Sunday, March 2, 2014

Tin Auckland & Brisbane

Tin Vắn Auckland

Ðầu mùa Ðông 2000 (June) , anh em Mít Auckland có dịp tiếp đón một số các bạn Ex-Kiwis từ xứ Cờ Hoa về thăm quê hương thứ hai.

Bắt đầu là Peter Lê Thủ Nghe & Vân Anh và con đến Auckland vào dịp cuối tuần 10-11-June/2000 , kế đó vào ngày 20/6/2000 là Huỳnh Hữu Hân và Judy ghé thăm Auckland trong 1 tuần rồi thuê xe đi một vòng đảo Nam trong 10 ngày, và kế tiếp là Nguyễn Phục Hưng, Từ Hiền và Dĩ An ghé thăm Auckland trong 3 ngày 23-25/6/2000 . Ngoài ra cô Trần Thị Ngọc Bích cũng hứa hẹn ghé thăm Tân Tây Lan vào tháng 12, nhưng mới dược tin hoãn lại để về Việt nam.

Anh em cựu sinh viên T.T.Lan có dịp gặp gỡ , hàn huyên thật là vui vẻ . Ước chi chúng ta những cựu Mít New Zealand có nhiều dịp hơn để gặp mặt và tâm tình sau bao nhiêu năm xa cách.

Tin Tức Brisbane

Ðầu năm 2000, Brisbane đã có dịp tiếp đón anh chị Lê Quang Long trên đường từ Việt Nam về Auckland, New Zealand ghé thăm. Anh chị Ðinh Văn Quí đã đaĩ tiệc taị tư gia để ex-kiwi taị Brisbane có dịp gặp và truyện trò thăm hoỉ anh chị Long.

Sau đó vào giữa tháng Sáu, anh chị Nguyễn Phục Hưng đã cố gắng ghé thăm Brisbane trên đưỡng đi thăm New Zealand. Anh Hưng muốn giới thiệu xứ Kiwi cùng chị Từ Hiền và cháu Dĩ An nhân dịp kỷ niệm thành hôn lần thứ 25 .

Vì thì giỡ eo hẹp, phóng viên nhà báo chỉ có thể đưa anh chị Hưng và cháu Dĩ An thăm vùng Gold Coast ( Biển vàng) và Sunshine Coast ( Biển nắng) . Anh chị Hưng đã hứa là sẽ viết bài báo tả cảnh Brisbane, Gold Coast và Sunshine Coast cho báo 7ND để các ex-kiwi cùng hưởng.

Nhân dịp Olympic 2000, Brisbane đã được phân công tổ chức đá vòng loại cho đến bán kết (Quarter-final) và vì vậy trong trận Brasil/Japan thành phố Brisbane đã bị Japan xâm chiếm!!

5000 du khách Nhật đã cắm cờ mặt trời tại sân túc cầu (Soccer) cùng vơí phaí đoàn TV, nhà báo Nhật để ủng hộ gà nhà. Tuy nhiên, Brasil vẫn thắng!!!

Dấu Chân Kỷ Niệm

(Du ký của một chuyến về thăm Úc & New-Zealand)
Nguyễn Phục Hưng

Thấm thoát mà tôi rời NZ đã hơn 30 năm! Thời gian qua nhanh như "bóng câu qua cửa sổ". Tôi vẫn mong có một ngày được trở lại thăm NZ, nhất là Wellington và Auckland là nơi tôi đã sống những ngày vui buồn thời đi học. Bây giờ thì mong ước đã thành khi bà xã tôi làm việc với hãng máy bay nên cả gia đình có cơ hội về lại NZ mà không phải quan tâm về ngân quĩ gia đình.

Sắp xếp công chuyện sở, chuyện nhà cho một tháng đi xa rất ư là nhức đầu. Chương trình thay đổi như cơm bữa. Lúc thì muốn ghé Melbourne, khi thì không. Lúc thì thích đi Queenstown, mà lại sợ lạnh, không dám... Nhưng rồi mọi chuyện cũng tạm xong, ngày tôi đưa vợ con về thăm "quê chồng" (chữ của vợ tôi vẫn dùng khi nhắc đến NZ) cũng đến.

Chúng tôi khởi hành từ Houston đi Tokyo. Có lẽ tôi không có duyên với thành phố này nên dù đã đến phi trường Narita ba bốn lần mà chưa bao giờ tôi ra khỏi nơi đây. Trạm kế là Guam. Guam là nơi có nhiều trại đón nhận người Việt tỵ nạn năm 1975. Nơi đây có nhiều kỷ niệm hãi hùng cho vợ tôi. Nàng nhớ lại những ngày sống dưới mái lều đầy nắng gió, cát bụi của tháng Năm năm 75. Những ngày tháng đợi chờ vào nước Mỹ, ngày ngày xếp hàng đi ăn cơm nhà bàn. Từ Hiền (TH) nhắc lại chuyện ngày xưa cho tôi nghe trên chuyến bay từ Tokyo đến Guam. Chuyện cô bé vừa ngoài 20 tuổi đi tìm người yêu, với đôi mắt đỏ hoe vì khóc và vì cát bụi. Bây giờ các trại tỵ nạn đã đóng cửa, chúng tôi có hỏi vài người dân địa phương cách để đến thăm lại nơi TH đã ở nhưng được biết là không vào được nữa.

Vì là "Airlines Staff" nên TH được hưởng giá đặc biệt của hầu hết các khách sạn. Tới Guam, chúng tôi ở tại Hilton. Từ đấy nhìn ra biển thật là đẹp. Dĩ An nói với TH: "Giống như trong movie mẹ nhỉ." Buổi sáng chúng tôi dậy sớm tắm biển, nước trong và rất sạch. TH nói: "Nếu ngày xưa em không bị khủng hoảng tinh thần về việc di tản thì chắc em cũng đã thấy Guam đẹp như bây giờ anh nhĩ." Tôi nheo mắt: "Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!"

Rời Guam, chúng tôi bay sang Cairns, thị trấn địa đầu phía Đông Bắc của Úc Đại Lợi. Chúng tôi ít khi nghe đến tên của địa danh này nên đã không dự định ở lại. Dè đâu phong cảnh nơi đây rất đẹp, khí hậu thì giống ViệtNam. Chung quanh phi trường là những hàng dừa xanh ngắt. Thôi đành hẹn lại dịp khác sẽ thưởng thức dừa, nhãn, xoài, chôm chôm...vậy!.

Chúng tôi bị một trục trặc bất ngờ khi qua quan thuế ở Cairns. Lý do là hôm ở Guam, ông tài xế xe bus rất dễ thương và cởi mở, đã dùng xe bus, chở chúng tôi chạy ra khỏi lộ trình của mình, để đến một tiệm trái cây của người VN, mua một trái mít rất ngon. Mít đã được ăn hết nhưng mùi thơm vẫn còn trong hành lý. Chú chó của quan thuế Cairns có chiếc mũi rất thính, đã nhất định ngồi lỳ bên đống hành lý của chúng tôi, làm nhân viên quan thuế tưởng chúng tôi có ma phiến hay đồ quốc cấm. Thế là họ khám xét tùm lum mà vẫn không kiếm được gì. Đến khi TH nói là hôm qua đã mua Mít thì ông quan thuế trợn mắt: "Sao không nói từ đầu?" Vợ tôi cười hiền lành: "Tại ông đâu có hỏi."

Sau sáu giờ chờ đợi ở Cairns, chúng tôi đáp máy bay của hãng Qantas đi Brisbane. Vừa ra khỏi cổng quan thuế (lại quan thuế!) đã thấy ĐNHùng chờ sẵn. Tay bắt mặt mừng, Hùng dẫn chúng tôi ra bãi đậu xe. Có lẽ vì vui mừng gặp lại bạn, Hùng quên mất chỗ đậu xe, làm tôi cảm động quá chừng. Nhưng chỉ vài phút sau thì Hùng cũng tìm thấy xe. Tôi nhìn vợ tôi, vui vẻ nói: "Đâu phải mình anh lẫn đâu em." TH chỉ mỉm cười, không đáp.

Căn nhà của Hùng-Xuân nằm trên lưng đồi thật xinh xắn và thơ mộng. Sau khi cho hành lý vào phòng xong, Hùng đưa chúng tôi ra xem chiếc balcon do Hùng vẽ kiểu lấy. Balcon hình chéo, rất lạ, Hùng hỏi chúng tôi có nhận ra hình gì không. Dĩ An đáp ngay: "Titanic!" Hùng đã giải thích là sở dĩ Hùng làm như vậy là để nhớ lại con tàu đã đưa Hùng vượt biên. Bạn tôi coi vậy mà lãng mạn thật!!!

Brisbane cũng đồi núi như Wellington chỉ khác là không có biển, nhưng bù lại thì dòng sông Brisbane chia thành phố làm đôi nên rất thơ mộng. Chúng tôi không dám lái xe ở Úc và NZ vì ở hai nước này họ "lái xe ngược," vợ tôi nói vậy. Chúng tôi đành giao số mạng cho Hùng. Rất may là Hùng lái xe còn ngon lành lắm, chưa lẫn chút nào cả.

Ngày đầu và ngày cuối ở Brisbane, Hùng-Xuân đưa chúng tôi đi coi thành phố này. Lúc đứng chờ tôi đổi tiền ở ngân hàng, Hùng đã chỉ cho Xuân và TH nhìn một cặp vợ chồng già người Úc, phải chống gậy khi di chuyển rồi nói: "Bây giờ còn sức khỏe mà không đi thăm nhau thì đến lúc già yếu làm sao đi nổi." Sau đó thì Hùng đề nghị vận động tổ chức một Exkiwi Reunion năm 2001.

