiều người viết khác nhau viết về những người THẦY đã gây ảnh hưởng trong đời của các học trò. Chưa đọc nhưng người đọc rồi khen hay (!)
v.v. và v.v.
Ăn quà vặt và Phở sốt vang: Tôi có một thói quen giống rất nhiều người trên quả địa cầu này, và đó là ăn hàng vặt. Tôi nhớ có lần về Vietnam và đi ra khu Chợ Cũ gần góc đường Nguyễn Huệ và đường Ngô Ðức Kế tôi cùng với một người bà con đã đừng lại bên lề đường đứng bên một xe bán hàng rong ăn bột chiên xịt nước tương theo kiểu người Hoa trong Chợ Lớn thật ngon lành. Kỳ này tôi để ý phố xá có vẻ sạch sẽ hơn trước và các xe bán hàng rong không còn thấy lảng vảng ở các đường lớn nhiều người nước ngoài như Nguyễn Huệ hoặc Lê Lợi hay Ðồng Khởi. Nhiều tiệm ăn cở tiệm Givral hay Brodard mọc lên như nấm và trong khi đó Givral, Brodard hoặc cửa hiệu Bô-Ðê-Ga ở Hànội đang dần dà biến thành những di tích . . . lịch sử chứng kiến thăng trầm của bao nhiêu thời đại, bởi nó xưa cũ quá. Lần này khi ghé vào Givral tôi hơi thất vọng bởi nhà hàng không còn món xúp bong bóng cá mà tôi hằng ưa chuộng nữa. Món xúp bong bóng cá này cũng giống như món Phở Sốt Vang ở Hànội hình như cứ ở lì ở Việt Nam, không chịu di tản ra nước ngoài, theo bất cứ diện nào, bằng thuyền hay đoàn tụ gia đình, hoặc HO.

Ở Hànội chúng tôi được checked-in vào khách sạn 5 sao West Lake toạ lạc sừng sững bên cạnh Hồ Tây ở mạn đê Yên Phụ, một địa điểm được Nhất Linh mô tả trong quyển tiểu thuyết Ðoạn Tuyệt hình như vào lúc cô Loan bỏ anh chồng 'cà chớn' tên Thân trở về nhà thăm mẹ. Từ phòng tôi nhìn ra là một khung cảnh ngoạn mục 180 độ của Hồ Tây, đê Yên Phụ với sông Hồng nước lững lờ trôi. Sáng tôi ưa dậy sớm đi tản bộ vòng quanh khu đó để ăn quà vặt điểm tâm . . . trước khi về hotel vào phòng ăn vào khoảng 8 giờ giả vờ mới thức rồi ăn qua loa trái cây, uống cà-phê với mọi người. Có hôm tôi thấy ông Võ Nguyên Giáp (thường gọi là ông Văn) đạp xe đạp chạy vòng quanh bờ Hồ. Nghe nói nhà ông Giáp ở khu Ba Ðình gần Hồ Tây, và sáng sáng ông ưa 'keep fit' bằng cách xách xe đạp chạy vòng quanh hồ. Có lẽ ông vẫn giữ thói quen cũ nên ngày nay ở tuổi già ông thích đi thị sát chiến trường cạnh tranh kinh tế ở khu lòng chảo Hồ Tây.

Ðường Yên Phụ bên cạnh hotel là một khu, mặc dù giá nhà đắt đỏ, hãy còn tạm gọi bình dân. Cũng như nhiều đường phố khác ở Việt Nam đường này có nhiều hàng bán quà vặt ngồi ghế xép. Có buổi tôi tạt vào ngồi xuống ghế xép ăn một đĩa bánh cuốn nóng, cả bánh cuốn mới tráng trước mặt lẫn chả đều nóng bốc khói. Tôi để ý nhiều người thích gọi thêm trứng đập ra rồi để vào nồi hấp chung với bột bánh. Cũng ở ngoài này, người ta thường ăn phở với . . . dầu chá quảy, cũng như người Hoa thường ăn với cháo. Phở ở ngoài này hoàn toàn vẫn giữ như xưa, không có biến chế hoà với giá sống giá chín hoặc rau thơm gì cả, và dùng rất nhiều mì chính tức MSG. Cũng giống như ở Băng Cốc - Thái Lan, người ta thường múc cả muỗng xúp MSG rồi cho vào tô phở hoặc bát bún riêu vừa mới làm xong còn đang hun hút khói. Có một buổi chiều sau khi ra phố trở về bằng xích lô, rồi xích lô cho tôi xuống vì đường Thanh Niên dẫn tới hotel bị cấm xích lô, tôi tản bộ dọc theo bờ hồ trở về khách sạn thì thấy một cô đang quảy gánh rao bán bún riêu. Lâu năm không có ăn món này tôi ngồi xuống băng ghế dài bên hồ và gọi một bát bún riêu. Giá 5000 đồng cở chừng 30 cents Mỹ. Tôi chưa kịp dặn dò thì cô hàng đã múc một thìa MSG bỏ vào bát bún rồi. Khi tôi ăn xong và trả tiền cô ấy lịch sự hỏi: 'Ông ăn có được không ạ? Hàng cháu tuy bụi đời nhưng ăn cũng khá chứ hở ông?'. Ðiểm đáng nhớ là bát phở hay bát bún gì ở Việt Nam đều rất nhỏ, bằng cở một phần ba phần tư tô phở hay tô bún ở nước ngoài, nhất là nếu so với những tô ở quận Cam hay ở Sydney, Melbourne, hoặc so với tô mì Ramen ở Tokyo. Hèn gì người nước ngoài dễ bị cholesterol cao.