Ngày thứ hai Hùng đưa hai gia đình đi Gold Coast (GC). Đây là một thành phố nghỉ mát của Úc thật đẹp. Từng dãy khách sạn tiếp nối nhau trên cả vài chục dặm đường. Bãi biển cát vàng, nước sạch và trong, rất tuyệt vời. Vì đang Đông nên nước lạnh, không thể nào tắm được. Hùng-Xuân vẫn chưa ngại làm khổ chủ nên đã ân cần mời chúng tôi tới chơi vào mùa Hè để tắm biển.

Tối đó chúng tôi được đưa đến thăm gia đình anh chị ĐVQuí. Anh chị Quí và vợ chồng Tân, con trai trưởng của anh chị (cũng là Exkiwi,) ở trong một dinh thự thật đẹp. Nhà vừa xây xong, còn thơm nguyên mùi thảm mới. Sau đó chúng tôi được mời đi ăn tiệm. Ăn xong, lại được chở lên Mt. Coot-Tha để xem Brisbane về đêm.

Ngày thứ ba Hùng lại đưa mọi người đi Rain Forest để coi thú và cây. Trước khi vào rừng, Hùng đã không quên chỉ cho chúng tôi xem dãy Glasshouse Mountains. Theo Hùng thì những ngọn núi này "có liên hệ gia đình" với nhau, tên là "Núi Ông, Núi Cha, Núi Con..." Đang dò dẫm từng bước trong rừng thì bị mưa nên chúng tôi phải trở lui. Sau khi kiếm chỗ ăn trưa xong, Hùng đưa mọi người đi "Big Pineapple". Ở đây chúng tôi được xem cả rừng trồng thơm, mãng cầu, bưởi... Tôi xin nói thêm một tí cho quí bạn nào muốn ăn trái cây vùng nhiệt đới biết. Mãng cầu (MC) ở đây vừa ngon, vừa rẻ. Một kilo MC chỉ Aus$1.50 vị chi là chừng 45 cents Mỹ một pound thôi. Bưởi ở đây rất ngon, 10 quả 1 đồng, tức là khoảng 65 cents tiền Mỹ. Bà xã tôi rất mê mục này.

Rời Big Pinapple, chúng tôi được chở đi Sun Shine Coast (SSC). Bãi biển của SSC không tấp nập như GC nhưng cũng có nhiều người đi dạo. Hình như SSC có nhiều người già hơn là GC thì phải. Có lẽ đây là nơi những người về hưu tựu về để sống chăng? Chúng tôi đã thi nhau chạy trên bãi biển này rất vui.

Trên đường về, chúng tôi được ghé vào thăm gia đình anh LTHoa, một cựu sinh viên của Colombo Plan Úc. Anh không những là bạn đồng nghiệp cũ của Hùng mà còn là anh em cột chèo với bạn tôi nữa. Vợ chồng anh đã cho mượn chiếc xe Van để Hùng đưa chúng tôi đi chơi suốt mấy ngày.

Những ngày ở Brisbane thật là vui. Tôi và Hùng hàn huyên đến khuya. Hai cháu con Hùng-Xuân là Khải và Ngọc Trân bận học thi nên đã không được chơi nhiều. Dù vậy mà tối nào cũng nói chuyện với Dĩ An sau khi đã ôn xong bài vở. Chị Xuân bận bịu đủ thứ nhưng lúc nào cũng tươi cười. Chị có một đức tánh rất tốt, là ngồi trong xe chồng lái, chị không hề thắc mắc hay phàn nàn gì cả cho dù bạn tôi có lạc đường, buồn ngủ hay lái hơi lạng quạng gì đi nữa. Chúng tôi đã nói với Hùng: "Xuân quả là một người đàn bà phi thường.'" Bạn tôi cười ra chiều rất khoái chí!

Sau bốn ngày ở Brisbane, chúng tôi phải giã từ bạn để đi Canberra. Hùng-Xuân đưa chúng tôi đến tận cửa máy bay mới chịu quay về làm tôi cảm động quá đỗi.

***

Đón chúng tôi ở phi trường Canberra, anh VTNghĩa vui mừng chào hỏi. Vẫn dáng người từ tốn, thanh nhã như xưa, anh không thay đổi gì cả. TH chọc anh: "Thưa thầy, bây giờ con gọi thầy là thầy hay là anh?" Anh cười, xua tay: "Thôi mà TH, thầy trò gì nữa!" Anh Nghĩa chở chúng tôi đi dạo thành phố capital này trước khi đưa về nhà "để tranh thủ thì giờ, vì Hưng ở ít quá," anh nói. Theo anh thì: "Nếu bạn chưa thăm viếng capital của một nước nào thì coi như bạn chưa biết gì về nước đó."



Khác hẳn với Brisbane, Canberra bằng phẳng, đường phố rộng rãi, ngăn nắp như Washington DC. Anh Nghĩa nói là người kiến trúc sư của Canberra cũng chính là người đã vẽ kiểu của Washington DC. Canberra lạnh và có nhiều sương mù hơn Brisbane. Chúng tôi được đưa lên tháp Telstra ngắm thành phố, nhưng vì sương mù dày đặc nên đã không thấy được gì. Nghe vợ tôi nói tiếng Bắc, anh Nghĩa hỏi: "TH còn nói được giọng Huế không?" "Dạ còn, tại sao?" TH hỏi lại. Anh cười cười, bí mật: "Lát nữa về nhà sẽ biết."

Thật là một sự thích thú tuyệt vời cho bà xã tôi khi chị Hà, vợ anh Nghĩa, cũng là người Huế. Từ lâu TH vẫn than phiền là bị tôi "Bắc Kỳ hóa". Mà thật vậy, chỉ khi nào gặp lại gia đình mình, TH mới nói lại giọng Huế dễ thương của nàng, còn không thì khó ai biết được nàng là con gái Huế chính hiệu. Nghe chị Hà và TH nói chuyện, tôi tưởng như tôi đang thả bộ bên dòng sông Hương êm ả ngày nào! Anh Nghĩa hay hơn tôi nhiều, anh không những hiểu hết tất cả mọi chuyện hai người nói, anh còn "dịch ra tiếng Bắc" cho TH những chữ nàng chưa biết (Hay là đã quên, sau 25 năm bị tôi brain washed!!!) Bạn nào cần học một khóa tiếng Huế, kể cả cổ ngữ của miền sông Hương núi Ngự thì nên liên lạc với anh Nghĩa.

Anh chị Nghĩa có một cháu gái rất xinh xắn, dễ thương, tên ở nhà của cháu là Phi. Phi có dáng dấp dịu dàng như các cô học sinh Đồng Khánh ngày trước, lại thêm vẻ quí phái "ladylike" của các công chúa thời xưa bên Âu Châu. Đặc biệt hơn nữa là cháu chơi dương cầm những bản nhạc VN rất "tới". Nếu bạn nào có con trai, nên lo gởi gạo gấp cho anh chị Nghĩa trước khi quá trễ!!!

Ở Canberra chúng tôi còn được gặp và ăn cơm chung với gia đình anh NTSơn nữa. Đêm đầu tiên, anh chị Sơn đến nhà anh Nghĩa gặp chúng tôi. Hôm sau thì cả bọn tôi kéo nhau đến nhà anh Sơn. Tài nấu nướng của chị Hà và chị Lệ thật là xuất sắc. Nếu bạn đang "diet" thì phải "skip" Canberra, vì TH và Dĩ An đã lên hơn 2 kilos mỗi người trong vòng có hai ngày ở đây!

Chị Hà nấu toàn món Huế, bánh canh tôm cua, bánh ướt tôm chấy... trong khi chị Lệ đãi toàn món Bắc, như phở, bánh tôm... Món bánh tôm của chị Lệ tuyệt cú mèo (bánh tôm Hồ Tây không tài nào sánh kịp!). Chúng tôi còn được chị Lệ cho ăn tráng miệng bằng bánh Trung Thu do chị tự làm lấy. Tôi chưa được từng ăn bánh nướng ngon như vậy ở đâu cả. Nghe tôi bày tỏ cảm tưởng của mình về bánh trung thu do chị Lệ làm, anh Sơn mới bật mí cho biết là anh đã phải đưa chị qua tận Hồng Kông để học làm loại bánh này. Thảo nào!!!

Nếu không cần phải diet, thì Canberra là nơi bạn nên đến. Chúng tôi đã được anh chị Nghĩa cho "tham dự " một phiên họp của Hạ Viện tại quốc hội thật là thú vị. Trong Memmorial Museum của Canberra, vợ tôi đã rất thích thú khi tìm thấy những lá thư tình rất "tình" của một anh bộ đội ngày xưa . Nàng đã ngây thơ phán một câu: "Em đâu có biết là mấy anh chàng bộ đội cũng "tình" không thua gì mấy anh Exkiwi đâu!" Anh chị Nghĩa cũng đã chiều lòng khách, chở chúng tôi đi thật xa, kiếm cho ra mấy chú Kangaroo và Koala Bear để.....chụp hình, theo lời yêu cầu của bố con tôi.

Rời Canberra với bao luyến tiếc, chúng tôi bay qua Sydney. Anh LT Tiến đã chờ sẵn nơi phi trường. Anh đóng cửa văn phòng nguyên một ngày để đưa chúng tôi đi thăm thắng cảnh của thành phố sắp có Olympic này. Dù chỉ lưu lại nơi đây với một thời gian rất ngắn, nhưng chúng tôi đã được sống một ngày thật đầy ý nghĩa .

Trước hết anh Tiến đưa chúng tôi đến văn phòng của luật sư Ưu. Sau khi chào hỏi, anh Ưu đưa tất cả đi ăn điểm sấm trên một cao ốc trong phố Tàu của Sydney. Anh Ưu đã làm tôi vô cùng ngạc nhiên về tài nói tiếng Tàu của anh. Ăn xong anh Tiến đưa chúng tôi đi tham quan Sydney. Sydney đẹp và đông đúc. Hải cảng Sydney rất nên thơ. Chẳng hổ danh là thành phố lớn nhất Úc Châu. Sau đó anh đưa chúng tôi về tư thất của anh chị Ưu-Lan. Anh Ưu chị Lan rất hiếu khách, nhất định không cho chúng tôi ở khách sạn. Dĩ An được gặp con trai của anh chị là Minh. Minh cùng bạn là Teresa đưa Dĩ An đi chơi đến thật khuya mới về. Phần chúng tôi thì được anh chị đưa đi ăn tối do nhóm Exkiwi khoản đãi.

Chúng tôi đến nhà hàng trước giờ đã định mà vẫn có vài người chờ sẵn, như anh chị PQTuấn, anh chị Tiến, anh NĐKim ..., ngoài ra chúng tôi còn được hân hạnh gặp thêm bạn mới như anh chị Võ Phụng, anh Kiếm ... Tôi đã đặc biệt giới thiệu nhà tôi với anh Tuấn, người mà tôi đã "mượn" tên để đặt cho con trai đầu lòng của chúng tôi. Rất tiếc là cháu Nguyễn-Quang-Tuấn đã không đẹp trai và tài hoa như bác Tuấn!!! (Does it have something to do with the last name?)

Anh chị Tiến có hai cháu gái rất xinh. Mới ngày nào anh chị còn dung dăng dung dẻ dắt nhau đi honeymoon xứ Mỹ mà giờ đây thì: "chắc cũng còn lâu mới đi chơi lại," chị Dung nói vậy.

Trong buổi tiệc vui họp bạn này, tôi đã chuyển đề nghị về một Exkiwi Reunion vào năm 2001 ở Sydney hay NZ của các anh Hùng, Nghĩa và Sơn.... Theo anh Hùng thì: "nếu chúng ta không gặp nhau bây giờ thì còn đợi đến lúc nào nữa, chẳng lẽ chờ đến khi chống gậy mới đi thăm nhau sao?" Các anh chị ở Sydney đã nhiệt liệt đồng ý và "bổ nhiệm" anh Ưu đưa việc này lên diễn đàn Mítchổng để thăm dò ý kiến.

Cuộc vui nào cũng chóng tàn! Sau khi chia tay ở nhà hàng, anh Ưu chị Lan còn cho chúng tôi đi thăm "Sydney-by-Night". Sydney ban ngày đã đẹp là thế, ban đêm còn lộng lẫy bội phần. Có lẽ "la" tôi chưa đủ trên diễn đàn Mitchổng, anh Ưu lại than phiền thêm về việc chúng tôi lưu lại quá ngắn nơi đây. Tôi chỉ biết cười chịu tội. Sáng hôm sau chúng tôi phải đón chuyến bay 7 giờ đi Auckland. Mới 5 giờ sáng mà chị Lan đã dọn sẵn một bữa điểm tâm thật tươm tất làm chúng tôi vô cùng cảm động. TH thắc mắc không biết là chị có ngủ được tí nào không vì chúng tôi về tới nhà cũng đã hơn 1 giờ sáng rồi. Anh chị Ưu đưa chúng tôi ra phi trường khi mọi người khác có lẽ đang an giấc điệp.

***

Ngồi trong chiếc máy bay DC10 của Air New Zealand từ Sydney đi Auckland, lòng tôi lâng lâng rộn ràng. Mặc dù đã nhiều đêm không ngủ, tôi vẫn không tài nào chợp mắt được. Bao nhiêu kỷ niệm hiện về. Tôi nhớ mới ngày nào còn ngớ ngẩn khi bước chân xuống nhà ga Auckland mà giờ đây con tôi đã sắp xong đại học. Thời gian trôi qua thật nhanh!!!

Anh LQLong đón chúng tôi ngay trước cửa quan thuế. Lần cuối tôi gặp anh là lúc anh sang dậy một khoá quản trị bên Điện Lực VN, trước năm 75. Anh vẫn gầy như xưa, không thay đổi nhiều, khác chăng là chỉ thêm vài cọng tóc bạc mà thôi. Sau hơn 25 năm mà anh vẫn còn nhanh nhẹn như ngày nào. Anh đưa chúng tôi về nhà, nhường luôn căn phòng của anh chị cho gia đình chúng tôi. Anh chị Long bây giờ đã có cháu ngoại để bồng rồi. Gặp anh chị thật là cảm động, anh chị thương mến và săn sóc chúng tôi như những đứa em còn nhỏ dại. Tiếc là chị vừa mới đau xong nên không đi chơi cùng với chúng tôi được.

Sau khi lo xong "nơi ăn chốn ngủ" cho chúng tôi, anh đưa chúng tôi đến thăm anh chị Lợi trước khi sang nhà anh chị Tư-Liễu để cùng đi tắm nước nóng với anh chị Hân, từ Michigan, đã đến đây trước chúng tôi mấy hôm. Hồ nước nóng Helensville cách nhà anh chị Tư-Liễu hơn một giờ lái xe. Trời thật lạnh nên khi nhảy xuống hồ thì rất thú vị. Tôi nhớ lại những lần tắm suối nước nóng ngày xưa với anh chị ĐKChung-Huỳnh, ĐNHùng, và nhiều bạn khác nữa, chúng tôi đã vui đùa, phá phách như ... "giặc". Bây giờ thì không còn ngỗ nghịch như trước. Có lẽ vì tôi đã..."có tuổi" thật rồi chăng!!! Chúng tôi rời Helensville khi hồ sắp đóng cửa, sau khi dặn dò nhau chỗ gặp sáng mai, để đi chơi chung thêm một lần nữa. Trên đường về, anh Long và tôi ôn lại chuyện cũ trong khi vợ con tôi thì ngủ gà ngủ gật ở băng ghế sau.

Sáng hôm sau anh Long đưa chúng tôi đi Mission Bay (MB). Trong lúc chờ anh chị Tư-Liễu chở anh chị Hân đến, chúng tôi đã tiếp tục ôn lại chuyện xưa và chụp hình. Con gái tôi rất thích nói chuyện với bác Hân. Dĩ An nói là Bác Hân "cool" và có "happy face." Ngay tại MB, một trung tâm nuôi Penguin và các loại cá sống tại Nam cực cho du khách thưởng ngoạn, mới được thành lập. Nói là "mới" có nghĩa là khi tôi rời Auckland 30 năm về trước, chưa có trung tâm này. Chúng tôi được xem những chú cá thật lớn trong những hồ nước vĩ đại. MB vẫn đẹp như ngày nào, biển thật xanh điểm vô số cánh buồm đủ màu sắc .

Chúng tôi chia tay với anh chị Tư và anh chị Hân sau khi ăn trưa trên bãi cỏ của MB. Các anh chị về nhà nghỉ, còn chúng tôi thì được anh Long đưa đi thăm phố và trường đại học Auckland. Queen St. đông đúc tấp nập hơn xưa. Building 246 Queen St., tòa nhà cao nhất Auckland ngày nào, nay lại là ngôi nhà thấp nhất của con đường này. Town Hall ngày xưa bây giờ là Bảo Tàng Viện. Bên cạnh là một casino đồ sộ. (Các bạn nào mê Las Vegas có thể đến đây thử thời vận xem sao.) Trường kỹ sư Auckland cũng như toàn khu đại học có thêm nhiều building mới hơn. Ngắm nhìn ngôi trường cũ, tôi không khỏi bồi hồi nhớ đến những năm mài đũng quần trên ghế nhà trường. Tôi đứng lặng một hồi lâu trước trường, bồi hồi nhớ đến những bạn bè ngày xưa. Từ các anh Thông, Chung, Nhật...tới các anh Cảo, Nghĩa, Ưu, Toàn, rồi đến, Hùng, Thanh, Quyền, Xá...



Symonds Street dường như lớn hơn ngày xưa, O"Rocke hall, nơi tôi đã ở hơn 3 năm, không còn nữa, mà thay vào đó là một cao ốc đồ sộ. Tôi xuống xe, đi bộ vào tận nơi mới hay là nay chỉ còn một căn nhà nhỏ của cư xá cũ tồn tại. Khó mà nhận ra được "chốn cũ năm xưa." Ngược đường qua Grafton, International House vẫn còn đó. Anh Long đã nhất định chở tôi đi tìm cho ra "căn nhà lịch sử ," 6 Parkfield Terrace.


Đứng bên kia đường nhìn sang, "căn nhà lịch sử " có vẻ mới mẻ hơn ngày xưa, dường như mới được sơn phết lại. Nhà này đã là nơi cư ngụ lần lượt của rất nhiều "thế hệ" Exkiwi. Từ "năm ông chổng già" Thông, Phương, Nhật, Ninh, Chung, đến Thế, Quang, Điềm, Cảo, Ưu. Rồi lần lượt đến Thanh, Tuyền, tôi... Chúng tôi đã sống với nhau rất vui. Tôi còn nhớ có một lần, một anh trong nhà (xin không nêu tên) đã đi đâu mà bắt được "bò lạc" (chữ của anh này dùng) mang về. Trong lúc cả bọn đang lo học thi mà cười bễ bụng vì những âm thanh lạ lùng trong đêm. Theo anh PNhật thì thời anh ở, đặc điểm của căn nhà này là cứ mỗi cuối tuần, giây phơi quần áo lại có đủ màu sắc; xanh, đỏ, vàng, hồng, tím...rất đẹp mắt, mặc dù lúc nào "trên nguyên tắc" cũng chỉ có "năm ông chổng già" sống với nhau mà thôi !!! (Ai có điều gì thắc mắc, xin hỏi anh Nhật.)