Có một buổi sáng tôi đi ăn hàng sáng trở về vừa trễ dịp gặp ông Ðại sứ của nước Ôx-trây-lia chúng tôi tại Việt Nam đến khách sạn ăn điểm tâm với đoàn chúng tôi. Bữa đó tôi nhớ tôi tạt vào một xe phở, cũng ở khu Yên Phụ, và kêu một tô phở sốt vang. Tôi nhớ tôi ăn phở sốt vang lần đầu tiên tại Hànội vào khoảng cuối năm 1992 cùng với ông anh cả tôi ở gần khách sạn dưới phố. Lần đó tôi có ấn tượng tốt về món này. Nhưng lần này có lẽ vì ngán mỡ hay vì không đói nên tôi không thấy sốt vang có gì xuất sắc. Ðang ăn giữa chừng ông chủ phở đưa một lọ chứa nước dấm ngâm tỏi và ớt: 'Bác dùng phở sốt vang với tỏi ớt mới ngon'. Bên cạnh tôi một thanh niên đang bạo dạn làm quen với hai thiếu nữ mới ngồi xuống ghế xép và cũng kêu hai tô phở sốt vang. Tôi tưởng tượng những cảnh tượng thanh niên nam nữ làm quen dễ dàng như vậy vẫn thường xảy ra khắp nơi ở Hànội. Ngàn sau nối lại ngàn xưa, thiên niên kỷ trước đã như thế và thiên niên kỷ mới này chắc rồi sẽ cũng như vậy.

Phở sốt vang là một dạng của bò kho thuộc phía Bắc. Hai thứ đều dùng thịt bò nạm hay thịt bò gân cắt thành khối vuông và nấu đến vừa đủ chín mềm chứ không nhừ. Hình như bò sốt vang bắt nguồn từ một món của người Quảng Ðông, hay ít ra cũng giông giống, gọi là Ngầu Jập gồm bao tử bò, dồi trường, lá sách, gan và thịt bò nạm, v.v. nấu với củ cải trắng và nước sốt đặc biệt có pha trộn nhiều thuốc bắc. Món ngầu jập này thường có bày bán trong xe đẩy của những tiệm Yum Cha (ở Mỹ gọi là Dim Sum). Phở sốt vang theo bác Mùi, một ex-kiwi tu nghiệp, hình như nấu với lá vang (bay leaves - lá 'càri') với một ít rượu vang và húng lìu. Món này rất tiếc không chịu di cư vào Nam vào năm 1954, nên người miền Trung và miền Nam ít biết tới. Bởi không vào Nam năm 1954 nên món này lại càng không có dịp chen chúc di tản ra khắp nơi trên thế giới vào 1975 hoặc sau đó, nên so với phở bò và phở gà, hay bún bò Huế hoặc mì Quảng nó ngừng phát triển từ thuở đó cho đến ngày nay. Thật đáng tiếc. Ai có hàng phở nếu về VN tu nghiệp món này có thể trở sang với một món độc chiêu mới trong tay.

Chuyện đôi giày: Ngay buổi trưa thứ hai sau khi đến Hànội, tôi đã đến viếng tiệm bánh tôm bên cạnh Hồ Tây. Ðây là lần thứ hai tôi thử lại hiệu bánh tôm này và cũng thất vọng y như lần đầu. Bánh tôm chỉ là bột chiên với tôm đã gảy vụn chứ không có những lát khoai mỏng trộn vào bột bánh cho đúng điệu. Hiệu này có vẻ 'khinh thường độc giả' bởi vì tôi nhớ nó thua xa rất xa một tiệm bánh tôm Hànội làm trong Sàigòn. Có lẽ hiệu chỉ quảng cáo bánh tôm cho có lệ chứ thật sự chú trọng đến rất nhiều món ăn khác có trong thực đơn ba bốn trang.

Tôi đang ngồi chờ làm thức ăn trong gió mát nhũng ngày cuối thu (nhiệt độ chừng 19-20 độ C) thì có một em bé tới mời đánh giày. Tôi chợt nhớ dưới đáy giày phiá trong - dưới cái inner-sole - tôi thường dấu tiền đô la chừng 2-3 trăm để phòng khi bị móc túi phía trên. Thói quen dấu tiền kiểu này tôi đã develop trên 20 năm nay sau một chuyến bị móc túi ở Hongkong năm nào. Cho nên tôi từ chối không chịu cho em nhỏ đánh giày, mặc dù theo tiêu chuẩn ở VN giày tôi đã khá . . . dơ. Lúc tôi bắt đầu thưởng thức bánh tôm dở đó một em khác lại tới mời tôi đánh giày. Tôi cũng từ chối như cũ nhưng em năn nỉ: 'Ông cho con đánh giày để giúp chúng con đi ông'. Tôi cảm động và cởi đôi giày cho em đó đánh. Em đánh giày vội vàng xỏ vào đôi chân tôi hai chíếc dép cao xu để mang tạm thời và đến chia một chiếc giày với em đánh giày hồi nảy cũng còn đứng gần đó. Vừa ăn thỉnh thoảng tôi xem chừng hai em đánh giày có lật cái innersole lên hay không.