Cũng trong một mùa thi, anh NHĐiềm, khi đã thi xong trước, bèn xung phong nấu cơm "nuôi" cả bọn hơn một tuần, thay vì mỗi đứa phải nấu một ngày như đã phân chia. Một lần khác, TMTuyền bỗng cao hứng, ra dọn dẹp vườn cỏ thật sạch sẽ, gọn gàng, rồi vào than phiền bằng giọng miền Nam rất dễ thương: "Tụi bay lười goá hà, hổng đứa nào chịu làm zường hết chọi, để tao làm một mình, mệt thấy mẹ luông." Một anh chàng khác, hình như là Thanh thì phải, trả lời ngay: "Ơ hay, giường mày ngủ thì mày phải làm chứ còn than phiền gì nữa."

Cũng trong căn nhà này, chúng tôi đã tụ tập làm báo 7ND, đã vụng về, vất vả đánh máy, đã luộm thuộm, lem luốc quay Ronéo trong mấy năm liền. Đây cũng là "trụ sở" của Hội Sinh Viên VN tại Auckland trong nhiều năm.



Tối hôm đó, chúng tôi được gặp rất đông các anh chị Exkiwi kỳ cựu, như chị Dung Burns, anh chị Thuận, chị Heather... và những Exkiwi trẻ hơn như anh Lợi, anh chị Danh. Chúng tôi lại một lần nữa được hàn huyên thỏa thích. Sáng hôm sau chúng tôi từ giã Auckland để bay về Wellington. Buổi tạ từ nào cũng làm vương vấn. Chia tay anh chị Long mà lòng chúng tôi thật bùi ngùi. Hai ngày sống với anh chị, vợ chồng tôi tưởng như đang sống với anh chị ruột của mình vậy.

Anh chị TQDương đón chúng tôi ở phi trường Wellington. Anh chị nhất định chở chúng tôi về nhà, mặc dù tôi đã hẹn phòng ở một hotel gần đó. Anh nói: "Cứ về nhà rồi hãy tính." Nhưng còn tính gì được nữa, khi căn phòng anh chị dành cho chúng tôi có một cái view tuyệt đẹp. Bên ngoài khung cửa sổ là Mt. Victoria mờ mờ, ảo ảo trong cơn mưa phùn. Nhìn qua bên trái một chút là Oriental Bay, xa hơn tí nữa là đại học Victoria. Quả như lời chị Nga đã nói: "Phòng này có cái view đẹp nhất Wellington."

Anh Dương bây giờ là Head of English Department of Wellington Boys College. Chúng tôi ngồi ôn lại những ngày cùng dạy Anh Văn tại London School (LS) ở SàiGòn, nơi tôi đã gặp TH lần đầu. Hồi đó, VT Nghĩa, NT Sơn, NĐ Quang, ĐN Hùng, TQ Dương, LNC Minh, và tôi ban ngày đi làm, buổi tối dạy thêm anh văn ở LS. Trong bọn, tôi bị kết tội là "dụ dỗ học trò" (Chắc là có tội thật!!!) Lần này TH được gặp lại các thầy giáo cũ, nên đem tôi ra "tố khổ" cho bõ ghét.

Sau vài giờ hàn huyên, chị Nga và Thái-Anh, con gái của anh chị, mà còn là tác giả của bài "The Boy Named Cu" đã đăng trong 7ND, đưa chúng tôi xuống phố dạo chơi. Anh Dương phải ở nhà để lo bài vở cho khóa thi mùa Đông. Trời vẫn còn lất phất mưa, phố xá bắt đầu lên đèn. Thái-Anh đề nghị dẫn chúng tôi tới xem trường học của cháu.

Từ Willis Street, chúng tôi vòng qua Lampton Quay rồi đến Parliament Building, tòa nhà gỗ lớn nhất Nam-Bán-Cầu, rồi đến Hobson Street. Queen Margaret College, nơi Thái-Anh đang học năm cuối, nằm đối diện với Colombo Hostel "44 Hobson St." Căn nhà này, ngày xưa đã là nơi cư ngụ của nhiều Exkiwi tại Wellington, trong số này có anh Dương. Theo Thái-Anh thì lúc cháu mới vào học trường này, ngày nào bố cháu cũng đưa cháu đến trường để nhân tiện ngắm lại ngôi nhà cũ mà hồi tưởng lại ngày xưa. Nhà bây giờ là của tư nhân, đã được sửa sang lại, phía trước có những cây hoa Camelia đang rộ nở đủ màu, rất đẹp. Vùng này giờ đây là một trong những khu đắt giá của Wellington.

Ngày hôm sau trời vẫn còn mưa, tôi đưa vợ con đi Te-PaPa, một bảo tàng viện mới của thành phố bằng bus, rồi đón Cable Car lên thăm Victoria University. Đại học Victoria bây giờ có rất nhiều sinh viên Á châu, đặc biệt là người Nhật. Những building cũ vẫn còn, tuy nhiên nhiều ngôi giảng đường mới làm tôi hơi ngỡ ngàng một chút.

Tôi vẫn từng kể cho TH nghe về quán icecream, dướI chân trạm Cable Car bên sân banh, nơi mà ngày xưa Exkiwi tụ họp mỗi chiều tan học. Đây có lẽ là nơi mà NDNgôn đã được đặt tên là "Bé Nhôn" và cũng là nơi đã làm cho mỗi chàng SVVN tăng chừng 20 pounds trong vòng ba tháng học anh văn, trong số đó có tôi. Bây giờ "quán xưa" vẫn còn đó, nhưng chỉ là một căn chòi lạnh lẽo dùng để chứa đồ mà thôi. Thật là tiếc! Tôi không được dịp ăn lại icecream nơi đây để xem có còn ngon như 30 năm trước không. Tôi nhớ lại cũng nơi này, ĐNHùng chiều nào cũng xách hai cái cặp thật to, một cái của mình, còn cái kia thì của ai đó...

Ngày cuối cùng của chúng tôi ở Wellington trời thật đẹp, đúng là "sau cơn mưa trời lại sáng." Chị Nga đưa vợ chồng tôi lên lại ĐH Victoria bằng đường tắt từ nhà chị, trong khi Thái-Anh đưa Dĩ-An đến trường của cháu suốt một ngày. Leo lên được nửa đường, tôi mệt muốn đứt hơi, mà TH với chị thì cứ tỉnh bơ, làm như không có gì xảy ra. Tôi mới nhớ ra là tối hôm trước chị Nga và nhà tôi đã đi bơi đến nửa khuya mới về, trong lúc tôi làm biếng, đã leo lên giường ngủ khò sau buổi cơm tối.

Vào đến Cafeteria, chúng tôi được chị chỉ cho một chỗ ngồi thật lý tưởng để ngắm Wellington. Nếu không có chị, thì không tài nào tôi biết được nơi này. Theo chị thì đây là nơi anh Dương và chị đã "hẹn hò" nhau mỗi buổi trưa trong thời gian anh chị mới qua NZ năm 90. Sau màn giới thiệu nhiều chỗ mới của trường, chị đưa chúng tôi về phố bằng cable car để đi ăn trưa với anh PLTấn. Ăn xong, chị về, còn tôi đón xe bus đưa vợ tôi lên Mt. Victoria.

Đứng trên đỉnh Mt Victoria, TH hỏi tôi về một câu chuyện mà NTQuyền vẫn kể đi kể lại cho nàng nghe mỗi khi nhắc đến Wellington. Theo Quyền, nhân vật chính trong chuyện là tôi, đã chở "đào" lên Mt Victoria xem cảnh. Trong lúc đang ở trên đồi, không biết "táy máy" làm sao mà xe tuột dốc, suýt chết. Thật tình mà nói chính tôi cũng không nhớ là chuyện có thật đã xảy ra hay không nữa. Tôi chỉ biết lắc đầu mỉm cười mà thôi, vì tôi có nói gì đi nữa thì nàng cũng vẫn tin Quyền hơn là tin tôi!

Tối đến anh Dương chở cả nhà đi một vòng Oriental Bay xem biển về đêm, rồi anh lại đưa chúng tôi lên Mt Victoria để ngắm Wellington-by-night. Trời mưa lất phất và rất lạnh. Phe nữ co ro leo lên đồi trong khi tôi với anh Dương cũng không khá gì hơn. Thật là một buổi tối khó quên! Wellington vẫn là thành phố đẹp nhất NZ trong tôi! Sáng hôm sau chúng tôi lại lên đường đi Christchurch.

Trên đường từ phi trường về khách sạn, chúng tôi đã yêu cầu bác taxi cho đi một vòng coi "Cái-Chợ" trong mưa gió. Bác taxi rất vui tính, vừa lái xe vừa làm tour guide. Vậy đó, mà khi tôi tặng bác tip, bác đã lắc đầu từ chối, bảo là không có tục lệ nhận tip ở đây. (Phải chi mà bên Pháp cũng có tục lệ này thì hay biết mấy!)

Vừa cho xong hành lý vào phòng thì điện thoại đã reo. Giọng anh LNCMinh vui vẻ niềm nở chào mừng. Anh chờ từ sáng mà vẫn chưa thấy tôi gọi nên nóng lòng tìm kiếm. Anh hẹn sẽ đón chúng tôi đi ăn tối lúc 6 giờ.

TH nhận ra ngay "ông thầy cũ" của LS ngày xưa khi anh Minh đón chúng tôi trước cửa khách sạn. Theo vợ tôi thì anh Minh vẫn như xưa. Vẫn trắng trẻo, đẹp trai như ngày nào. Anh chị và cô con gái Valerie đưa chúng tôi đến một nhà hàng Tàu rất lớn dùng cơm tối. Ăn xong anh chở về nhà chơi đến quá nửa khuya mới trả chúng tôi về lại khách sạn, mặc dù hôm sau cả anh chị đều phải đi làm .

Trong khi Dĩ An cùng Valerie và các bạn của cháu, mới từ Dunedin kéo về đầy một nhà nghỉ winter break, đi xem movie thì chúng tôi ở nhà được xem một đoạn video ngắn về thành tích cấy giống bò NZ cho ngành gia súc VN. Anh Minh vừa hoàn tất một chương trình gây giống bò mới tại quê tôi ở Sơn Tây. Anh đã nghiên cứu và thành công trong việc cấy tinh trùng vào noãn bò cái thành "phôi" tại NZ. Anh đem "phôi" về VN gây giống trong bụng bò cái. Bò con NZ lớn lên trong bụng bò mẹ VN khi ra đời, có năng suất cho sữa và thịt gần 50 lần hơn bò nguyên giống tại VN. Chương trình này có một tầm vóc vô cùng quan trọng cho nền chăn nuôi của VN. Tuy nhiên chị Dung tuyên bố rằng: "Đây là dự án cuối cùng của anh Minh về VN" vì theo chị thì lỡ anh Minh không những làm Bò VN có bầu, mà còn làm cho các bà các cô VN có bầu thì nguy quá. Phải nghe được chị Dung nhái giọng Quảng khi nói câu này mới thấy câu nói thật là ngộ nghĩnh.

Ngày hôm sau trời ngưng mưa, chúng tôi đi thăm cảnh nơi đây. Sông Avon vẫn đẹp tuy rất nhỏ. Trường Canteburry lớn nhưng không ồn ào như những đại học ở Mỹ. "Cái-Chợ" làm tôi nhớ đến một bài hát của Phạm Duy: "Đi dăm phút, đã về chốn cũ." Tôi bỗng "ngộ" ra câu nói của anh NTSơn hôm ở Brisbane. Theo anh "những ngày đi học ở Christchurch là những ngày bị đi đày, vừa buồn vừa phí cả tuổi xanh." Mà thật vậy, CC trời mưa buồn ơi là buồn. Có lẽ nơi đây thích hợp cho những ai muốn đi tu hơn là những cô cậu thanh niên mới lớn. Hiện giờ, Exkiwi chúng ta chỉ còn gia đình anh chị Minh ở CC. Nếu bạn đến đây, sẽ được anh chị tiếp đón nồng hậu, chu đáo, dù thân hay sơ. Trên phòng game room của anh chị, nhiều bộ kiếm hiệp của hội SVVN @ CC có dấu ấn năm 1958 vẫn còn nằm trên kệ sách.

Thời gian nghỉ phép đã hết. Ba tuần trôi qua như chớp mắt. Sau buổi cơm tối cuối cùng tại CC với anh chị Minh, chúng tôi chia tay để ngày hôm sau trở lại Auckland đáp máy bay trở về Mỹ. Trong ba tuần đi tìm lại kỷ niệm, tôi đã gặp lại nhiều bạn cũ, hâm nóng lại tình thân hữu ngày xưa. Ba tuần thật ngắn ngủi nhưng đầy hạnh phúc.

Những tháng ngày đi học xa nhà ngày xưa tuy có lúc cực khổ, thiếu thốn nhưng cũng có rất nhiều kỷ niệm vui. Với tôi thì vui nhiều hơn buồn. Xin cám ơn tất cả những người bạn tôi đã gặp trong chuyến đi này. Ai cũng đã đem lại cho tôi niềm hạnh phúc thân thương.

Trên chuyến bay đưa chúng tôi trở lại Mỹ, tôi vẫn không tìm ra cách giải thích chữ "chổng" mà con gái tôi đã thắc mắc trên chặng đường dài. Anh Ưu đã tạm giải thích cho Minh và Dĩ-An là: "Những ngày đẹp trời, các bác đem quần áo sạch ra giặt lại..." Dĩ-An đã lắc đầu nói với tôi: "Chổng boring quá mà sao các bác và bố cứ nhắc hoài." Rồi nhún vai, con gái tôi nói tiếp: "I really can"t understand you guys!!!" Vậy đó mà khi hỏi có đi dự Exkiwi Reunion 2001 không, con gái tôi đã không cần suy nghĩ, đáp ngay: "Đi chứ!"

July, 2000

A message from anh Long:

Vào dịp cuối năm 2001 và đầu năm 2002
Dù ai bận rộn trăm bề
Nhớ ngày HộI CHỔNG thì về cố hương (chổng tiếp)

Thay cho Lá thư Toà Soạn

LTS: Tôi định viết cà kê dê xồm cho số 7ND đặc biệt này, vì số này là số của năm ba mươi lăm, và 35 là một con số có nhiều ý nghĩa đối với dân VN ta. May quá bạn NPH tiên đóan được tôi bận hành...nghề nên gởi cho tôi những dòng sau đây. Sorry Hưng, I know you were very eager to report on your epic trip, but finally, you can read about your trip again, for the 86th time.

LHV, Melbourne.

Anh Vinh vừa thông báo cho một số anh chị em Exkiwi là tờ 7ND sẽ tạm đình bản vô hạn định. Lý do là ít người chịu viết bài, và hình như chỉ một số ít có vẻ như còn muốn "níu kéo thời gian", số rất đông còn lại, có vẻ không quan tâm lắm về tờ báo. Tin này làm tôi hơi ngạc nhiên và khá thất vọng. Tôi có cảm giác như vừa mất đi một cái gì thật trân quí.

Mặc dù đã gởi bài cho 7ND, tôi cũng email cho anh Vinh, hứa là sẽ viết thêm bài, để may ra với số trang không quá ít, anh Vinh sẽ đổi ý mà cho ra thêm một số với niên kỷ mới. Bài này là cố gắng của tôi trong việc giữ lời hứa với anh Vinh.

Những lý do làm trở ngại việc ra báo 7ND mà anh Vinh đưa ra đều rất chính xác. Tôi nghĩ có lẽ chúng ta phải đặt lại vấn đề là cộng đồng nhỏ bé cựu sinh viên Việt-Nam tại New-Zealand muốn gì, cần gì... Và 7ND có đáp ứng được nhu cầu chung của chúng ta chăng ?

Nhu Cầu:

Chúng ta muốn có gì trong 7ND ? Theo thiển ý của tôi, trước nhất tôi muốn dùng 7ND như một Niên Giám Điện Thoại (NGĐT.) Với mục đích này, tôi có thể liên lạc với bạn bè, khi tên họ có trong NGĐT-7ND.

Thứ hai, tôi muốn 7ND là chỗ cho tôi biết tin tức bạn bè thân sơ, cùng năm hay khác năm. Tin tức, thành quả đạt được của bạn bè và gia đình bạn, làm tôi vui hơn, hy vọng hơn. Tin về kẻ ở, người đi khỏi cuộc đời này cũng làm tôi rất chú ý vì biết được sự thay đổi của cuộc đời.

Tôi không chờ đợi ở 7ND những áng văn hay, những bài khảo cứu công phu. Có những bài này đọc cũng vui. Không có, cũng không sao.

Tôi muốn có 7ND ít nhất mỗi năm một lần, để những tin tức, địa chỉ, số điện thoại... không mất gía trị thời gian .

7ND... Có Ngay và Mitchong egroups

Gần đây anh Mai Anh Tuấn đã bỏ nhiều công sức phát triển 7ND...Instant trên internet. Đây là một việc làm rất đáng ca ngợi và tôi xin nhân đây cám ơn những công khó mà anh MATuấn đã tự nguyện làm. Sự xuất hiện của 7ND trên internet đã đáp ứng được nhiều nhu cầu của ta, nhưng theo tôi, chưa hoàn toàn thay thế được ‘‘7ND ấn bản’’ (hard copy), xin tạm gọi như vậy để phân biệt.

Ưu điểm của "7ND... có ngay" là tin tức nóng bỏng, có ngay. Nhưng bạn chỉ "có ngay" nếu bạn có computer và internet. Nhiều người trong chúng ta không có computer và internet, hoặc là không muốn dùng internet vì một lý do nào đó. Không ít người trong chúng ta vẫn thích có một ấn bản để đọc bất cứ lúc nào mà không tuỳ thuộc vào computer.

Diễn đàn Mitchong egroups do anh Phạm Quang Tuấn quản trị cũng là một môi trường rất tốt cho chúng ta liên lạc, chia xẻ những tin tức nhanh chóng mà không bị gò bó về hình thức quá đáng. Bạn có thể gởi đăng bất cứ tin tức gì và hầu như không bị giới hạn về cách trình bày. Bạn viết sai, đúng, sao cũng được. Dĩ nhiên nếu bạn làm quá đáng, phạm luật chung của egroups thì anh PQTuấn có thể và có nhiệm vụ đóng cửa, không cho bài của bạn vào diễn đàn . Chuyện này hình như chưa bao giờ xảy ra cả .