Vào buổi trưa hôm sau, sau khi đi hớt tóc gội đầu thoải mái trong một hiệu hớt tóc thanh nữ ở khu gần hồ Hoàn Kiếm, tôi đi tản bộ qua phố Hàng Dầu. Khu phố này chứa toàn những hiệu bán giày dép, người qua lại rất tấp nập. Ðầy đủ các loại giày thể thao như Nike, Reebok, v.v. Trên vĩa hè lại còn có những thợ sửa chữa giày ngồi ở các gốc cây, ngay trước các tiệm giày. Tôi chợt nhớ đôi giày bị mòn lệch một bên cũng khá sâu mặc dù hãy còn khá mới. Tôi dừng lại hỏi giá cả một anh thợ tuổi chừng 25. Thấy giá rẻ, 15000 đồng tức chừng 1 US đôla tôi ngồi xuống ghế xép và đưa đôi giày cho anh ấy làm. Anh ấy cũng xỏ vào chân tôi đôi dép cao su mang đỡ. Ðúng là tay thợ nhà nghề, anh ấy lật tới lật lui xem rồi nói: 'Chắc giày này người thân của bác gửi về từ nước ngoài?' Tôi ầm ừ gật đầu. Anh thợ giày bắt đầu làm việc bằng cách cạo đi lớp bụi và lớp cao su ở đế giày, xong anh ấy mới đóng vào chỗ mòn bằng một miếng giấy cáac-tông cứng. Tôi e ngại khi thấy anh ấy lật miếng innersole lên và thấy có miếng giấy dẹp dẹp (gói vài trăm đôla phòng thân của tôi). Anh ấy tiếp tục đóng giấy cứng rồi lấy dao bén gọt dũa chung quanh đế. Xong anh ấy cầm đôi giày đứng dậy nói là xách đi mài bằng máy. Tôi nom theo anh ấy băng qua đường rồi đi một quãng chừng 50 thước xong rồi rẻ vào một căn nhà. Hoảng hồn quá vì chợt nghĩ có tiền trong một chiếc giày, có thể là sửa giày rẻ sẽ đâm thành mắc. Thà là đi mua đôi giày mới còn hơn, nên tôi vội chạy theo tìm anh ta. Tới cửa căn nhà ban nảy tôi thấy anh ấy rẻ vào tôi gặp một bà cụ chủ cửa hiệu hơi tối tăm bán kim chỉ gì đó. Tôi bật gọng kính râm lên, hỏi bà cụ có biết anh thợ sửa giày ở đâu không thì bà ấy lật đật dẫn tôi vào tuốt phía trong. Tới phiá sau tôi thấy anh thợ mang mặt nạ đang tiện giũa một chiếc giày tôi trên máy. Tôi giả vờ đến xem và cầm lên chiếc giày kia đã tiện rồi, ngắm ngía và nhanh tay xem trong lúc anh ấy không để ý rút gói giấy dẹp dẹp chứa đôla kia ra bỏ vào túi áo. Anh ấy bảo tôi nên trở về 'cửa hàng' anh ấy để xem chừng dùm. Tôi trở lại chỗ cũ mua một lon nước ngọt rồi ngồi xuống ghế xép chờ đợi. Một lúc sau anh thợ giày trở lại đóng đóng thêm một chút rồi lại băng qua đường đi về hướng khác nói là đi mua cao su cứng để đóng đế giày. Cảnh tượng phố phường Hanoi rất là 'friendly'. Một ông lão đi ngang thấy tôi ngồi đó nhìn vào đôi giày vội lật chiếc giày ông ấy lên và nói: 'Bác phải đóng thêm vào một miếng đế như của tôi ngay sau khi bác mua đó bác'. Loa phóng thanh tự nhiên bật lên tuyên bố kết quả lạc quyên giúp nạn nhân bão lụt miền Trung. Nào là đã nhận được từ ông Hai ở đầu phố Hàng Dầu 50000 đồng, bà chủ tiệm giày Hưng Thịnh, và một người ẩn danh bao nhiêu bao nhiêu, v.v. Tôi chợt nhìn ra đường thì thấy một đoàn chừng 5 chiếc xích lô chở mấy người du khách tây đầm Âu Mỹ đi dạo phố phường. Ở chiếc xe cuối cùng tôi thấy có một thanh niên Việt địa phương ngồi có vẻ vui tươi tự đắc. Trong phút chốc tôi đoán là người ấy chắc là thông dịch viên cho đoàn, nhưng khi chợt nhìn thấy người đạp xích lô là một ông Mỹ to lớn, tôi mới biết là ông du khách Mỹ đã thương lượng với người đạp xích lô cho ông ấy đạp thế ông xích lô, và cho ông xích lô làm hành khách của ông ấy. Có lẽ ông Mỹ này đang chụp cơ hội tập dượt đạp xích lô để khi về Hollywood hay Paris ông ta sẽ đi đóng thử audition cho phim Cyclo 2 chăng?

Một lúc chừng năm mười phút sau, anh thợ sửa giày trở về trên tay cầm một miếng cao su trông giống vỏ xe hơi, cắt gọt rồi đóng lại đế giày tôi, sơn đen lại đế trông như mới.

Ăn thịt rắn và lối tiếp thị mới mẻ: Tôi nhớ mãi chuyến về VN lần đầu vào năm 1990. Lúc đó ngoài chuyện gia đình còn đông đủ còn có cảm tưởng mới lạ và bồi hồi sau 15 năm xa cách gia đình và quê hương xưa cũ. Ðó cũng là lần đầu tiên tôi gặp lại ông anh cả sau hơn 35 năm xa cách. Ngoài ra tôi còn chứng kiến những sinh hoạt náo nhiệt của bà con láng giềng mãi mê thức suốt đêm theo dỏi trận bóng đá quốc tế World Soccer Cup tổ chức tại Pháp. Chuyến đi đó cũng cho tôi một dịp 'tiếp cận' với đồng quê VN qua việc ăn . . . thịt rắn. Lúc đó ông anh cả tôi có cho thuê phiá trước của nhà ông ấy cho một công ty buôn bán từ chốn Ðồng Tháp lên thành phố lập văn phòng mậu dịch. Một buổi chiều nọ mấy thụ trưởng đơn vị này có nhã ý mời anh em tôi đi nhậu thịt rắn và rùa. Kỳ đó tôi nhớ thịt rắn được nấu với thuốc bắc theo kiểu người Hoa, bởi tiệm nhậu nằm ở khu đường Trần Phú (Nguyễn Hoàng cũ). Tất nhiên lúc nào cũng có cái màn bỏ tim gan của rắn hổ mang còn thoi thóp giẫy giẫy vào một chai rượu đế nhỏ và chia nhau uống ngay lúc máu huyết con rắn còn nóng. Lạ quá sau chuyến đi đó, lúc trở về nước (Úc) cái lưng đau gần như kinh niên của tôi do ở việc ngồi bàn giấy lâu năm tự nhiên hết hẳn. Từ đó trở về sau bất cứ lần nào có dịp về Việt Nam tôi cũng tìm đi ăn thịt rắn. Thường thường đưá cháu trai của tôi - một expat từ Sydney - và tôi ưa đến tiệm Tri Kỷ Gốc (để phân biệt với các quán Tri Kỷ giả) ở miệt Tân Ðịnh gần rạp hát Văn Hoa ngày xưa, để ăn thịt rắn vì tiệm này nấu rắn theo kiểu Việt (tức là có mấy món như rắn bầm xúc bánh đa, rắn xào lăn, v.v.). Thế kỳ này khi về tới Sàigòn thì người cháu đang ra công tác ở Hànội nên tôi đành dành việc gôuter thịt rắn tại thủ đô ngàn năm văn vật vậy. Thịt cầy thì sau một hai lần thử lúc trước tôi không hâm mộ lắm và cũng có ý kiêng cử sợ xúc phạm đến bà con họ hàng của con Sam trong nhà.