Một Đề Nghị: 7ND Ấn Bản Đổi Mới

Tuy "7ND internet" và "Mitchong egroups" không thay thế "7ND ấn bản" hoàn toàn, nhưng đã tạo điều kiện cho ta thay đổi cách cấu hợp (format) của ‘‘7ND ấn bản,’’ cả về hình thức lẫn nội dung. Những tin tức ngắn hạn sẽ mất thời gian tính, nên không thích hợp với hình thức của ‘‘7ND ấn bản’’ nữa .

‘‘7ND ấn bản’’ không cần nhiều trang như trước. Hình thức ĐT NG trở nên rất thích hợp và hữu dụng. Nội dung của ‘‘7ND ấn bản’’ cũng trở thành đơn giản hơn.

Tôi xin đề nghị chúng ta thay đổi ‘‘7ND ấn bản’’ về hình thức và nội dung như sau :

Xuất bản mỗi năm một lần, vào khoảng December. Ấn loát mỹ thuật giống như Yearbook của các trường học.
Các thân hữu gởi hình ảnh gia đình, địa chỉ, telephone, email address... muốn được đăng trong 7ND, về cho anh chủ nhiệm, kèm theo một bài viết bằng Anh ngữ hay Việt ngữ, hai tuần trước ngày đóng sổ. Bài viết có thể từ vài câu hay nhiều trang, tuỳ theo sở thích của người viết. Với cách này, tôi nghĩ, ai cũng có thể đóng góp vào 7ND được . Bạn nào có tài văn chương, muốn chia xẻ cùng bạn hữu thì càng hay.
Bạn nào muốn nhận được ‘‘7ND ấn bản’’ nhớ kèm theo một chi phiếu (tôi nghĩ khoảng $30.00 cho mỗi người; Chi phí này mới nghe thì có vẻ hơi cao nhưng vì số ấn bản giới hạn nên giá thành của mỗi cuốn sẽ khá cao. Nếu so sánh với yearbook của con em mình, thì đây giá này cũng hợp lý!)
Với cách này, hy vọng công việc của anh chủ nhiệm chắc sẽ nhẹ hơn và do đó có thể cho tờ báo ra đời đúng hạn kỳ hơn.
Về việc đóng góp cho 7ND internet vẫn như hiện tại; Ai có gì muốn chia xẻ cùng bạn hữu, cứ gởi thẳng cho anh MATuấn. Nếu thấy thích hợp, anh Tuấn sẽ đăng lên internet. Cũng nhân dịp này, xin đề nghị anh MATuấn, chính thức, nếu có thể, định rõ chủ trương, đường lối của 7ND internet cho đọc giả biết, để tránh tình trạng gởi bài không thích hợp. Việc đóng góp cho diễn đàn Mitchong cũng vậy.

Trên đây chỉ là một vài nét đại cương về những thay đổi cần thiết để 7ND có thể tồn tại và phục vụ hữu ích cho độc giả và cộng đồng nhỏ bé Exkiwi, nhưng rải rác khắp thế giới của chúng ta.

Hy vọng sẽ có nhiều sự góp ý xây dựng về việc này trên Mitchong egroups và hy vọng anh Vinh vẫn tiếp tục cho 7ND ra mắt bà con.

Nguyễn P Hưng

August, 2000

Ed - To all readers: Ask not when the next issue of 7ND will be out, ask if you want to do the next issue...

2001

Số 13 - Năm thứ 35 - Tháng 1 - 2001

Thay cho Lá thư Toà Soạn - Lê Huy Vinh, Nguyễn Phục Hưng
Dấu Chân Kỷ Niệm - Nguyễn Phục Hưng
Tin Auckland, Brisbane
Thơ Song Ngữ
The Meaning & Celebration of Tết - Người Thái Bình
Nẻo Về Christchurch - Thục Nữ
Nói Chuyện Về Hôn - T.T.D
Just for a laugh
Ðạo Câu - Tú Châu
Trang Thơ
Gửi Gạo - An Nghiêm
Hà Nội và Sài Gòn qua đôi kính râm - Clara Maersk
Earliest known history of Vietnam for young 2nd generation Mitchongs
Paris - TDT
Hữu Thể Tự Hư Vô - Nguyễn Kỳ Phong
Dòng Sông Sinh Mệnh - DSM (NLB sưu tầm)
Những gì xảy ra trên thế giới trong năm 2000 ... and beyond - Nguyên Giao
Thế Giới Trước Thềm Năm 2001 - Nguyên Giao
Nhân Quả - An Nghiêm
Lan Luân Trần - Nguyễn Kỳ Phong
Quê Hương - T.P.T

Acknowledgment:

Articles in this issue of 7ND were contributed voluntarily by Mitchong, voluntarily by non Mitchong, or chôm'ed from public domain sources. That's all folks. The next issue of 7ND will not be produced from Sydney by Doc Emeritus U2 (from the famous Rock band).

From on-line:

7-Feb-2001 -  Reunion: New Zealand
2-Mar-2001 - Hoàng Trúc Lâm - Thử Đọc Lại Kim Dung (VPS)
10-Apr-2001 - Nguyên Nguyên - Thử Đọc Lại Kim Dung II: Nguồn Việt Và Kim Dung (VPS)
15-Apr-2001 - Nguyên Nguyên - Thử Tìm Lại Phát Ấm Chữ V Trong Tiếng Việt Cổ (VPS)
3-May-2001 - Nguyên Nguyên - Nói Chuyện Về Hôn (In print issue above)
22-May-2001 - Nguyên Giao - Hoài Niệm Chu Văn An, Revised (originally posted Nov 2000)
4-Jun-2001 - Qúy Lê - Should the Redundant Dấu Sắc be omitted from the current Vietnamese writing?
24-Jul-2001 - Nguyên Giao - Hoài niệm Kiwi 
5-Sep-2001 - Nguyên Nguyên - Tìm Thú Vui Trong Tuổi Lão 2001 (PDF, VPS font)
21-Nov-2001 - Nguyên Nguyên - Thử đọc lại Kim Dung III: Tiếu Ngạo Giang Hồ (PDF, VPS font)
18-Dec-2001 - Lê Đăng Hoàng & Yến Tuyết - Season Greeting and NZ Trip photos
19-Dec-2001 - Mít Chổng Sydney - Farewell anh Lê Đăng Cẩn
27-Dec-2001 - Giang Hồ Bếp - Viet Nam Trip Report (PDF)
31-Dec-2001 - Nguyên Giao - Thế Giới bước qua năm 2002 (PDF)













How Do I Love Thee Vietnam?

Let Me Count the Ways to Your Greatness.

What is so great about Vietnam? Recent messages from various ex-Kiwis on the MitChong network have shown clearly that while there are many ways to measure the greatness of a country, wealth seems to be the measure of choice for a large number of participants in the debate. In this short essay I will argue that wealth confers greatness to a country only under very restrictive circumstances, and our beloved Vietnam is great because in times past she had forgone wealth for something much greater, and because she has contributed to humankind something more valuable than mere wealth.

PART 1. THE GREATNESS OF NATIONS

Isn’t She Great! Isn’t She One Big Mamma!

Let’s deal with the terminology first.

Greatness is a value-laden term. It evokes respect, admiration, adoration, awe, and quite possibly, a desire to emulate And, as such, it is more qualitative than quantitative and more subjective than it is objective. A person uses this term to reveal his own favorable feelings toward a particular subject, or to elicit these favorable feelings among people who may or may not have any feeling at all toward the subject. Just think of the everyday expressions "Isn’t she great!" or "He’s a great guy". In Vietnamese, "great" is rendered as tuyet-dieu, as in "Binh Ngo Dai Cao la mot tuyet tac," or as vi-dai, as in the well-worn slogan "Chu Tich Ho Chi Minh vi dai song mai trong su nghiep chung ta."

Bigness (or, for that matter, strength, and wealth), on the other hand, is strictly quantitative, and immensely measurable in a more or less objective fashion. Height, weight, land area, population size, total and per capita Gross Domestic Product (GDP), size of armed forces, and what-have-you, can do the job of measuring bigness. However, by itself, bigness does not generate respect, admiration, adoration, and awe. At most, it elicits envy, downright fear, or submission (to the big and strong, in order to spare oneself the fate of being crushed or swallowed, literally and figuratively), if it elicits any feelings at all. Just think, "The TV actress Camryn Manheim is one big mama!" "King Fahd of Saudi Arabia is the world’s wealthiest monarch," "India’s population is the second largest in the world," "China has the world’s largest army". Where are the respect, admiration, adoration, awe, and desire to emulate?

Let us, therefore, talk about greatness, not bigness per se. And since economic wealth is the one dimension of bigness that seems to interest ex-Kiwis the most, let’s, first of all, look at the connections between economic wealth and greatness. Let’s then find out when great wealth confers greatness to a country, when it does not, and when greatness exists precisely because wealth is absent or not sought after. And, finally, let’s look at the non-wealth sources of greatness.

Greatness and Economic Wealth

In the eyes of quite a few people, greatness comes from economic wealth, the most popular indicator of which is GDP, aggregate or per capita, and measured in Purchasing Power Parity (PPP) dollar or US dollar. Our own Le Dinh Lan would even go so far as to use it to the exclusion of everything else, proclaiming that "it is the only thing". Mai Tran, on the other hand, laments that "the world doesn't seem to rate Greatness with anything else except GNP (and its derivatives)". Not so fast, please! Wealth is not everything. People matter too. At the most elementary level, the truly great are great because they have used their wealth to do great things for their people.