Ðến Hànội chừng một hai ngày sau thì cháu tôi kêu taxi đến khách sạn đón tôi đi cùng với một cặp vợ chồng người bạn của nó (người vợ là người Hànội chính cống). Xe taxi đi về khu Lệ Mật thì lái xe (bây giờ ở Việt Nam người ta gọi 'người tài xế' là 'lái xe') nói rằng anh ta không nhớ rõ là phải rẻ vào hẻm nào, để đến các tiệm thịt rắn. Ở Hànội có cái hay là người ta quen chia ra thành từng khu theo kiểu 36 phố phường và tập trung những hàng hoá, dịch vụ cùng một loại vào từng khu đó. Thành ra cái hẻm mà lái xe đang tìm kiếm là một ngõ hẻm có rất nhiều tiệm chuyên bán thịt rắn thịt rùa và các loại chim rừng. Nhiều người trong xe đề nghị lái xe nên tắp vào đầu một ngõ hẻm nào đó và hỏi người địa phương. Chiếc taxi vừa chạy chậm chậm đến đầu một ngõ rẻ thì từ đâu thấy xuất hiện một thanh niên chạy xe Honda đến gần taxi chúng tôi với tay kêu vặn kính xe xuống để anh ta chuyền vào xe tấm 'danh thiếp' của hiệu ăn thịt rắn ngay trong hẻm đó. Xong rồi anh ta quay chiếc xe Honda lại ra hiệu chúng tôi chạy theo xe anh. Qua cặp kính râm tôi thấy chiếc áo T-shirt của anh chàng dẫn mối này có in hình một con rắn rất đẹp cả phía trước lẫn phía sau, tên hiệu ăn cùng địa chỉ và số điện thoại. Tôi chắc rồi một ngày gần đây T-shirt này cũng sẽ in luôn website và email của tiệm thịt rắn. Thịt rắn ở Hànội có vẻ 'kiểu' hơn trong Sàigòn, bởi có chủ nhân ra tiếp khách mời thức khách đi 'tham quan' mấy cái 'chuồng' chưá rắn hổ mang mời lựa rắn như ngươì ta lựa tôm hùm hay cua, cá ở các hiệu ăn hải sản của người Hoa. Lựa rắn xong rồi có một tay 'thợ rắn' cầm cây móc lôi nó ra cho nó lượn thân hình trong thế 'quỳ gối' lờn vờn ở giữa sân xi-măng - xong rồi cắt cổ nó lấy huyết và lấy túi mật. Xong màn biểu diễn đó chủ nhân mới mời thực khách bước lên lầu và ngồi vào bàn. Chừng 3, 4 phút sau người hầu bàn đem mấy chung rượu ra trong đó có một chung có quả tim hay gan gì đó còn giẫy giẫy trong rượu. Chủ nhân ngồi xuống bàn mời mọi người cùng uống rượu với ông rồi mới cáo lui, trước khi người ta lần lượt đem từ nhà bếp thịt con rắn ban nảy nấu thành 7 món.

Cái lối tiếp thị bằng xe Honda đó tôi lại thấy một lần nữa vào hôm đi Vịnh Hạ Long với ông bạn kế toán gia gốc Ai Cập. Xe đang chạy gần đến Vịnh Hạ Long thì có một chiếc Honda đuổi theo taxi chúng tôi với tốc độ cao. Thanh niên lái Honda ra hiệu chúng tôi vặn kính xuống. Cũng để thảy vào xe các danh thiếp của một hãng tàu chở du khách đi tham quan các đảo ở Vịnh Hạ Long. Tôi để ý trên tấm danh thiếp có ghi một mặt chữ Anh, trong đó có từ sáng tác mới mẻ, guidtor, chắc là muốn ám chỉ người hướng dẫn du khách, tourist guide. Tôi chợt nhớ đến lần về VN đầu tiên 1990 đứng tại khu Bưu Ðiện - Nhà Thờ Ðức Bà tôi có để ý đến một từ cũng tiếng Anh ghi ở đâu đó dùng để chỉ 'ngày nghỉ' tức holiday, mà họ ghi là feastday. Tôi đoán biết được ngay hồi đó Việt Nam mới mở cửa các cán bộ nhà nước quen tránh những gì liên hệ đến thần thánh như Holy trong từ holiday nên họ phải thay thế Holi thành Feast. Mấy lần sau về VN tôi quên bẵng việc check lại xem Anh Ngữ tại Vietnam đã theo tiêu chuẩn 'quốc tế' hoàn toàn chưa, qua từ holiday này. Chắc chắn là họ đã thay đổi từ feastday trở lại thành holiday rồi, để mấy nhà đầu tư từ nước ngoài như Taiwan, Hongkong hoặc Singapore có thể hiểu dễ dàng hơn.

Ði Vịnh Hạ Long: Vịnh Hạ Long cách Hànội trên dưới 130km. Mặc dù có đường xa lộ rất rông mới mở nhưng tốc độ xe chạy ở Việt Nam rất thấp, khoảng 40km/giờ tối đa ngay trên xa lộ, nên từ Hanoi đi ra đó cũng tốn trên 3 giờ đồng hồ. Cháu tôi có hẹn sẽ mượn xe 4WD của hãng để đưa tôi cùng một hai người bạn đi ra ngoài đó chơi vào sáng Chuá nhật trước ngày về một ngày. Thế nhưng khoảng 7 giờ sáng người cháu gọi điện thoại tới nói bận mục khác nên cho tôi số điện thoại của một hãng thuê xe bảo rằng thuê xe trọn ngày đi ra Vịnh tốn 1 triệu đồng VN tức là khoảng 70 đô Mỹ. Tôi qua phòng rủ ông bạn Sam người gốc Ai Cập đi cùng và điện thoại hẹn xe thuê tới đón. Hên hôm đó trời không mưa nhưng cũng ít nắng. Phải nói luật giao thông của VN hãy còn lỏng lẻo nếu không nói gần như không có. Xe chạy không để ý gì đến hai đường chia mỗi chiều trên xa lộ, và thường thì chạy vào giữa cái vạch trắng chia ra hai lanes đó. Xe đạp xe bò nhiều khi chạy ra đường chia bên ngoài, trong khi xe sau trờ tới bóp kèn inh ỏi. Xa lộ vẫn thu tiền qua các cầu lớn như ở tại một vài nước Tây phương như ở Úc. Có điểm khác biệt là trên xa lộ VN địa điểm thu tiền cách xa cầu đến cả 1-2 cây số để tránh cầu khỏi bị ngẹt xe. Người thu tiền lên cầu đa số đều mang mặt nạ tránh bụi và ô nhiểm. Tôi để ý cái gì cũng theo luật tương đối. Nếu ở Âu Châu chạy xe trên xa lộ với tốc độ 40km/giờ có thể bị rượt theo bảo dừng xe bên đường hay 'đi chỗ khác chơi' vì quá chậm, cản trở lưu thông thì tại VN tôi thấy 40km/giờ cũng là quá nhanh vì nó nhanh hơn xe đạp và xe bò khá xa!!

Khoảng gần 12 giờ xe chúng tôi tới Vịnh Hạ Long. Bơỉ chúng tôi đi bất chợt, xé lẻ 2 người và đi theo kiểu sáng đi chiều về nên bắt buộc phải thuê tàu ra các hòn đảo riêng rẻ. Tất nhiên là sẽ đắt hơn là đi 'tua' được quảng cáo đầy trong Hànội, giá chừng US$15 đến $20, bao gồm cả một đêm nghỉ trên đảo Cát Bà. Lái xe giới thiệu một thanh niên chủ tàu và ra giá $50 chở ra hai đảo rồi trở về trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Ông bạn đồng hành Sam chê mắc quá và thấy cảnh ở bờ biển vùng vịnh cũng đã đẹp rồi nên có ý định không đi. Chủ tàu xuống giá còn $40. Phản ứng ông Sam trở nên cương quyết hơn, ông không đi. Tôi kéo ông sang một bên cố gắng thuyết phục ông bởi ông nói tôi muốn đi thì cứ đi một mình đi, ông sẽ đến một quán ăn gần đó uống ly rượu vang chờ tôi. Vừa từ chối ông vừa giận dữ nói thằng cha chủ tàu vi phạm đến nguyên tắc của ông. Ông viện đủ thứ lý do để từ chối. Tôi kêu anh chủ tàu dẫn ra chiếc tàu buồm và có động cơ máy để chỉ ông Sam hầu mong ông ấy chịu đi, chứ tôi đi một mình ra ngoài đảo thì quả 'không giống ai' giữa một cái chợ đông đảo du khách như hôm đó. Tàu rất rộng chứa được chừng 20-30 hành khách. Ông Sam khăng khăng không chịu đi nói là anh chủ tàu đổi giá tráo trở như vậy thì không biết anh sẽ làm gì mình khi tàu ra khơi. Nhiều khi chủ tàu sẽ ăn cướp rồi liệng mình xuống biển!! (Về sau tôi kể lại chuyện này với Laurie, bạn lâu năm của Sam, thì Laurie cho biết là đêm hôm trước Sam làm quen được với một thiếu phụ người Việt cở chừng 30 tuổi làm việc tại khách sạn. Sam rủ cô ấy đi ăn 'dinner' và sau đó khám phá ra rằng cô ấy hiện có chồng, Sam ta lập tức cắt đứt mọi liên hệ với cô ấy. Tôi có hỏi Sam chuyện này, và Sam xác nhận anh ta sống với một số nguyên tắc hơi cứng nhưng an toàn trên xa lộ như vậy). Trở lại chuyện khổ tâm của tôi khi phải thuyết phục Sam là nên đi cho nó biết đó biết đây chứ lỡ ra đến đây rồi thì làm sao. Thật là bực mình. Một lúc sau tôi nghĩ ra một chuyện và quay sang hỏi anh chủ tàu có 'licence' hành nghề hay không đua cho Sam coi. Anh chủ tàu nói anh ấy có đến 4, 5 chiếc tàu ở đây - nếu không tin thì đi hỏi công an ở phòng thông tin. Tôi kéo Sam, anh chủ tàu và tài công cùng lái xe đến phòng gác của công an và để anh chủ tàu nhờ công an xác nhận trước mắt Sam là chủ tàu là người làm ăn chân chính lâu năm. Tội nghiệp công an không mấy rành tiếng Anh nên chỉ xác nhận bằng tiếng Việt với tôi. Ông Sam cơn giận hơi nguôi nhưng vẫn chưa thoả mãn với checking đó. Bí qua tôi chỉ nghĩ ra một cách cuối cùng là nhờ công an nhìn thẳng vào mặt ông Sam và nói to 'OK'. Presto! Ông Sam chịu xuống tàu ra khơi, đi ra tham quan hai hòn đảo ngoài khơi.

Kết quả của chuyến đi đó: Tôi chỉ thấy thích thích hay hay thôi, nhưng Sam thì thơ thới hân hoan, sảng khoái ra mặt. Thích thú nhất ông lặp đi lặp lại là mấy núi đảo đó ở trong là rỗng chứa đầy thạch nhủ stalagtites với stalagmites. Ông ta mua cả mấy bộ video, postcards, CD Rom, đồ vật kỷ niệm ở ngoài đảo và nói tao chưa từng đi chỗ nào đẹp như chỗ này, rồi đây chắc chắn tao sẽ trở lại. Dân ở đây tốt lành quá, cảnh như chốn thiên đường ở hạ giới. . . Về đến khách sạn tôi nghe anh ta nói với Laurie là đến Việt Nam mà không đi vịnh Hạ Long cũng như đi Pháp mà không lên tháp Eiffel!! Mấy lần tới Laurie có tổ chức đi công tác thương mại thay vì ở khách sạn West Lake nên đem hết đoàn ra ngoài Vịnh mà ở hotel ngoài này để họp hành thoải mái hơn (sic)!!