Economists do not talk about the greatness of nations, but about how developed or undeveloped a nation is, and the time when economists were obsessed with GDP, which includes the value of goods and services produced in one year, as the indicator of development is long past. Nowadays they talk about GDP always in tandem with human development, which includes achievements in the most basic human capabilities—leading a long life, being knowledgeable and enjoying a decent standard of living. In addition to the real GDP per capita index, now there is the Human Development Index (HDI). For more detail on this index, please check the United Nations Human Development Report 2000, at http://www.undp.org/hdr2000/english/HDR2000.html

If we want to use development as a surrogate for greatness, let’s look at countries that rank at the very top among the 174 nations of the world in both indices (HDI and real GDP per capita measured in PPP$). The great in 1998 are Canada, Norway, and the United States, which rank among the top 3 in both indices. Also commendable are countries that rank slightly lower than the great in GDP index but their HDI rankings are higher than their GDP rankings. These almost great include the Land Down Under, Iceland, and Le Dinh Lan’s beloved Sweden. The Land of the Long White Clouds also is doing well, at number 20 in HDI, which is 7 places higher than its GDP ranking.

However, we should reserve judgment when it comes to countries that have mixed rankings. A country with high GDP ranking may still be considered a poor performer if its HDI ranking is much lower than its GDP ranking. In this corner we find, for example, the filthy-rich countries of Kuwait, Qatar, and the United Arab Emirates. If these names do not invoke in you respect, admiration, adoration, awe, and a desire to emulate, you now know why. Luxembourg doesn’t do a good job either, ranking 1 in GDP index, but 17 in HDI.

On the other hand, we should not be so quick to deride a country that ranks low in both GDP and HDI but has an HDI ranking much higher than the GDP ranking. Such disparity in ranking indicates that the country in question is doing a good job at converting what little income it has into human development. Our Vietnam ranks 108 in HDI out of 174 countries, but this is 24 places higher than its GDP ranking. Even more impressive is Cuba with a 56 ranking in HDI, which is 40 places higher than its GDP ranking.

Greatness and the Sweat of One’s Brow

Whether or not a wealthy country is a great country also depends on how it has come to its wealth. Has it become wealthy because for generations past its people have employed their muscles and brain power to understand and manipulate nature? Have they turned the wilderness into fertile fields and habitable lands? Have they bent water, steam, electrons, sunlight and the wind to their will? Have they created something from nothing, and much more from the same? And in the process, have they become not only wealthier but also smarter? The few countries that rank at the top of the list in both GDP and HDI, such as Canada, Norway, and the US, can confidently say Yes to all these questions. They are the truly great. They have earned their greatness through the sweat of their brow.

Wealth that comes from some fluke of nature, such as vast oil and diamond deposits, does not confer greatness. It confers a sense of entitlement. The people in these wealthy-by-fluke-of-nature countries, such as Brunei, Kuwait, and Saudi Arabia, are wont to regard this wealth as a fortune to which each is entitled a share, rather than a common working asset to which each has made and will continue to make a contribution. This sense of entitlement leads the rulers to grab the lion’s share of the proceeds from the fluke for themselves. To appease the urban middle class, who also feels entitled to a share of the wealth, they create a cradle-to-grave welfare system. To subjugate the masses, they install a bread-and-circus government that provides special favors in place of services, and entertainment in place of education. The masses end up neither wealthy nor smart. The pride that the people in these countries may have about their wealth is, therefore, sadly misplaced.

One should also be wary and weary of pride misappropriated. A native of the US, Australia, and Sweden, may be feel mightily proud, and justifiably so, of being an American, an Australian, or a Swede. The people that have made his country great are his forefathers. He can claim these achievements as his heritage. But can a Viet-Kieu, especially one who cut his teeth in nuoc mam and spent his formative years learning quoc-ngu and Truyen Kieu in Vietnam, justifiably take pride in these achievements? Would it be seemly for him to flaunt his American name, Australian dollars, Swedish passport, etc., and bask in the glory, real and imagined, that emanates from the achievements of generations past of Americans, Australians, and Swedes? My reading of MitChong exchanges indicates that most of us would answer No to these questions.

A Viet-Kieu in the US, or Australia, or Sweden is, essentially, a long-term houseguest at the home of someone who is both wealthy and smart. The home may be beautiful and comfortable, but it is not his; his forefathers did not build it; he does not own it. He can be no more proud of that home than another guest staying the night in that home. The pride in the place is properly the owner’s, not his.

As long as a Viet-Kieu is the offspring of forefathers who have helped build (or destroy) Vietnam, the pride (or imagined shame) that the name Vietnam invokes goes with him. He is not an American, an Australian, or a Swede, no matter what name he calls himself, what currency he carries, what passport he is issued with. He is Vietnamese, and cannot pretend to be somebody else.

Greatness and the Bloated Bully

The greatness of a people is also shown in what they do with their wealth once they have satisfied their basic needs, which include the needs for food, comfort, security, and freedom from fear. A great country is one that uses its wealth to satisfy the higher needs of its own people, which include the needs for belonging, esteem, knowledge, beauty and self-actualization. Furthermore, it would help other peoples who are less well off to satisfy their basic needs.

A wealthy people is not great, no matter how big their wealth, if they go all-out to devise myriad ways to meet a basic need that has already been satisfied far beyond the point of satiation. (How many pairs of shoes does a person really need?) They are not great if they fabricate new basic "needs". (Which designer shampoo would you recommend for my dogs?) And more importantly, they are not great if they use their wealth (and the attendant military might) to cajole, arm-twist or bludgeon the peoples who are less wealthy than they into unequal arrangements that would allow them to continue on their ways, merry, satiated and obscenely bloated.

Were the European countries great in centuries past, when they enslaved the peoples of Asia and Africa in the undertaking of their so-called mission civilisatrice? Are the Americans great now when they neglect the basic needs of nearly one-quarter of their own people, and bully countries all over the world on issues of the environment and trade protection?

The Shame of Ill-gotten Wealth and the Greatness of Hard-won Independence

Wealth gotten in exchange for independence is not a mark of greatness. In an individual, it is a mark of immaturity. In a people, it is mark of shame. Such wealth is neither universal nor long lasting.

A youth on his way to adulthood and a people in its struggle for independence face a similar choice: gratify the basic needs and desires now, or defer gratification in order to acquire the capacity to gratify all needs and desires at a later date. Each option carries its own rewards and risks, but the rewards of instant gratification are puny and fleeting while the risks permanent and fatal.

A person who wants to have fancy clothes, flashy cars and the fun of female companionship during his formative years would cut back on his academic and professional training. Very likely, he would get a job that does not require much training, but does not provide much income and opportunity for professional growth either. Worse, that youth may forgo the training altogether to get any kind of income, legal or illegal. In all likelihood, he would end up as a jobless adult, heavily dependent on material support from the state and charities, and with little control over what life may bring him.

A people that wants to enjoy plentiful food, good housing, beautiful clothing, and all the creature comforts, while they are confronting a foreign power bent on subjugating them, would shy away from the challenges and sacrifices of armed resistance. And these are many and all too real: wearing rags, living in caves and jungles, enduring hunger and thirst, diseases and sickness, facing imprisonment and death. Such people would yield to the will of the foreign power.

In exchange for the compliance, the foreign power would institute and sustain a political and economic system that gives the ruling oligarchy the good life, that is, plentiful food, good housing, beautiful clothing, and all the creature comforts. It would accord the ruling oligarchy all the pomp and circumstance, all the rites and rituals of office that would help create the image of a sovereign state. It would also give the urban middle class a taste of the good life to keep them quiet and complacent. The masses of this country would get little or nothing, in the short run as well as in the long run. Witness the state of affairs in Vietnam under Bao Dai and Ngo Dinh Diem and Nguyen Van Thieu.

The people of the subservient country, however, would have little control over the political and economic development of their country: Who will govern? Whom to befriend? Whom to oppose? Where to develop? What to produce? What if they want to be a political and economic power themselves? These issues are determined by the foreign power, overtly if need be and always in its own interests. What the foreign power gives, it can take away. Thus, seeking instant gratification of basic needs and desires, the people of this country have short-changed themselves. They end up not in wealth but in servitude.

The greatness of a people is, therefore, reflected in the way they answer the question: Are we willing and capable of disregarding our material needs now, and for generations to come if need be, in order to attain other values, which we regard as vastly more important? Among those values are independence, self-determination, national identity--to name just a few from our primary-school civics lessons. A puny people would say No, or not even think of raising this question in the first place. A great people would say Yes to this fundamental question. The Vietnamese have said Yes, to the face of the Chinese time and again, to the French (1945-54) and the Americans (1965-75). They, therefore, are a truly great people.

In the course of our struggles for independence, self-determination, national identity, we had to forgo material wealth for each one of us, and for the country as a whole. But these struggles implied neither a repudiation of wealth, nor a denunciation of the political, economic, and cultural institutions that have made our antagonists, be they Chinese, French, or American, such powerful and formidable opponents on the battlefields as well as at the conference table. We fought precisely because we want to create wealth and build these institutions on own terms and to serve our own interests. We just want to be masters of our own houses, which we will build with the best materials we will have assembled from diverse sources, including the cultures and civilizations of those who want to lord it over us.

This simple yet powerful truth has eluded a number of people. It has eluded US President Lyndon Johnson who wanted to buy off the Vietnamese resolve with a multi-billion dollar Mekong River Basin development aid package. (What was this guy thinking?) It has eluded the US reporters in post-doi moi Vietnam who marveled at the sight of giant billboards carrying the logos of Ford, IBM, and Coca-Cola, and exclaimed, "Look who really won the Vietnam War!" It has also eluded the Viet-Kieu who wonders whether the arrival of US companies on our shores signals willingness on the part of the Vietnamese government and people to be servants to the American masters. These people just don’t get it!