Hànội và Sàigòn về đêm: Ở Sàigòn, vào đêm thứ hai chủ tịch Laurie khoản đãi đoàn ở một tiệm ăn khá sang trọng tên Mandarin toạ lạc tại khu hải quân cũ ở bến Bạch Ðằng. Tiệm ăn là một toà nhà hai tầng - chắc của một Phó Ðề Ðốc nào trước kia - trang hoàng rất đẹp mắt, với sàn nhà bằng gỗ đánh varnish bóng như nhà ở Mỹ ở Úc hiện nay. Chỗ ngồi rộng rãi nhưng chật ních khách. May mắn người quản lý - một người Âu Châu - chịu kêu mấy cô tiếp đãi mặc áo dài tha thướt dọn thêm hai ba ghế vào một bàn 8 chỗ ngồi duy nhất còn trống ở trên tầng trên, và xin lỗi khách vì bàn ăn chật chỗ. Ở giữa sàn nhà phía dưới có một nhóm nhạc sĩ đang hoà tấu nhạc giúp vui. Ban nhạc gồm một cô xử dụng đàn tranh, một anh chơi đàn dương cầm và một cô chơi cây đàn độc huyền cầm, tức đàn bầu hay đàn một dây, một phát minh thuần tuý Việtnam. Một anh hướng dẫn người điạ phương đã từng tu nghiệp ở Canada đến yêu cầu ban nhạc chơi vài bản Mỹ. Lập tức ban nhạc chơi bản hành khúc Jezebel rồi tới Sukiyaki, v.v. rồi trở lại chơi mấy bản cổ truyền VN trong đó có quan họ Bắc Ninh. Tiết tấu vừa vui tươi vừa dòn tan du dương. Không khí trong phòng ăn rất sống động và nhộn nhịp. Khi kêu món ăn tôi để ý thức đơn gồm rất nhiều món ăn mới sáng chế sau này theo kiểu nouvelle cuisine theo với trào lưu của Úc và Mỹ hiện nay. Thức uống có rất nhiều cocktail cũ như Daiquiri, Fallen Angel, Grasshopper, v.v. và mới như Saigon Special, Fruit combination, v.v. Ðặc biệt lúc đó vừa cuối mùa trái Thanh Long, nên chúng tôi cũng gọi được món tráng miệng Thanh Long và ice-cream ăn đỡ khổ.

Sàigòn có vẻ có nhiều hiệu ăn sang trọng như vậy hơn Hànội, nhưng bù lại Hànội có vẻ có nhiều phòng trà cà phê ca nhạc hơn Sàigòn. Hôm sau, đêm cuối cùng sở Thương Mại thành phố đãi tiễn biệt chúng tôi ở một tiệm ăn sang khác ở đường Bùi Thị Xuân tên Song Ngư. Tiệm này cũng đông ngẹt thực khách mặc dù được biến chế từ một villa rộng lớn trước kia. Ở cuối phòng ăn cũng có một dàn nhạc gồm 3 thiếu nữ ăn mặc áo dài chít khăn cổ truyền tiêu biểu cho 3 miền Trung Nam Bắc. Một cô chơi đàn một dây, một cô xử dụng đàn tranh và cô kia khảy đàn kìm. Có một lúc nghỉ xả hơi người ta khiêng vào một cây đàn khỏ mấy khúc tre đan lại với nhau, và cô đàn tranh cất cây đàn tranh sang một bên đứng ra biểu diễn đàn khúc tre. Nhạc họ chơi rất vui tươi và sống động. Toàn là những bản nhạc vàng ngày xưa xen lẫn với những bản nhạc nổi tiếng Âu Mỹ. Những bản nhạc của các nhạc sĩ như Y Vân, Văn Phụng, Anh Bằng, v.v. được chơi pha trộn với các bản như Que Sera Sera, My Darling Clementine của Âu Mỹ. Anh bạn ở sở thương mại nói rằng các cô này thường đang học hoặc đã tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc tối tối ra các nhà hàng làm thêm. Tiệm ăn này cũng như tiệm kia đều có những món ăn mới sáng chế như món lẩu Song Ngư (lấy tên của quán) dùng hai con cá (tên gì quên mất rồi) đã chiên sẵn, xong rồi một thiếu nữ đến bàn giẻ cá ra rồi bỏ vào nồi lẩu đã dọn sẵn đun sôi trong đó hình như có pha một tí mắm. Xong rồi cô dùng đũa gắp cho từng thức khách mỗi người một chén lẩu song ngư pha với bún và rau sống. Ăn nóng tại chỗ! Hình như tiệm nào ở Sàigòn bây giờ cũng đều có những món mới sáng chế - không thua gì các hiệu ăn sang trọng ở Sydney chuyên môn theo nouvelle cuisine. Có tiệm quảng cáo là có thực đơn đếm tới 43 món lẩu khác nhau! Mỗi tháng ăn một lần phải đến gần 4 năm mới hết các thứ lẩu đó!

Trong lúc tiệc gần tàn anh bạn ở sở thương mại căn dặn với tôi rằng nếu ra Hànội mùa này hãy tìm ăn cho được cơm lam và cơm niêu, và nếm thử trái hồng (persimon) Thái Nguyên. Hồng này ngon rất kì lạ, anh ấy nói. Thế là khi ra tới Hànội tôi ngỏ ý với người cháu của tôi là tôi muốn thử cơm lam và cơm niêu. (Chả cá Lã Vọng thì tôi đã ăn nhiều lần rồi - ở Sàigòn và Hànội - nên kỳ nầy không tha thiết nó nữa. Ðiểm đáng kể là một đoạn phố Hàng Cân trước cửa hiệu Chả Cá Lã Vọng nay đã được đổi tên là đường Chả Cá để nhìn nhận hiệu ăn này đã trở thành một cơ viện (institution) của Hà Nội). Vào một buổi chiều cháu tôi (cũng đã 44-45 tuổi) đến khách sạn rủ tôi đi ăn cơm lam, cũng ở gần khu Yên Phụ sau một dãy tiệm chuyên bán thịt chó. Cơm lam là một món cơm của người dân tộc nấu trong ông tre. Hình như họ nấu bằng gạo nếp nên cơm rất dẻo. Cơm ăn với các món nấu chim rừng hoặc thú rừng xào lăn hoặc xào với đậu với hành củ. Ăn cơm lam thường uống với rượu cần, tức là một hủ rượu nếp ở dưới đáy hủ sau đó châm thêm nước suối cho đến ngập đầy hủ, và khách uống rượu bằng một ống hút làm bằng ngọn trúc cong veo dài và dẻo. Có thể cái straw để người ta uống milkshake hay từ những lon nước ngọt ngày nay đã được người dân tộc phát minh đầu tiên tại Vietnam chăng? Khi thấy hai cậu cháu tôi vừa xuống taxi bước vào tiệm lập tức hai người thanh niên to khoẻ ăn mặc quần áo dân tộc cùng nhau đánh trống ba hồi chào mừng chúng tôi. Tiệm cơm lam thiết trí như một nhà sàn bằng tre của người dân tộc. Dạo mới mở nghe nói thực khách rất đông. Lúc sau này nhiều tiệm ăn mở ra với những chiêu bài mới mẻ thu hút khách hơn nên cơm lam có vẻ hơi xuống. Trái hồng Thái Nguyên thì tôi mua được cả kí từ một bà quảy gánh bán hàng rong ở phố Hàng Ðào. Ðem hồng về chứa trong tủ lạnh ăn mãi không hết mới chia bớt cho ông bạn người Úc gốc Ai Cập đi cùng chuyến.