True, we also have our share of not-so-great leaders who were all too willing to trade national independence and self-determination for hollow titles (king, emperor, quoc-truong, tong-thong…) and material benefits for themselves, their extended families and their camp-followers. But the lasting truth is, throughout our history, the Vietnamese have always hold these leaders not in awe but in contempt, and always heeded the call to join the struggle for the higher values. How much respect do you have for Le Chieu Thong, Thanh Thai, Dong Khanh, Khai Dinh and Bao Dai?

A note on the creation of wealth in post-war Vietnam is in order. Anyone who is impressed by the remarkable economic recovery and growth of Germany and Japan after WWII, and of Dai-Han following the Korea Conflict is bound to feel disappointed at the extremely slow improvement of the Vietnamese economy. Twenty-five years of independence just went by and nothing to show for it! Such disappointment is justified, but one should not just put all the blame squarely on a Vietnamese economic management system that is at the same time amateurish, doctrinaire and corruptible. Germany got the Marshall Plan. Japan benefited from the Korean Conflict. Dai-Han received infusion after infusion of capital from Japan and stood to benefit a great deal from the Vietnam War. What did Vietnam get? We got a punitive embargo imposed by a US Government that wanted to play the China card no matter what principle it might sacrifice, and to exact revenge on an adversary it could not vanquish on the battlefield. The embargo cut us off from the much-needed capital infusion. More importantly, it deprived the Vietnamese political leaders and economic managers of fresh ideas on how to build a nation. As a result, they had to make do with what they got in their bags: obsolete Marxist-Leninist slogans and incantations, which they promptly put to use as economic and managerial principles.

Now, looking beyond economic wealth, a Viet-Kieu may be tempted to conclude that the Vietnamese have contributed nothing of importance to the world in the realm of ideas, from fine arts to philosophy, from literature to the humanities. As proof, he would say, we have no Nobel laureates (the Peace Prize for Le Duc Tho does not count), no winners of the Goncourt, Booker, Pulitzer prizes, etc. Not a thing! We are, therefore, a nothing country! Well, not quite! In the first place, the contributions of Western Europe and North America to humankind in the realm of ideas, while great, are not that great. Furthermore, what the Vietnamese have given to humankind is great beyond any award.

Non-Economic Wealth and the Banality of Cultural Greatness

Let’s do some debunking first. If the contributions of Western Europe and North America to humankind in the realm of ideas are deemed great, it is mainly because Western Europe and North America have been able to define what is great in culture and what is not. From being able to define greatness to claiming greatness for oneself is but one small step.

Cultural greatness comes from without. Whether the contribution from any country, ethnic group, or person, is perceived as great does not depend on the intrinsic value of the contribution alone (however intrinsic value is defined). It depends also on how many people have been exposed to that contribution and whether in the course of the exposure these people have been convinced that the contribution in question is great. Throughout the history of the world, it is the victorious and the dominant who carry out all this exposing and convincing and in the process, define what is great and what is not in culture

The colonial era is illustrative. To lend an aura of legitimacy to the claim that the colonial conquest was really a mission civilisatrice, the imperial powers of the past glorified their own culture and proclaimed its superiority over the cultures of the peoples they had conquered. To ensure the natives’ acquiescence, which would help perpetuate colonial rule, they pursued a two-pronged course of action. On the one hand, they disparaged or even destroyed outright, the natives’ cultural heritage. On the other, they propagated their own cultural achievements and artifacts, extolled the virtue of these achievements and artifacts, and drilled the perception of their greatness into the consciousness of the natives. When the natives became convinced of the cultural superiority of their masters, colonial rule was assured, because nothing guaranteed submission more effectively than the feeling of one’s own inferiority.

Thus, Imperial Britain supplanted the literary achievements of India with the works of Shakespeare, Shelley, Tennyson, Thackeray, etc., and generation after generation of Indians grew up convinced that their people have made no contribution of significance to humankind in the realm of ideas. Thus, Imperial China destroyed the cultural achievements of Vietnam, and generation after generation of Vietnamese grew up convinced that Tu Thu and Ngu Kinh represented the pinnacle of the human intellect. A few centuries later, Imperial France supplanted China and propagated the works of Moliere, Racine, Voltaire, Beaudelaire, etc. A new Vietnamese intelligentsia grew up enamored with the new ideas and modes of expression. As colonial rule progressed, the grandiloquent poetry of Nguyen Cong Tru, the expansive lyrics of Cao Ba Quat, and a whole tradition of melodramatic war literature (embodied in such works as Binh Ngo Dai Cao, Hich Tuong Si, Van Te Tran Vong Tuong Si, Van Te Nghia Si Can Giuoc) gradually became a fading or forbidden memory.

(One shudders at the thought that had the Allies not defeated the Axis in World War II, the Europeans would now have to study Hitler’s ranting and raving--aka Mein Kampf--and praise it to heaven as great political philosophy. And in the East, the peoples in Japan’s so-called East-Asia Co-Prosperity Sphere would all be taught to believe that The Tale of Genji was the greatest work of literature known to man and the haiku the greatest form of human literary expression. )

Nowadays, the victorious and the dominant peoples do not occupy other countries and enslave other peoples. However, as they own massive amounts of capital and can move them globally at will, they have been able to control the way other peoples live, work, and govern themselves. And while they do not deliberately set out to destroy other cultures, their culture overwhelms the other cultures it comes into contact with. This comes about largely because the mass media under the control of the victorious and dominant peoples produce and propagate sounds, images, and printed words that are more massive in volume, more persistent in frequency, more attractive in appearance, and more persuasive—thanks no doubt to decades of experience in manipulative advertising—than those found in the other cultures.

The indigenous culture that comes into contact with the dominant culture survives only to the extent that it can generate sounds, images, and printed words that, while indigenous and perhaps different, are recognized and eventually co-opted by the dominant culture. This is the way the victorious and the dominant peoples continue to define what is great and what is not in culture. The co-optation process used to be blatant, as in the case of Rabindranath Tagore, the first Asian to ever win the Nobel Prize in Literature. Tagore was awarded the prize in 1913, the citation reads, "because of his profoundly sensitive, fresh and beautiful verse, by which, with consummate skill, he has made his poetic thought, expressed in his own English words, a part of the literature of the West." Of late, the co-optation process has become subtle. Nigeria’s Wole Soyinka won the Nobel Prize in Literature in 1986 because he, "in a wide cultural perspective and with poetic overtones fashions the drama of existence," while Egypt’s Naguib Mahfouz won the prize in 1988 because he "has formed an Arabian narrative art that applies to all mankind."

Cultural greatness thus becomes a matter of recognition by the victorious and dominant culture. Unless a contribution is known to, and deemed great by, the victorious and dominant culture, it will languish in obscurity and even perish, no matter how significant its intrinsic value.

For someone from a non-victorious non-dominant culture, such as the Vietnamese culture, this realization is both encouraging and sobering. Encouraging because it raises the possibility that notwithstanding his own doubts, his culture might have contributed something great to humankind, and all it needs is recognition by the victorious and dominant culture. Sobering because it indicates that greatness does not just happen, but is the result of a deliberate and manipulative undertaking (to gain recognition) for which his people may not have the sense of purpose, experience and resources to carry out successfully.

A people desirous of the claim of greatness for their own culture will have to ask themselves: Do we really want greatness of this type this badly? If the answer is still Yes, then do we have the resources and experiences to present our cultural achievements in languages and formats that are intelligible and accessible to the victorious and dominant culture? (Is it any wonder that Pramoedya Ananta Toer of Indonesia became a serious contender for the Nobel Prize in Literature after his The Buru Quartet had been translated into English?) Secondly, do we have the resources and experiences to market the cultural achievements that we consider most significant rather than the specimens that appeal to the most immediate needs and tastes of the victorious and dominant culture? (Is it any wonder that Bao Ninh’s and Duong Thu Huong’s works, which portray Vietnam in a most unfavorable light, got such a favorable reception from an American public still embittered by the Vietnam debacle and still in search of some morale-boosting schadenfreude?) And finally, do we have what it takes to beg, lie, steal and otherwise network our way into private, non-profit, and international organizations that preside over the recognition and co-optation of cultural achievements from non-victorious non-dominant cultures? (How do you think we received the World Heritage accolades for the ancient town of Hoi-An and the complex of monuments in Hue from the United Nations? Do you still think connections play no role in the awarding of literary honors?)

Knowing that cultural greatness can be so banal, do we still want it? To not seek greatness of this type may turn out to be a measure of true greatness.

Christmas Day 2000 Nguyen Quoc Lap
Washington, DC, USA

Coming soon

PART 2. VIETNAM’S GIFT TO HUMANKIND

Saturday, March 1, 2014

Photo of BVLong's visit to the US:

From left to right: BVLong, Ngon, Y Nhi (Long's daughter), chi. Thanh Khe, Mai Chi, Mai Lan (Ngon's  daughter), Anne (Triet's daughter), Triet, David (Ngon's son)


Photo of Kiwi's meeting in Auckland, summer 2000

Họp Mặt Auckland 2000: Ảnh chụp tại Steamboat Restaurant

From left to right:
Standing row: Anh Võ Văn Thuận, Anh N.V. Tư, Anh Sư (Tu nghiệp y tế), Anh Lợi, Anh Long, Hưng, Biện Công Danh, Huỳnh Hữu Hân; 
Sitting row: Diane (chị Thuận), Chị Liễu, Chị Ðiệp (Chị Long), Chị Dung Burns, Dĩ An (Hưng's daughter), Từ Hiền (Hưng's wife), Chị Danh (Danh's wife), Chị Judy (Hân's wife).