Cơm niêu có sắc thái đặc thù ViệtNam. Ở Hànội có rất nhiều hiệu cơm niêu và ở Sàigòn cũng mới mở một hai tiệm. Ðó là cơm trắng nấu trong một cái nồi lớn trước rồi múc cơm trắng nén vào một cái niêu bằng đất đường kính chừng 4 inch tức 10 cm. Người ta đậy nấp niêu lại rồi đút vào lò như lò pizza. Sau đó chừng 15 phút hay nửa giờ người ta mới đem niêu cơm ra đến tận bàn của thực khách. Người hầu bàn mới dùng búa đập bể cái niêu đất ra rồi liệng cả cái niêu cơm lên trên không để các mảnh vụn của niêu rớt ra ngoài xong mới đưa diã không ra hứng bắt lấy cơm từ trong niêu tuột ra. Các động tác đó xảy ra thật nhanh cạnh bên bàn ăn. Cơm từ niêu hứng bắt được là một nắm cơm to hình quả banh bầu dục bao bọc chung quanh bằng một lớp cơm cháy nóng vàng. Ở trong mới là cơm trắng. Cơm niêu thường ăn với các món ăn thuần túy Việt Nam như cá kho tộ, canh chua cá bông lau, thịt sườn chiên chua ngọt, v.v. Món cơm niêu này tôi yêu cầu hai chị em cô Loan và cô Nhung cho được ăn khi hai cô này đến để mời Laurie (trưởng đoàn) và tôi đi ăn tối để đáp lễ trong chuyến đi tìm thị trường của hai cô này tại Sydney vào mấy tháng trước. Sau bữa cơm niêu hai chị em cô Loan Nhung dẫn Laurie và tôi đến một toà nhà giải trí chừng 5 tầng để gặp toàn thể đại gia đình của các cô ấy gồm chừng mười mấy người và cũng có lẽ . . . để phô trương đời sống về đêm của Hànội. Toà nhà này khá lớn, mỗi tầng chứa một môn giải trí khác nhau. Có tầng dùng làm 10-pin bowling, có tầng đánh bi-da, chơi computer games, có tầng dùng làm nhà hàng ăn uống, tập thể dục và có tầng để làm khiêu vũ trường. Phải nhìn nhận dân Hànội bây giờ rất chịu khó nhảy nhót dancing. Chỉ hơi tiếc là thế hệ babyboom (thế hệ sinh sung), tức là thế hệ sinh ra đời khoảng từ 45 đến 60, lúc thanh xuân thì không được nhảy đầm, đến lúc tuổi già rồi người ta cho nhảy thả cửa thì không còn sức đâu mà nhảy nữa!

Ðời sống ban đêm của Hanoi và Saigon còn tập trung ở những tụ điểm phòng trà ca nhạc ở khắp nơi. Về Hànội lần này tôi có cái may là sẵn có người cháu ra công tác ngoài đó về việc e-Commerce với ông boss là một expat từ Mỹ về nằm vùng ở đó cũng gần 10 năm. Ông boss của người cháu có họ hàng với Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tác giả Hồ Sơ Mật năm nào. Ts Hưng hiện rất enjoy đời sống tại quê xưa xứ cũ - như Anh Bùi Hồng Cẩm từ Tân Tây Lan - ngày ngày giở chồng hồ sơ mật mới về chương trình viện trợ kinh tế của Liên Hiệp Quốc cho Việt Nam. Các phòng trà ca nhạc lúc nào cũng đông ngẹt thanh niên thiếu nữ ăn mặc rất chic. Các phòng trà này trang trí rất moderne và trang nhã. Các ca sĩ giúp vui rất đông, đa số đều thuộc lứa tuổi các casĩ như Thanh Lam và Hồng Nhung, và mỗi người chỉ ca chừng 5 bản xong rồi rút lui người khác ra thay thế. Có hôm phái đoàn của cháu tôi dẫn tôi đến một phòng trà, cà phê có bán thức ăn tên là Phú Gia nhìn ra Hồ Hoàn Kiếm rất thơ mộng. Ở giữa phòng ăn có một thiếu nữ mặc áo dài ngồi độc tấu dương cầm liên miên hết bản này sang bản khác. Anh boss của cháu tôi hỏi tôi có yêu cầu cô ấy chơi bản nào không. Mới vừa nhấm nháp một hai ngụm cognac tôi đến cạnh cô đàn piano và yêu cầu cô ấy đánh bản nhạc của phim the Godfather. Cô ấy hỏi tôi nó như thế nào cô ấy không nhớ. Tôi mới khẻ khẻ cất giọng ồ ồ: 'Là la lá la là lá là la la lạ la là . . .' Tức thì cô ấy đưa mười ngón tay vào phím đàn và đánh trọn bản Godfather trong sự ngưỡng mộ vỗ tay nhiệt liệt của thực khách. Lúc đó tôi mới để ý trước mặt cô chơi đàn không có một tập nhạc nào hết.

Kết: Tôi ở Việtnam đước đúng một tuần thì lên máy bay Singapore trở về nước. Tại phi trường Nội Bài ở tại cửa ra máy bay, có những hộp quyên tiền cứu trợ bão lụt miền Trung. Tôi vét hết túi và cũng rủ các bạn đồng hành vét túi lấy hết tiền VN đút vào hộp quyên tiền cứu trợ. Tiền VN vẫn chưa trở thành một semi-hard currency như ren-min-bi của Trung Quốc, thành ra nó có vẻ vô giá trị khi ra nước ngoài. Cũng có cái lợi là vào lúc khủng hoảng kinh tế Á Châu Việt Nam như tránh được cơn gió lốc mất mát tiền tệ nên có vẻ hơi an toàn trong cơn sốt kinh tế Á Châu. Thế nhưng đa số các nhà đầu tư nước ngoài tại Vietnam đều xuất phát từ các nước đang bị khủng hoảng kinh tế. Do đó, và cộng với một số các lý do khác do ở bên phía VN, họ phải rút bớt các mối đầu tư về nên đà tăng gia kinh tế của VN từ 7-8% xuống còn 4-5%.

Người viết thật sự chẳng biết kết bài này ra thế nào cho mọi người đọc được vừa ý. Chỉ mượn lời của một ông bạn Sam, đồng hành Úc gốc Ai Cập. Ông này goá vợ Phi Luật Tân vài năm nay, ông so sánh trong lúc xe lên cầu Chương Dương ra xa lộ đi phi trường: Tôi thích Vietnam, nước này có nhiều khung cảnh đẹp lịch sự, và một dân tộc tràn đầy sức sống và nhiều năng động hơn Phi Luật Tân. Happy Millennium.

Clara Maersk

Gửi Gạo

An Nghiêm

Hello
Thưa..., phải cô Hiền Vi không ?
Phải.
Thưa cô có mạnh khỏe không ?
Có, nhưng mà ai đây ?
Dạ cháu...cháu...là  Quang đây .
Có chuyện gì không cháu ?
Dạ... dưới nhà cô có mưa không ?
Không!
Dạ ở nhà cháu, mây đen đang kéo tới, trời đang vần vũ, lóe sáng om sòm.
Cháu muốn nói thunderstorm hả ?
Dạ đúng rồi .
...
Cô còn đó không ?
Cô đây!
Thưa... thưa .. cô ...
Gì vậy cháu ?
Cháu... cháu... cháu... muốn hỏi cô có cho cháu mời DĩAn đi homecoming * với cháu được không ?
Hả! Quang nói gì ?
Bên kia điện thoại, giọng Quang run run lập lại câu đã nói. Bên này đường giây, tai tôi vẫn không chịu nghe cho rõ.

Dĩ-An vừa tròn mười sáu, đứa con gái mà chúng tôi vẫn tưởng là còn rất nhỏ. Thỉnh thoảng nữa đêm con bé còn chạy xuống phòng bố mẹ, vỗ vỗ vào vai tôi để bắt tôi xích vào trong cho nó nằm ké, vì: ‘Con có nightmare mẹ à.’ Có khi tôi hỏi ác mộng của nó như thế nào thì nó nói nhanh: ‘Con quên mất rồi,‘ xong ôm mẹ ngủ khò. Vậy mà ‘thằng bé này‘ lại ‘dám’ mời con tôi đi homecoming. Thiệt sảng!!!

Được không cô ?
Tiếng Quang hỏi bên tai, mang tôi trở lại thực tại.

Quang hỏi Dĩ-An chưa ?
Dạ chưa!
Vậy lỡ cô cho mà Dĩ-An không muốn đi thì sao ?
Dạ cháu xin phép cô với bác trước rồi cháu sẽ hỏi Dĩ-An .
Thôi được, để cô hỏi lại bác trai đã. Bác đi công tác chưa về. Mai mốt cô sẽ cho cháu biết nhé. OK ?
Chị Vân nhắc phone khi tôi gọi lại. Chúng tôi quen biết nhau từ hơn một năm nay nên đã có nhiều dịp nói chuyện tương đắc. Tôi hỏi chị có biết là Quang gọi tôi hai hôm trước không. Chị ngập ngừng trả lời có. Tôi hỏi chị có biết Quang mời Dĩ-An đi homecoming không. Chị ngần ngại đáp: ‘Cháu có bàn chuyện đó.’

Cảm nhận được sự căng thẳng trong giọng nói của chị, tôi vào đề ngay:

Em đã hỏi nhà em, và tụi em đồng ý cho Dĩ-An đi.
Chị thở ra cái phào, như trút hết bao lo âu đã mang trong lòng từ mấy ngày qua. Phần tôi, dĩ nhiên là chưa thể kể cho chị những khó khăn tôi phải trải qua khi nói chuyện với nhà tôi. Vì theo anh thì: ‘Con nít, con nôi, hỉ mũi chưa sạch mà bày đặt homecoming com-miếc cái gì.’

Sau lần đi chơi đó của hai đứa nhỏ, chị Vân và tôi thân nhau hơn. Có lẽ vì cùng thương con, nên chúng tôi hay mời nhau dùng cơm hoặc là chỉ vẽ nhau nấu nướng. Vì cả hai cùng thích làm bếp nên cơ hội gặp nhau cũng thường. Chị Vân biết tôi thích ăn bánh hỏi như chị, nên lần nào có dịp ra tiệm bánh hỏi để mua, lúc nào chị cũng mua tặng tôi vài khay ăn lấy thảo.

Lần họp mặt tất niên của bạn hữu năm đó. Dĩ-An theo chúng tôi cùng tham dự. Gặp các bác, các cô chú thật đông, ai cũng khen nó càng lớn càng xinh. Anh chị Minh, bạn nhà tôi, đùa là muốn ‘gởi gạo’ cho cậu con trai lớn của anh chị . Dĩ-An không hiểu ‘gởi gạo ‘ là gì nhưng cũng cười cười lấy lệ. Trên đường về hôm đó, tôi đã giải thích cho nó hiểu về hai chữ này .

Trong lúc phụ mẹ làm cơm tối chiều hôm sau, DĩAn kể cho tôi nghe là nó vừa nói chuyện với Quang và kể cho bạn nghe về chuyện gởi gạo. Vừa lúc đó thì điện thoại reng, con gái tôi trả lời.

Đang cho rau vào soong canh, tôi nghe tiếng nó trấn an bạn: ‘’Don’t wory, my mom doesn’t like to eat gạo . She only likes bánh hỏi .’’ - Đừng có lo, mẹ em đâu có thích ăn cơm đâu. Mẹ em chỉ thích ăn bánh hỏi thôi,- làm tôi lắc đầu mỉm cười một mình.

* Buổi dạ vũ của high school, thường thường con gái được mời đi ăn tối, trước khi đến trường dự dạ vũ

June 1999